“Thằng bố vợ tôi”
Gọi bố vợ bằng thằng là
điều không ai chấp nhận được. “Tứ thân phụ mẫu”, cha mẹ vợ hay cha mẹ chồng đều
phải được kính trọng, thương yêu như nhau.
Cha vợ hay cha chồng đều gọi bằng cha, bằng bố. Mẹ vợ hay mẹ chồng đều được gọi
bằng mẹ hay má, v.v… Trong luân lý nầy, người Mỹ khác với người Việt. Không
phải là cha mẹ sinh ra mình, mà cha mẹ của vợ hay chồng, họ thêm vào chữ “in
law”. Tại sao phải phân biệt cha mẹ vợ hay cha mẹ chồng?
Thế mà tôi gọi bố vợ bằng “thằng”.
Nếu người ta chưởi cho, mắng là đồ mất dạy, hổn láo, vô văn hóa cũng là chuyện
thường.
Bố vợ tôi không phải là người mất tư cách hay vô lương tâm, hay làm điều chi vô
luân bại lý mà để tôi khinh thị gọi bằng “thằng”. “Ông” là người rất hiền lành!
Thế mà một buổi sáng,
bọn tôi ba “đứa”, những “đứa” còn sót lại trong cuộc chiến tranh tàn khốc vừa
qua, nay “lưu lạc” ở xứ “Mỹ cờ hoa” nầy, ngồi uống cà-phê trong một cái quán ăn
sáng ở Orange County, quán tuy không đẹp nhưng thanh lịch, cây cỏ chung quanh
tươi mát đẹp đẽ, vậy mà Quang mắng tôi một câu nghe thật buồn cười:
-“Mày dẹp cái trò “bố bố con con” của mày lại đi. Mày, tao với nó là bạn, bạn
từ hồi còn mặc quần xà-lỏn, gọi nhau “mày mày tao tao” quen đã mấy chục năm.
Bây giờ nghe mày xưng “bố con” với nó, tao không thấy buồn cười mà thấy bực
mình, mất vui.”
Quang gọi là “nó”. Nó là bố vợ tôi đấy, là một đứa bạn trong bọn tôi đấy.
Sao gọi là “bọn tôi”?
&
Trước Hiệp Định Genève 1954 thành phố Saigon chỉ “rộng” tới cầu Trương Minh
Giảng. Bên kia cầu, còn là vùng đất hoang, lầy lội, lau sậy mọc um tùm. Vùng
đất ấy, xưa, chỉ có một xóm nhà nhỏ, của dân mò cua bắt ốc và trộm cắp. Người
ta gọi đó là “Xóm Vẹc”.
Hồi ấy, dân chúng tập trung sống ở trung tâm Saigon, còn như ai ở “Xóm Vẹc”, là
vùng ngoại ô, mất an ninh. Dân nhậu Saigon, nhà ở Xóm Vẹc, một là nhậu cho “tới
chỉ” thì ngủ lại nhà bạn. Còn như ai muốn về thì lo về sớm. Về khuya trên đường
Xóm Vẹc, không chừng bị du đảng đánh cho, bị cướp tiền bạc, bị lấy xe đạp.
Lỡ như ai đó nhậu chưa tới, nửa muốn ở, nửa muốn về, bạn bè sẽ có người bảo:
“Thôi để cho ông ấy về, đường khuya nguy hiểm”.
&
Thế rồi cả triệu người di cư năm 1954. Ai gốc nông dân, người ta định cư ở vùng
nông thôn, dinh điền, khu trù mật… tiếp nối cái nghề tổ tiên để lại. Ai dân Hà
Nội hay thành phố ở ngoài Bắc, không quen làm ruộng thì tập trung ở Saigon hay
các thành phố khác phía nam vĩ tuyến.
Không còn đủ đất ở trung tâm Saigon, nên thủ đô miền Nam phình rộng ra.
