Saturday, May 2, 2020

Vũ Linh 123: Cụ Biden và Vấn Đề Việt Nam


    Vũ Linh 123: Cụ Biden và Vấn Đề Việt Nam
      (May 2, 2020)

Cụ Biden coi như đã đắc cử làm đại diện cho đảng DC ra tranh cử tổng thống chống lại TT Trump. Dĩ nhiên, trong chính trị Mỹ chẳng có cái gì là chắc chắn, cho đến khi chuyện xẩy ra rồi thì mới là chắc chắn.
Cụ Biden đang bị rất nhiều chống đối ngay trong chính nội bộ đảng DC vì nhiều lý do, là chuyện chúng ta sẽ có dịp bàn qua trong một bài sắp tới. Dù sao thì những vấn đề đó cũng là những vấn đề của dân Mỹ gốc… Mỹ. Riêng đối với dân Mỹ gốc tỵ nạn Việt, cụ Biden có một vấn đề khác, mà là vấn đề RẤT LỚN, mà chúng ta cần xét cho kỹ. Cũng là chuyện đáng nói trong ngày 30/4 đen tối này.
       Đó là vai trò của cụ Biden và đảng DC trong việc trước và sau khi ta mất nước.
Trước hết, DĐTC xin trích dẫn lại vài đoạn của một bài viết cũ đã được đăng trên diễn đàn này năm ngoái, gọi là nhắc lại chuyện cũ để hiểu chuyện đang bàn, với vài sửa đổi nhỏ. [Xin đọc lại BÀI 70: CÁC TỔNG THỐNG MỸ VÀ VIỆT NAM (Phần II)]
TT Johnson, dân ‘cao bồi’ Texas thứ thiệt, chủ trương cứng rắn hơn TT Kennedy. Ngay từ đầu, ông muốn tiếp tục hậu thuẫn TT Diệm, chống lại mọi đề nghị đảo chánh, chống ngay cả những áp lực đẩy cố vấn Nhu ra ngoài vòng quyền lực. Ngay sau khi nhậm chức, ông đã muốn can dự mạnh, nhưng vì phải ra tranh cử cuối năm 1964, nên phải dè dặt, tuyên bố sẽ không cho “thanh niên Mỹ chết trong đồng ruộng Á Châu” và đả kích mạnh thái độ ‘diều hâu’ cực đoan của ứng cử viên CH, ông Barry Goldwater.
Sau khi đắc cử, ông mau mắn lật ngược chính sách, can thiệp mạnh vào Nam VN, nhất là sau khi tình hình VN suy xụp mau chóng qua các ‘chỉnh lý’ không ngừng của các tướng lãnh.
TT Johnson quyết tâm sẽ không là tổng thống Mỹ đầu tiên thua trận hay bỏ rơi đồng minh. Ông là người chịu trách nhiệm mang hơn nửa triệu quân Mỹ vào VN, ‘chiếm’ quyền trực tiếp điều hành cuộc chiến với những hậu quả tốt cũng như xấu. Tốt vì hiển nhiên đã cứu miền Nam khỏi một đại bại ngay từ những năm 65-66 khi quân lực VNCH gần như tan hàng vì những chỉnh lý của các tướng, chỉ lo đánh lẫn nhau chứ không lo đánh VC nữa. Xấu vì đúng như TT Eisenhower và TT Diệm đã lo ngại, việc Mỹ can thiệp trực tiếp quá mạnh đã khiến VNCH mất chính nghĩa, tặng cho VC một vũ khí tuyên truyền vô giá là lính da trắng đế quốc Mỹ chỉ là đến thay thế lính da trắng thực dân Pháp thôi.
Chính sách của TT Johnson tiêu biểu cho chính sách đối ngoại cũng như quân sự của các tổng thống của đảng DC: bao đồng muốn can dự đủ chuyện trên thế giới, nhưng lại nhát tay, vừa đánh vừa run, khi đó vì sợ TC nhẩy vào. Khi TT Johnson được mật báo có cả 300.000 ngàn lính TC ở BV, giúp giữ an ninh cho BV trong khi BV gửi hết lính vào Nam, ông tiếp tay TC và VC dấu nhẹm tin này vì sợ đụng độ lớn với TC.