Ngay xứ tôi ở, Xóm Vẹc ngày xưa, nay dân di cư tập trung đông đúc. Từ phía đầu
cầu Trương Minh Giảng, lên tới “Lăng Cha Cả” là chỗ người Bắc định cư. Những
khu vực được nhiều người nhắc tên mới là “Xóm Bùi Phát”. Có phải họ gốc Bùi
Chu/ Phát Diệm? Nhà Thờ Ba Chuông, Cư Xá Đô Thành.
Nhà Thờ, Chùa và Chợ
theo dân mà mọc lên.
Lăng Cha Cả ở cuối đường
Trương Mình Ký, ngày xưa vắng vẻ, quạnh hiu, nay thành nơi đô hội. “Cái nhà
lăng” kiểu xưa, ngói âm dương, cột kèo cũ kỷ nằm chơ vơ, xa lạ trước những ngôi
nhà lầu cao vài ba tầng, kiểu mới, hiện đại.
Bọn tôi, cũng gốc “rân ri-cư”, – như chúng tôi thường gọi đùa chính mình -, từ
năm lên năm, lên mười, lớn lên ở cái “Xóm Vẹc” thời xa xưa ấy. Tên đường Alfred
Eyriaud Des Vergnes đổi thành đường Trương Minh Giảng, nối dài tới cuối đường,
chỗ gần tới cổng Bộ tổng Tham Mưu Quân Đội VNCH là đường Trương Minh Ký.
Chúng tôi bỏ không gọi Xóm Vẹc mà gọi theo những cái tên mới, xuất hiện cùng
thời với dân di cư đến định cư ở đây. Tên “Xóm Vẹc” biến mất hồi nào mà không
ai hay! Tội nghiệp hay không tội nghiệp cho một ông Tây tên Vẹc, một ông “thực
dân”?
Bọn tôi không dưới năm đứa, không quá mười tên, học tiểu học với nhau, đầu tiên
ở cái trường tư trong xóm, do một ông giáo già người Bắc di cư, nay đã nghỉ
hưu, mở lớp dạy tư tại nhà. Một phần là vì chính phủ chưa kịp mở trường cho dân
di cư, một phần, học ở đây thay vì phải vào thành phố.
Học ở “Trường Xóm”,
chúng tôi khỏi phải đi xa, xe cộ bất tiện, tai nạn nguy hiểm. Học gần nhà, bố
mẹ dễ “kiểm soát”, lại có ông thầy già nghiêm khắc, bọn chúng tôi bớt hoang
nghịch.
“Trường Xóm” của chúng tôi nó tương tự như trường của mấy ông đồ ngày xưa ở
làng quê: Học trò đủ hạng tuổi, đủ hạng lớp… Kể theo cách ngày trước, thấp nhất
là lớp Năm. Lớp nầy đông nhất, trên hai chục “đứa”. “Đứa” là học sinh nhỏ đấy.
Rồi đến lớp Tư, học sinh ít hơn. Lớp Nhất là ít nhất, chỉ có mấy “anh”. “Anh”
cũng là học sinh, nhưng lớn tuổi hơn bọn tôi, nên phải gọi bằng “anh” cho “phải
phép”. Lớp nầy thầy dạy kỹ lắm vì năm tới phải thi vô trường công, khỏi học
trường tư. Trường tư phải đóng học phí. Không kịp đóng học phí, học sinh sẽ bị
đuổi học, về nhà xin tiền đóng tiếp để được học tiếp. “Tiên “học phí”, hậu học
văn”. “Trường tư” thường bị mang tiếng kinh doanh hơn giáo dục. Nhưng không
đóng học phí, tiền đâu trả lương cho thầy?!
Được mấy năm, ông thầy già qua đời. Nghề làm thầy giáo mà: “Tổn lắm”. Bố tôi
thường nói vậy. Mẹ tôi bảo làm thầy giáo “dễ bị ho lao”. Người đời thì bảo là
nghề “bán cháo phổi”. Ông thầy già, sức yếu, lại nhiều năm gian khổ, dù không
bị bệnh lao, ông vẫn qui tiên sớm là chuyện thường.
Ổng chết rồi, bọn chúng tôi vẫn nhớ ông, và thương ông nữa, bởi ông có một điều
đáng quí: Tận tâm với bọn trẻ chúng tôi, mặc dù chúng tôi vẫn ngán cây roi mây
của ông, một là để thầy nhịp nhiều lần trên mặt bàn, nhắc chúng tôi im, không
được nói chuyện, phải học bài làm bài chăm chỉ, và cũng “phết vào đít” thằng
nào đó, cái tội nghịch trong giờ học hay đánh lộn ngoài giờ.
Ông thầy già qua đời rồi, trường “Xóm Vẹc” của tôi đóng cửa. Không ai nối
nghiệp ông ở cái xóm mới định cư nầy.
Chúng tôi xuống học lớp
Nhất ở một cái trường tư khác, trên đường Kỳ Đồng, của “ông cha nhà thờ”.
Trường có lớp nầy lớp kia đàng hoàng, nhưng bọn học trò chúng tôi thì không
đàng hoàng. Sau giờ học, có khi bỏ cả giờ học, chúng tôi leo “Xe Buýt Đỏ”, loại
nầy vừa thay cho “Xe Buýt Vàng”, để chui vào Sở Thú chơi.
Ông tuyệt vời! Những buổi lang thang trong Sở Thú. “Làm học trò nhưng không
sách cầm tay! Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ” Ông nhà thơ Đinh Hùng nói chỉ
đúng có một nửa, vì chúng tôi “Có tâm sự” gì đâu!?
Tới giờ, lo tìm về cho
đúng giờ để “ông bô bà via” của chúng tôi vẫn nghĩ chúng tôi là những đứa học
trò ngoan.
Lên Trung Học, mỗi đứa chúng tôi xa nhau hơn. Đứa vào trường công, đứa vào
trường tư. Gần thì Huỳnh Thị Ngà ở Xóm Chùa, vào Huỳnh Khương Ninh ở Đa-Kao,
đứa xa hơn, Hưng Đạo, gần đường Trần Hưng Đạo.
Bấy giờ thì tình hình Saigon “vui lắm”. Biểu tình, đá đảo, hoan hô, tuyệt thực,
tự thiêu, đảo chánh, “biểu dương lực lượng”… xảy ra đều đều, tháng nào cũng có
hay mỗi năm, năm bảy bận. Cũng có khi chúng tôi đi biểu tình “cho vui”, cho đời
thêm “màu sắc”
Đậu tú tài, được vô đại học; nhưng chiến tranh đã gần kề. Súng không còn nổ ở
Bình Giả, Đắk-Tô, Ban-Hét… “xa tít mù khơi” nữa mà gần kề hơn, có khi ngay tại
Saigon. Việt Cộng gài lựu đạn, mìn, khủng bố. Thế rồi chúng tôi lần lượt vô
quân trường lúc nào mà ngay chính mình cũng không nhớ tới nữa.
Tới tuổi rồi, không đi
sao được. Với lại, mấy ông thầy đứng trên bục giảng làm chúng tôi “hứng chí”
không ít: “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”.
Chúng tôi bỗng thấy “gần
gũi” với màu áo lính trận, màu xanh cây rừng, màu hoa dù, màu rong biển…
Vài bữa đi học về, nghe bố mẹ hay ai đó trong gia đình nói: “Thằng X. đi Võ Bị
rồi!” Rồi lại: “Thằng Y. vô Không Quân”, rồi lại “Thằng Z. đi Nhảy Dù”, “Thằng
T. đi Biệt Động Quân”. Biệt Động Quân là cọp “Ba Đầu Rằn” đấy.
Một hôm, gặp “Thằng bố vợ tôi”, sau nầy. Nó bảo: “Tao đi Quân Cụ”. Tôi ừ, nghĩ
“Lớ ngớ như mày, ra đơn vị tác chiến, “bỏ mạng sa tràng sớm.” Nói thì nói vậy,
chứ đời chưa hẳn vậy. “Đơn vị không tác chiến, có khi bỏ mạng sớm, còn như ai
đánh giặc ngày nầy qua tháng khác, lại sống nhăn.