TT Johnson không ra tranh cử lại, đảng DC đưa PTT Hubert Humphrey ra chống lại cựu PTT Richard Nixon. Ông Nixon thắng.
Ông Nixon khi ra tranh cử bảo đảm ông đã có “kế hoạch bí mật” để chấm dứt chiến tranh VN. Sau này, kế hoạch bí mật đó được bật mí và mọi người thấy đó là giải quyết cuộc chiến VN bằng cách nói chuyện thẳng với các đàn anh đang đỡ đầu VC là Liên Xô và Trung Cộng, trao đổi quyền lợi dựa trên tính toán địa chính trị toàn cầu, cố tạo một thế ‘Tam Quốc’ tân thời trên thế giới với Liên Xô và Trung Cộng, trong khi chỉ điều đình với VC về chi tiết đình chiến, rút quân, và trao trả tù binh.
Theo TT Nixon, cuộc chiến VN là một vi khuẩn vĩ đại gây phân hóa không hàn gắn được trong xã hội và chính trị nội bộ Mỹ, làm tê liệt tất cả mọi chương trình nội bộ hay ngoại giao của Mỹ. Chưa kể tốn kém quá mức về tiền bạc và nhất là sinh mạng thanh niên Mỹ. Mà lại không thấy ánh sáng cuối đường hầm khi khối CS quốc tế vẫn kiên trì giúp VC và VC nghiến răng thí mạng cùi tới cùng. Chiến lược đường dài của TT Nixon là điều đình trên đầu VC, tức là điều đình thẳng với Liên Xô và TC để hai xứ đàn anh này ép CSBV chấp nhận một giải pháp nào đó mà sẽ không có bên nào thắng bên nào thua, chấm dứt chiến tranh VN 'trong danh dự' theo mô thức Triều Tiên, duy trì tình trạng hai miền trong khi chờ đợi thống nhất có thể cả mấy chục năm sau.
TT Nixon sai lầm và thất bại vì ông đã không tính trước được quyết tâm mù quáng đánh đến cùng của CSBV, sự chống đối quá mạnh của đối lập DC và nhất là không tính sẽ có vụ Watergate.
Đảng DC thất bại với TT Johnson nhất quyết không cho ông CH Nixon thành công. Trong suốt thời gian nắm quyền, ông Nixon đã gặp phải chống đối tuyệt đối của phe đối lập DC và TTDC thiên tả không khác gì chuyện chống Trump ngày nay, chưa kể hàng vạn người xuống đường biểu tình liên tục cả mấy năm trời. Chỉ trong 4 năm nhiệm kỳ đầu (1969-1972), TT Nixon đã bị quốc hội DC biểu quyết hơn 80 lần, trung bình 3 tuần một lần trong suốt 4 năm liền, đòi TT Nixon chấm dứt can dự vào cuộc chiến.
Tháng Chạp 1969, Thượng Viện DC thông qua luật Church-Cooper cấm triệt mọi hoạt động quân sự -hành quân hay dội bom- trên lãnh thổ Lào. Đường mòn HCM được các nghị sĩ DC Mỹ bảo đảm an toàn tuyệt đối, cho phép VC sửa thành… ‘xa lộ HCM’.
Tháng 6, 1970, Thượng Viện DC thông qua tu chính Church-Cooper cấm chính quyền Nixon không được chi một đồng nào cho cuộc chiến tại Căm-Pu-Chia, cấm gửi lính qua hay đánh bom xứ này luôn. Đến phiên các mật khu VC trên đất Căm-Pu-Chia được Thượng Viện DC Mỹ bảo đảm an toàn. VC di chuyển bộ tư lệnh “R” từ Nam VN qua Căm–Pu-Chia.
Năm 1973, lấy cớ Hiệp Định Paris đã ký, TNS Church lại cho thông qua luật mới cắt hết mọi viện trợ quân sự cho ba nước Việt-Miên-Lào. QLVNCH hết nhận được viện trợ quân sự. Cũng năm 1973, quốc hội thông qua luật War Power Act, Quyền Tham Chiến, bắt tổng thống phải xin phép quốc hội nếu tham gia bất cứ cuộc chiến nào quá 3 tháng. Vì Hiệp Định Paris đã chính thức chấm dứt chiến tranh VN về phiá Mỹquyết nghị Tonkin Resolution năm 1964 của lưỡng viện quốc hội cho phép tổng thống đánh CSBV hết giá trị. Nếu Mỹ trở lại VN thì sẽ coi như mở đầu một cuộc chiến mới, phải có sự chấp thuận mới của quốc hội do DC nắm đa số tại cả hai viện.