Thế rồi có đứa hy sinh, có đứa bị thương, thành thương binh, có đứa bị Việt
Cộng bắt.
Trong bọn tôi, tôi là người bị bắt sớm nhất, tù Việt Cộng sớm nhất. Năm 1971,
tôi bị chúng nó bắt ở Hạ Lào. Những đứa còn lại, đều thua tuổi tù tôi những 4
năm. Sau Ba mươi tháng Tư, chúng nói mới lục tục kéo nhau “trình diện”, “đóng
tiền đi ở tù”. Xem ra, tôi là “tù trưởng” của bọn chúng.
Từ Hạ Lào, Việt Cộng đưa “bọn tù binh chúng tôi” ra Bắc. Năm ký Hiệp Định
Paris, tưởng chúng tha về, như các tù binh khác, nhưng không thấy động tĩnh gì
cả. Sau nầy mới biết, khi Chính Phủ VNCH yêu cầu thả chúng tôi ra, bọn Việt
Cộng nói chúng tôi bị bắt ở Lào là do Pathet Lào giam giữ, chúng nó không có
trách nhiệm.
Miệng lưỡi Cộng Sản, ghê
gớm thật!
Mãi tới 16 năm sau, tôi
mới “được tha ra khỏi trại cải tạo”. Đó là câu ghi trong cái gọi là “Lệnh Tha”.
Sau 16 năm tù, về lại
xóm cũ thấy quạnh hiu. Quạnh hiu là ở lòng người! Nhà cửa thì vẫn thế, không
thay đổi gì nhiều. Người tuy đông mà vắng vẻ. Thế hệ cha ông chúng tôi, hầu như
“qui tiên” hết cả rồi. Thế hệ tôi thì cũng tan tác. Mười phương tám hướng chúng
nó đi hết: Vượt biên, kinh tế mới, về quê làm ruộng, đi làm ăn xa. Bọn trẻ lớn
lên, nhiều đứa nhìn tôi xa lạ. Tôi xa nhà đã hơn hai mươi năm. Những đứa ngày
tôi ra đi, nay hơn hai chục tuổi, làm sao chúng biết tôi là ai?
&
Khi tôi đạp chiếc
xích-lô ngang cổng nhà người bạn cũ thì một cô gái khoảng hai mươi tuổi, tất tả
từ trong nhà chạy ra, tay xách, tay mang, gọi ơi ới:
-“Chú Đức, chú Đức, chở
cháu đi với.
Tôi dừng xe lại chờ.
Ra tới nơi, cô gái hỏi:
-“Chú đưa cháu qua chợ
Hòa Hưng được không? Cháu đi gấp, sợ trễ.”
Tôi hỏi:
-“Cô muốn đi đường nào?
Qua ngã Tân Sa Châu hay lên Thoại Ngọc Hầu. Đi ngã Tân Sa Châu ngắn hơn.”
-“Đường Tân Sa Châu xấu
lắm. Lên Thoại Ngọc Hầu dễ đạp hơn.”
Cô gái ngồi lên xe xong,
tôi nghiêng mình lấy đà đạp xe đi.
Một chốc, cô gái hỏi:
-“Chú ăn gì chưa?”
-“Dân Saigon không ăn
sáng, chỉ uống càphê thôi. Trưa mới ăn.”
-“Buổi trưa chú ăn ở
đâu?”
-“Không chắc ở đâu,
ngang đâu tấp đấy, miễn no với rẻ thì thôi.”
-“Khổ nhỉ? Chốc nữa chú
uống càphê với cháu. Có chỗ nầy càphê ngon lắm.” Cô gái nói.
-“Cô sợ trễ mà?” Tôi
hỏi.
-“Một chút không sao!”
Cô ta trả lời.
Một lúc cô ta hỏi:
-“Chú đạp xe từ hồi
nào?”
-“Cải tạo về tới giờ!”
Tôi trả lời.
-“Sao gọi là cải tạo? Tù
chớ.” Cô gái cải chính.
-“Với ai quen mới gọi
tù. Lỡ gặp cán bộ, gọi tù nó phê bình đấy!” Tôi nói.
-“Ối giời! Bây giờ ai
còn ngại gì nữa. Cán bô, Công An cũng như mình thôi, kiếm ăn cả. Cứ theo “Chính
sách đường lối” thì lấy gì sống!” Cô gái trả lời.
Lại một lúc, cô ta nói:
-“Bố cháu cũng tù về đấy!
Chú biết không?”
-“Biết sao không? Ông ấy
là bạn với tôi từ hồi còn nhỏ đấy! Bố cháu cũng đỡ vất vả. Mẹ cháu và chị em
cháu đảm đang. Ông ấy chỉ giúp vợ việc lặt vặt.”
Tôi nhới tới Hiền. Có lẽ
là bố cô gái. Nó hiền đúng như tên nó. Dù có lính lác như tôi, nhưng nó ít gian
khổ hơn nhiều. Nghĩ thế, tôi nói:
-“Ai có gia đình cũng
đỡ. Tôi tù về thì không còn ai!”
-“Cháu biết, hàng xóm
mà! Người trong nhà chú lần hồi đi cả. Mấy anh lớn chị lớn vượt biên. Ông cụ
qua đời, ít lâu bà cụ cũng đi theo. May họ chưa lấy nhà, nhờ bà cô già.”
Quả thật khi tôi tù về
thì nhà không còn ai, chỉ còn bà cô già, chị của bố tôi. Bà ở góa từ khi còn
trẻ, không chồng con gì cả. Trước 1975, bà vô chùa. Sau đó, thấy bố mẹ tôi cô
quạnh, cô bỏ chùa về săn sóc, cơm nước cho bố mẹ tôi. Bố mẹ tôi mất rồi, Việt
Cộng tính lấy nhà vì bà là chị bố tôi, chúng nại cớ bà không có quyền thừa kế,
thì tôi về. Cũng may, còn được căn nhà che mưa nắng, không thì ngủ gầm cầu.
Trong khi uống càphê, cô
gái hỏi:
-“Hồi còn trẻ sao chú
không lấy vợ như ba cháu?”
-“Lấy vợ sao được? Ba
cháu ở “đơn vị không tác chiến”, có “chữ thọ”, lấy vợ không lo gì, chớ như bọn
tôi, hành quân “mút mùa Lệ Thủy”, có ở nhà đâu. Với lại: “Lỡ khi mình không
về thì thương người vợ chờ…”
-“Chú cũng thơ thẩn dữ!”
Cô gái cười nói.
-“Thơ người ta! Với lại,
hồi đó chương trình Việt Văn thơ văn nhiều lắm. Bọn tôi phải học Chinh Phụ
Ngâm.”
-“Cháu học sau “giải
phóng”, chẳng biết gì hết! Cháu có nghe nói Chinh Phụ Ngâm, nhưng có biết gì
đâu!”
-“Đó là bản dịch của bà
Đoàn Thị Điểm. Hay lắm. Tôi nghe ông thầy giảng mấy lần câu “Cổ lai chinh
chiến địa, kỷ kiến hữu nhân hồi”, nên khi đi lính rồi, ngại tính việc lấy
vợ.” Tôi giải thích.
-“Câu chú đọc nghĩa như
thế nào?” Cô gái hỏi.
-“Những người đi chinh
chiến, ít thấy trở về!” Tôi nói lại theo lời thầy giảng ngày trước.
-“Đang đánh nhau với
ngoài kia, mà lại dạy cho học trò như thế, cháu thấy có mâu thuẫn đấy!” Cô ta
nhận xét.