VNCH bất lực nhìn VC chuyển quân và súng đạn ào ạt vào Nam VN qua đường mòn bây giờ đã thành xa lộ HCM. TT Nixon muốn đánh bom, nhưng bị vướng xình lầy Watergate, không đủ hậu thuẫn chính trị để vượt qua luật Church-Cooper hay được quốc hội cho phép lại.
TT Nixon cố gắng tìm một giải pháp để VNCH có thể tồn tại lâu dài, qua những cuộc dội bom Căm-Pu-Chia, đánh thẳng qua Căm-Pu-Chia, và nhất là những cuộc dội bom trên Hà Nội mùa Giáng Sinh 72, nhưng mỗi lần ông ra tay mạnh là một lần bị khối DC ra luật mới trói tay thêm.
Luận cứ TT Nixon bán đứng miền Nam thật ra là do phe DC tung ra để chạy tội sau khi mất miền Nam, dấu nhẹm tất cả những biểu quyết của khối DC tại quốc hội đã khoá chặt tay TT Nixon. Nếu quốc hội DC đã ra luật cắt mọi viện trợ quân sự, cấm Mỹ dội bom trên cả nam và bắc VN, Lào và Căm-Pu-Chia, cấm cả tổng thống không được tham chiến trở lại thì cho dù TT Nixon muốn giữ miền Nam thì ông có cách nào? Làm sao có thể nói TT Nixon là người chịu trách nhiệm về việc bỏ/mất VNCH? Điều ngạc nhiên phải nói là việc ông đã cứng cựa, cầm cự dai dẳng, vớt vát đến cùng, trước khi ký Hiệp Định Paris đầu năm 1973.
TT Nixon bị phe đối lập DC đánh đến độ không còn giữ được cái ghế của ông, làm sao giữ được cả miền Nam VN?
TT Ford nhậm chức sau khi TT Nixon từ chức. Ông thừa hưởng một nước Mỹ đang bị khủng hoảng nặng chưa từng thấy và phải tập trung mọi nỗ lực để cứu con bệnh Mỹ, trong khi uy tín ông không có bao nhiêu vì chỉ là tổng thống ‘ngáp’ do Nixon chỉ định chứ không ai bầu (tuy ông có được quốc hội phê chuẩn). Trong chuyện VN, ông hoàn toàn bị trói tay bởi Hiệp Định Paris cũng như các luật Church-Cooper và War Power Act.
Khi VC rầm rộ chiếm miền Trung, ào ạt nam tiến, TT Ford tìm mọi cách cứu giúp. Ông yêu cầu quốc hội cho lính Mỹ trở lại viện cớ không phải để cứu Nam VN, mà là để cứu lính và dân Mỹ còn đang ở VN. Quốc hội trả lời ngay: rút hết lính và dân Mỹ về là xong. Ông cũng yêu cầu quốc hội cho tháo khoán khẩn cấp 300 triệu tiền viện trợ quân sự đã được phê chuẩn cho tài khoá 75 nhưng chưa tháo khoán. Bị quốc hội DC bác bỏ ngay. TT Ford bất chấp luật cấm viện trợ vũ khí, trong những ngày cuối, cho chở hàng loạt vũ khí, đại bác, súng đạn qua cho VNCH, lấy cớ thay thế hao mòn, trên nguyên tắc được Hiệp Định Paris cho phép, và trong khuôn khổ quân viện đã được phê chuẩn từ trước.
Nhìn vào thực tế lịch sử, ‘tiểu quốc’ VN từ thời Quốc Gia VN đến Đệ Nhất rồi Đệ Nhị Cộng Hòa, cũng kể luôn cả chế độ VC tại miền Bắc, trước sau vẫn chỉ là quân chốt trên bàn cờ chính trị thế giới. Quân chốt của Mỹ và quân chốt của khối CS quốc tế, trong một cuộc chiến ‘ủy nhiệm’ không hơn không kém. Việc đánh hay giúp VN –QG hay CS- luôn nằm trong những tính toán lớn của các đại cường. Cấp lãnh đạo VN từ CS đến QG, có tiếng nói rất nhỏ và quyền hành còn nhỏ hơn nữa.
Dù vậy, cũng không thể nói cấp lãnh đạo VN hoàn toàn không có trách nhiệm. Bỏ qua chuyện lãnh đạo CSVN hoàn toàn chỉ là tay sai cộng sản quốc tế, về phiá quốc gia, những chuyện như Bảo Đại ăn chơi trác táng tuốt bên Pháp không lo việc nước, hay TT Diệm có đại công xây dựng nên một quốc gia thịnh vượng và ổn định, nhưng sau đó phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng trở nên độc đoán, bám víu vào gia đình chống lại cả nước, hay các tướng lãnh đảo chánh trên danh nghĩa để đánh VC hữu hiệu hơn, nhưng rồi vì tham vọng cá nhân liên tục chỉnh lý lẫn nhau, bán cái việc đánh VC cho Mỹ, các sư sãi ‘chống chiến tranh’, linh mục ‘chống tham nhũng’, sinh viên ‘chống bắt lính’, ký giả ‘đi ăn mày’, nhân sĩ ‘đòi quyền sống’, các chính khách thời cơ ‘cẳng giữa’, những cuộc triệt thoái hỗn độn qua những quân lệnh bất nhất, rồi cuộc đầu hàng vô điều kiện quá nhanh thay vì cầm cự ít lâu để tìm cách điều đình,… cuối cùng đưa đến mất nước, đó chính là những phần trách nhiệm lớn của người Việt quốc gia, không phải là lỗi của Johnson hay Nixon hay Kissinger gì hết. Trước khi xỉa tay đổ thừa tứ tung, phải thực tế và can đảm nhận lỗi mình trước.
Những sai lầm đó khiến sự hy sinh cao cả của cả vạn sĩ quan và lính can trường chiến đấu trong những điều kiện khó khăn nhất trở nên công dã tràng, rồi đưa đến những tuẫn tiết oai hùng nhưng oan uổng của một số tướng lãnh tự trọng nhất.
Những lập luận "Mỹ tháo chạy" hiển nhiên không sai lắm, nhưng dù sao cũng vẫn là cách các quan chức miền Nam từ TT Thiệu đến PTT Kỳ đến những Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Đức Nhã,…  xỉa tay đổ thừa mà không dám nhận phần trách nhiệm của chính mình.

Bây giờ, xin trở về câu chuyện cụ Biden.
Cụ Biden đắc cử thượng nghị sĩ lần đầu tiên vào năm 1972, trong cơn sóng tsunami chống Mỹ tham chiến tại Nam VN, đưa hàng loạt dân biểu và nghị sĩ trẻ gọi là ‘phản chiến’ vào quốc hội Mỹ. Ngay từ đầu, tân TNS Biden, khi đó 31 tuổi, đã tìm cách nổi hơn người bằng cách quyết liệt chống TT Nixon hăng nhất. Trong hai năm đầu 73-74 đã liên tục biểu quyết chống mọi cố gắng giúp miền Nam VN của Nixon, biểu quyết đòi cấm Nixon làm đủ thứ chuyện có tính cách ‘hiếu chiến’ chống VC, biểu quyết cắt mọi viện trợ quân sự và cả kinh tế cho VNCH. Trong tất cả các biểu quyết bất lợi cho VNCH của Thượng Viện, luôn luôn không bao giờ thiếu lá phiếu của TNS Biden.
Giữa năm 1974, TT Nixon xin ngân khoản 1,3 tỷ viện trợ quân sự cho VNCH cho tài khóa từ 8/74 đến 7/75. Thượng Viện do DC kiểm soát (trong đó có TNS Biden), chỉ chấp thuận 720 triệu. Đầu tháng 4/75,  tình hình nguy kịch, TT Ford xin tháo khoán khẩn cấp 300 triệu đã được phê chuẩn trong khoản viện trợ quân sự 720 triệu nhưng chưa tháo khoán. Thượng Viện (trong đó có TNS Bidenbác.
Khi Sàigòn có nguy cơ thất thủ sớm, TT Ford xin quốc hội chuyển số tiền 300 triệu đó qua một quỹ giúp di tản và tái định cư một số người VN có nguy cơ bị VC giết cao nhất. Thượng Viện lại bác nữa.