-“Dĩ nhiên! Nhưng mà đất
nước tự do, không cấm được. Đi lính là bổn phận, không lý không cần tới văn
chương!” Tôi nói.
Cuối cùng, trước khi đi
tiếp tới chợ, cô ta nói:
-“Nói chuyện với chú vui
đấy! Hay cứ mỗi sáng, chú đưa cháu sang chợ. Cháu khỏi lo trễ chợ, chú cháu
mình lại uống càphê. Tiền xe cháu tính đủ cho chú.”
-“Được thôi! Tôi chạy
một ngày sao cho đủ mua gạo với rau muống là đủ, về nghỉ. Thành ra cũng thoải
mái.”
Vậy rồi, mỗi ngày, tôi
đưa cô ra ra chợ. Quen dần, chiều lại thêm một “cuốc”, đón cô ta về.
Công việc cứ thế diễn ra
gần nửa năm. Trong khoảng thời gian đó, vì cùng xóm, có lần cô ta vào nhà thăm
tôi, xem tôi ăn ở như thế nào, và bày tỏ vài ý kiến về cảnh sống của tôi: Đàn
ông không vợ, sống với bà cô già. Bà cô đã già, nấu cơm bằng củi, khi chín khi
khê, áo quần tôi lâu ngày không giặt, treo trên vách, thúi hoắc mồ hôi…
Vì vậy, một lần cô ta
hỏi tôi:
-“Chú Đức! Sao chú không
lấy vợ đi?”
Tôi thành thật nói:
-“Ai chịu làm vợ tôi bây
giờ? Cô thử nghĩ đi!”
Một lúc tôi lại nói:
-“Nửa đời nửa đoạn, trẻ
không còn trẻ, già cũng chưa già hẳn.” Rồi tôi đọc nhại câu ca dao “Lấy ai
ai lấy bây giờ lấy ai!” Trẻ thì họ không thể lấy tôi, ít ra tôi cũng lớn
hơn vài chục tuổi. “Nửa đời hương phấn” thì “có đũa có đôi.” Còn lại thì có ai
đó góa chồng mà tay dắt tay bồng:“Em tay bế tay bồng”, đâu phải “người
yêu năm cũ” để mà “thương thiếu phụ bên sông!”
-“Hồi ấy chú không có
người yêu?” Cô ta hỏi.
-“Vâng! Tôi nói rồi! Sợ
người ta “Góa phụ ngây thơ!”
-“Hồi ấy tại sao chú đi
lính?” Cô ta lại hỏi.
-“Ai cũng đi thì mình
đi. Tôi có anh bạn cùng ở Dù. Anh nó quá ba mươi, đang dạy học, bỗng tình
nguyện đi lính?” Tôi nói.
-“Không được miễn lính
à?”
-“Có đâu! Mậu Thân ở
Huế, ông người Huế – thấy học trò mang khăn tang nhiều quá nên ông bỏ dạy đăng
lính. Có vợ con rồi đấy.”
-“Bây giờ mà chú không
lấy vợ, cháu cũng không lấy chồng!”
-“Sao kỳ thế?” Tôi ngạc
nhiên hỏi.
Cô ta chưa kịp trả lời
thì xe đã tới chợ. Cô ta xuống xe, quày quả vào chợ!”
&
Thế rồi ngày ngày qua
đi…
Một hôm, tôi gợi chuyện:
-“Mấy bữa nay, tôi cứ
suy nghĩ hoài! Tại sao cô nói cô không lấy chồng.”
-“Chú nghĩ coi! Đời bây
giờ có anh thanh niên nào vừa mắt mình để lấy làm chồng! Con gái phải có “thần
tượng” chứ! Cháu lớn lên, thế hệ chú và ba cháu qua rồi, vô tù hết cả rồi.
Nhưng hình ảnh những người lính thời đó, vẫn còn lại trong lòng cháu. Cháu thấy
thích và ngưỡng mộ khi nghĩ đến họ. Còn như đời bây giờ…” Cô ta bỏ lửng câu
nói.
-“Bây giờ thì sao?” Tôi
giả bộ hỏi.
-“Bây giờ, thời bình,
cái hào hùng của người lính không còn nữa. Giữa cái hổn độn xã hội bây giờ,
cháu biết tìm ai?” Cô ta tâm sự.
-“Cũng có người cho cô
vậy!” Tôi an ủi.
-“Khó lắm chú à! Thanh
niên bây giờ, muốn kiếm sống, phải lo chạy mánh.”
-“Cô cho chạy “mánh” là
không đứng đắn sao?” Tôi hỏi.
-“Mánh là mánh mung.
Mánh mung thì làm người đứng đắn thế nào được?” Cháu lấy một anh chạy mánh làm
chồng sao?” Cô gái than thở.
-“Gắng tìm một người
không chạy mánh mà chọn làm chồng.” Tôi nói.
-“Khó lắm chú à! Ai cũng
phải chạy mánh hết, ai cũng phải mánh mung để kiếm sống! Muốn sống, buôn bán
như cháu cũng mánh. Lấy một công nhân, viên chức, muốn sống cũng chạy mánh.
Mánh với mọi người, riết rồi vợ mánh với chồng, chồng mánh với vợ. Vợ chồng coi
như xong.”
-“Đó là cách “quản lý xã
hội” của họ đấy. Ai cũng phải có một cái gì đấy, để chính quyền coi như cái án
treo, khi cần thì cho vào tù cho dễ.”
-“Kinh thật chú nhỉ?
Thành ra cháu không thể lấy chồng, đành chịu vậy!”
Lại đến chợ! Cô ta quày
quả vào chợ.
Thế rồi ngày ngày qua
đi…
Một hôm cô ta hỏi tôi
một câu, tôi cho là “động trời!”
-“Cháu muốn chú cưới
cháu làm vợ!”
Tôi lặng người đi, vừa
kinh ngạc, vừa lạ lùng. Tôi hỏi:
-“Tại sao cháu nói thế?”
-“Không phải cháu muốn
đi HO với chú. Gia đình cháu cũng chuẩn bị đi HO như chú. Không lấy chú, không
đi HO với chú, cháu đi với ba mẹ cháu. Cháu muốn chú cưới cháu vì suy đi tính
lại, cháu chẳng thấy ai hợn.”
-“Tại sao cháu nghĩ thế?
Tuổi tác xa nhau quá mà!”
-“Hai chục tuổi mà xa
gì. Đàn bà mau già lắm. Mẹ cháu nói vậy. Cháu sinh vài đứa con, coi như cháu…
già bằng chú. Vả lại tình yêu chú à! Cháu nghĩ cháu cũng có thể yêu chú vậy.
Cháu có đọc sách Chu Tử. Tình yêu không cần tuổi tác.”
-“Chú nghĩ cháu không yêu
chú! Cháu chỉ thương hại!”
-“Ba cháu nói người Việt
giàu tình thương. Cha mẹ, vợ chồng, anh em, bà con, tất cả đều bắt đầu bằng
tình thương. Ngày xưa, không yêu nhau mà lấy nhau, người ta thương nhau, rồi
yêu nhau. Sau nầy người ta đổi chữ đấy chú à!” Cô gái nói.
-“Đổi chữ là sao?” Chú
chưa hiểu.
-“Ba cháu nói hồi xưa ít
dùng chữ “yêu” mà thường nói chữ thương. “Thương nhau cởi áo cho nhau…”
Chớ đâu phải “Yêu nhau…” Yêu nhau là nói theo cách bây giờ. Xưa là “Thương
nhau…” Ba cháu nói bản “Nắng chiều”, chú nhớ không? In đầu tiên, ông nhạc sĩ
viết “Lạnh lùng nhìn anh, em nói “mến” anh.” Mà không viết “yêu anh”.