TT Ford lại đưa ra yêu cầu xin tiền để di tản và tái định cư một số tối thiểu dân Việt. Trong cuộc điều trần tại trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện, cụ Biden hỏi ngoại trưởng Kissinger cần cứu bao nhiêu người Việt. NT Kissinger trả lời số người bị đe dọa có thể lên tới một triệu, nhưng con số tối thiểu cần phải cứu là 174.000 người có nguy cơ bị VC tàn sát ngay. Ủy Ban Ngoại Giao ngày 18/4/1975 biểu quyết, kết quả thuận 14-3, chấp thuận 100 triệu để di tản và tái định cư người Việt trên đất Mỹ, cùng với 100 triệu để tái định cư dân Việt chạy loạn CS trong nước (số tiền sau này chưa kịp sử dụng vì mất nước ngay sau đó). Cụ Biden là một trong 3 người chống trong Ủy Ban. Dự luật này mãi tới 23/5/1975, khi cả mấy chục ngàn dân tỵ nạn đang nheo nhóc ở trong các trại Guam và Wake, mới được cả Thượng Viện thông qua, 100 triệu để cứu 130.000 người. Trong khối DC, có 46 thượng nghị sĩ thuận, 17 chống, trong đó có TNS Biden.
Cụ Biden tuyên bố “Tôi sẵn sàng biểu quyết bất cứ số tiền cần thiết nào để mang lính Mỹ và dân Mỹ ra khỏi Nam VN về Mỹ, nhưng sẽ không cho một xu nào cho việc di tản và tái định cư bất cứ một người Việt nào. Nước Mỹ không có trách nhiệm phải cứu 1 người hay 100.001 người Việt nào hết, nước Mỹ không có trách nhiệm gì với họ. Việc CSBV chiến thắng là do họ [người VN] không chịu chiến đấu thôi”.
Cụ Biden là một trong những tiếng nói ồn ào nhất xua đuổi dân tỵ nạn ta như đuổi tà, đuổi hủi (cùng với cựu thống đốc Cali Jerry Brown), mà bây giờ ta vuốt mặt mím môi bầu cho cụ được sao? Tính tự trọng của đám ‘con rồng cháu tiên’ vứt vào thùng rác nào rồi? Chỉ vì đồng tiền trợ cấp hay đồng tiền già?
Kẻ này đã từng lên tiếng, thắc mắc không hiểu các cụ cuồng mê DC hay cuồng chống Trump sẽ tìm cách nào để biện minh cho việc họ ủng hộ cụ Biden. Lúc sau này, đã có câu trả lời. Các cụ tỵ nạn cuồng mê DC đã biện hộ cụ Biden bằng nhiều cách, xin nêu ra dưới đây để quý độc giả thưởng lãm:
Một anh nói là khi đó TNS Biden ‘còn trẻ, thiếu kinh nghiệm’ nên đã suy nghĩ và làm sai. Câu hỏi cho anh này: thế thì con người bắt đầu từ bao nhiêu tuổi mới biết suy nghĩ, hết ngu xuẩn để có thể chịu trách nhiệm về những việc mình làm? Năm 1975, ông Biden đã 33 tuổi, đã là thượng nghị sĩ hai năm mà vẫn chưa đủ trưởng thành, chưa biết suy nghĩ, vẫn ngu xuẩn nên không có trách nhiệm, không đáng trách sao? Nguyễn Huệ và Napoleon đều lên ngôi Hoàng Đế năm 35 tuổi. Một thằng nhóc 18 tuổi vác súng đi bắn chết người, có thể ra tòa, tự bào chữa tại vì tuổi trẻ thiếu suy nghĩ nên tòa cần xí xóa tội của hắn được không?
Không cần biết TNS Biden khi đó trẻ hay già, khôn hay ngu, chỉ biết là những người như ông ta đã là thủ phạm không phải đã giết một người, mà đã giết cả nước ta, với cả triệu người đi tù cải tạo, cả triệu người chết trong rừng sâu hay Biển Đông, cả ngàn phụ nữ bị hải tặc hãm, cả triệu người mất nước và mất gốc thành Mỹ giấy, Tây giấy, Đức giấy, Úc giấy, Điên giấy, cả nước bị nhốt trong gông cùm CS từ gần một nửa thế kỷ qua. Cái tội khổng lồ như vậy mà bây giờ có thể xí xóa, coi như ‘sai lầm nhỏ của tuổi trẻ’ sao? Mà cho dù là Biden khi đó trẻ người non dạ đi, thì bây giờ, cứ mở mồm là nói sai, nói nhầm, nói lộn, có khá hơn không? Có đáng làm tổng thống không?