Sau nầy người ta hát “yêu anh” là sai đấy! Phải không?” Thành ra, cháu có
“thương hại” chú, rồi có… “yêu chú” cũng không có gì lạ cả. Con người ta, căn
bản là tình thương, không phải tình yêu. Ba cháu giải thích
“thương” là cho mà không đòi lại. Yêu là cho mà đòi lại. “Yêu rất nhiều song
chẳng nhận bao nhiêu.”
-“Cô sâu sắc đấy!” Tôi
nói.
-“Không phải đâu! Ba
cháu giải thích cả đấy!”
-“Cóc mở miệng,” (Thằng)
đó mà nói là như “Cóc mở miệng”. Nói xong, tôi thấy ngại. Tôi lỡ lời, gọi bố cô
ta bằng “thằng”.
Một chốc, tôi nói:
-“Nhưng chú thấy ngại
quá! Làm sao chú có thể mở miệng xin cưới cháu với bố mẹ cháu được?”
-“Chú đừng lo! Cháu sẽ
nói. Cháu mở đường xong thì chú tiếp tục… rán mà đạp xe xích lô.” Cô ta nói nửa
đùa nửa thật.
&
Thế rồi “thằng” ấy trở
thành bố vợ tôi.
Tôi rất thương vợ, và
kính trọng bố vợ như cô ta kính trọng cha mẹ cô ta vậy. Ở địa vị người rể, tôi
gọi thằng bạn thân ấy là “bố” và xưng “con” như vợ tôi vậy!
Rắc rối là từ khi qua Mỹ
rồi, cùng ở Orange County, lại cũng đã già, “đất khách quê người”, tình bạn cũ
càng thêm khăng khít nên ít nhất, mỗi tuần, sáng Chủ Nhật, cả bọn năm bảy đứa,
họp nhau uống cà-phê ở một quán quen, để kể chuyện cũ, vui đùa, chọc quê nhau,
một phần vì bạn với nhau từ khi thơ ấu, một phần, cũng “quen đời lính” “lúc nào
cũng vui đùa” để quên bớt… súng đạn. Đúng là thói cũ khó chừa.
Cũng rắc rối là cái
thằng Quang. Ngồi chung một bàn, quen như ở nhà, – vợ chồng tôi ở chung với bố
mẹ vợ – nên cứ quen miệng “bố bố, con con” khiến thằng Quang chưởi tôi không ít
bận, cho là gai tai nó. Tôi bỏ “họp mặt” mấy lần, khiến bọn nó nhắc hoài.
Hôm qua, Lộc gọi cho
tôi:
-“Ê! Đức, mai chủ nhật,
mày vắng mặt là tụi nó chưởi cho đấy!”
-“Nhưng tao…” rồi tôi
ngập ngừng.
Lộc nói:
-“Mày sợ thằng Quang chớ
gì. Thằng chó “đập chó không ngó đằng sau”. Tù về, nó mới lấy vợ. Vợ nó
trước kia góa chồng, tử trận, để lại hai con, lớn hơn nói ba tuổi. “Trai tân
lấy gái nạ dòng”, có ai nói gì đâu!”
Thế là tôi thủ sẵn “vũ
khí”.
Ngày hôm sau, đang ngồi
cười đùa vui vẻ, thấy tôi “bố bố, con con” với bố vợ, Quang nói:
-“Mày dẹp cái “trò bố
con” của mày lại đi. Tao gai quá!”
Tôi phản pháo ngay:
-“Nói thật với mày. Tao
thương vợ nên gọi “nó” bằng bố. Mày có thương vợ mày không? Nếu mày thương vợ
thì mày gọi vợ mày bằng “Chị” hay bằng “Em? Mày nói “Em yêu chị” hay “Anh yêu
em”. Trả lời đi!”
Cả bọn cười ồ.
Vậy là coi như xong một
màn “Hài kịch thời đại”!
hoànglonghải
No comments:
Post a Comment