Một cụ tỵ nạn khác cho rằng đó là “chuyện quá xưa của 45 năm trước, thật là lố bịch khi nhắc lại”. Vâng, thế thì chuyện CSBV chiếm miền Nam, với những hậu quả vĩ đại vừa nêu trên, tất cả cũng là chuyện quá xưa của 45 năm trước, thật là ‘lố bịch’ khi nhắc lại phải không, thưa cụ? Thế thì chừng nào cụ về nước, quên quá khứ, xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải với VC?
Một anh tỵ nạn bào chữa kiểu khác, cho rằng cụ Biden “bây giờ đã thay đổi, sẵn sàng mở cửa đón dân Việt vào Mỹ rồi”. Vấn đề là bây giờ chẳng còn một anh chị Việt nào xin vào Mỹ tỵ nạn CS nữa, mà chỉ toàn là đám con của CS Nguyễn Tấn Dũng hay CS Nguyễn Xuân Phúc xin di dân qua Mỹ để hưởng thụ tiền bố ăn cắp trên đầu dân Việt thôi. Nếu có người nào thấy việc cụ Biden chống việc nhận dân tỵ nạn chống cộng vào Mỹ, nhưng ô-kê cho con của quan chức VC vào Mỹ là chuyện đáng ủng hộ thì xin cho chúng tôi biết quý vị đang ở Mỹ với quy chế gì? Tỵ nạn chống cộng, hay di dân VC?
Một số người khác khôn ngoan hơn, tránh né những lập luận ngớ ngẩn nêu trên, bào chữa cho cụ Biden bằng cách nhận là cụ Biden có tội thật, nhưng cả Nixon, Kissinger, và đảng CH cũng có tội đã bỏ rơi Nam VN luôn, thế là tất cả đều có tội hết cho huề cả làng. Không thể chỉ trích cụ Biden hay đảng DC được. Đây là kiểu lý luận ba phải kiểu đà điểu vùi đầu dưới cát, không dám nhìn vào thực tế lịch sử.
Một anh ‘Mỹ con’ -vì theo gia đình qua Mỹ tỵ nạn từ nhỏ- rất nổi tiếng vì đã từng đoạt giải văn chương gì đó của Mỹ, đã đặt một câu hỏi hết sức quái lạ trên facebook của anh ta: “Có ai có thể kiểm chứng lại việc Joe Biden chống dân tỵ nạn Việt, ngoài các nguồn tin từ khối bảo thủ không?”. Quái lạ vì cái anh ‘đại trí thức’ này dường như không biết trên internet có cái gọi là Google hay Wikipedia, ai cũng có thể vào đó để tìm tin tức về cả triệu chuyện. Đi xa hơn nữa, cũng có thể vào trang mạng của US Congress, có đầy đủ hồ sơ lưu lịch sử, để biết TNS Biden đã bỏ phiếu như thế nào. Nói cho cùng, cũng không phải là quái lạ vì chắc chắn anh này biết rõ về Google, nhưng cách anh đặt câu hỏi cho thấy rõ anh ám chỉ câu chuyện này chỉ là fake news của ‘khối bảo thủ’ phịa ra thôi. Có một sự thật mà anh này không dám nhìn thẳng vào: nếu cụ Biden năm 1975 làm tổng thống thì anh này,  giờ này nếu không chết thì chắc cũng chỉ có bằng tiến sĩ của một đại học ma ở Sàigòn mà mấy ngàn năm nữa cũng không biết ở Mỹ có giải văn chương gì. (Nếu muốn, xin mời anh này vào đọc bài của Daily Kos dưới đây. Daily Kos là trang mạng thuộc loại cực tả, không thể gọi là nguồn tin của khối bảo thủ được).
Một cụ khác cũng có ý kiến tương tự như anh Pulitzer trên, nhưng hơi khác một chút. Cụ yêu cầu đưa bằng chứng từ báo Mỹ, báo Tây, chứ tin của mấy anh Mít thì dẹp đi. Vẫn chỉ là cái tinh thần vọng ngoại, nhất định phải là Mỹ, là Tây mới có giá trị, chứ cái gì màu vàng khè là automatiquement đồ bỏ hết, khỏi cần suy nghĩ chi cho mệt, thậm chí cũng cẳng nên đọc mất thời giờ.
Cuộc bầu cử tháng 11 sẽ là một thử thách lớn nhất cho dân Việt tỵ nạn từ ngày mất nước cách đây 45 năm tới giờ. Một cuộc bầu định giá tư cách mỗi người, không hơn không kém.


Đọc Báo Mỹ:

Quốc Hội Dân Chủ Chống Chiến Tranh VN – Prospect.org:

Cụ Biden Chống Dân Tỵ Nạn Việt – Washington Examiner:

Cụ Biden Chống Dân Tỵ Nạn Việt – OpEdNews:

Cụ Biden Chống Dân Tỵ Nạn Việt – Daily Kos (cực tả):





Vũ Linh: Tin Vắn Trong Tuần (May 22, 2020)


Linh: Tin Vắn Trong Tuần (May 22, 2020)

VỤ ÁN SÁCH NHIỂU TÌNH DỤC CỦA CỤ BIDEN
Vụ bà Tara Reade tố giác cụ Biden năm xưa sách nhiễu tình dục bà đang biến thành một bối rối khổng lồ cho cụ Biden.
Tuần trước, thu âm một cuộc nói chuyện điện thoại năm 1993 giữa anh bình luận gia nổi tiếng Larry King với một bà nào đó đã bị xì ra. Bà này hỏi anh Larry King chuyện con gái bà bị sách nhiễu tình dục bởi một thượng nghị sĩ cực quyền thế thì có thể làm gì được? Anh King khuyên bà tố cáo cho báo giới. Bà này cho biết đã cố làm nhưng bị chặn, không ai dám giúp hay muốn giúp. Bà ta không nói tên mình và tên con gái nhưng bây giờ khám phá ra cái bà đó chính là mẹ bà Reade đang tìm cách giúp con, nhưng bị bà con cản vì sợ ông nghị sĩ quyền thế trả thù. Dù vậy vẫn không thoát khi ít lâu sau, bà Reade bị TNS Biden sa thải đúng như bà lo sợ.
Ngoài bà mẹ, còn có một bà bạn làm cùng chỗ với bà Reade, ông anh (hay em? Brother!), và một bà hàng xóm của bà Reade đã xác nhận có nghe bà Reade than vãn khi chuyện xẩy ra. Vậy mà bây giờ cả đảng DC và TTDC đều cố ngậm tăm, hầu hết đều im re, một số ít than phiền rất nhỏ nhẹ, như tiếng muỗi bay. Điều đáng nói là tất cả những người dính dáng, từ bà nạn nhân cho đến 3 nhân chứng, không kể bà mẹ đã qua đời, tất cả đều là cử tri DC, ủng hộ cụ Biden, nhưng miễn cưỡng phải ‘thành thật khai báo’.
Bà Reade cho biết khi xẩy ra chuyện, bà đã có báo cáo với xếp của bà và hồ sơ nhân viên của bà phải ghi chuyện đó, cũng như ghi việc bà sau đó một thời gian ngắn đã bị cụ Biden sa thải. Hồ sơ hành chánh của TNS Biden không ai tham khảo được vì cụ đã trao hết cho đại học Delaware với điều kiện có viết trong hợp đồng là không được công bố bất cứ chi tiết nào cho đến ít nhất hai năm sau khi cụ đã về hưu, ngưng mọi hoạt động công cộng.
Ngày Thứ Sáu vừa qua, trước áp lực chính trị quá lớn -cả Washington Post và New York Times đều đòi hỏi cụ Biden lên tiếng sau cả tháng im lặng trốn dưới hầm nhà- cụ Biden đã đọc bài tuyên bố trên TV riêng từ dưới hầm nhà cụ, dĩ nhiên chối bỏ cho là chuyện này không hề xẩy ra, và cho phép phòng văn khố của Thượng Viện công bố tất cả những tài liệu liên quan đến vụ này.
Xin lỗi cụ, đúng là chuyện bá láp. Thứ nhất, dĩ nhiên là cụ phủ nhận, ai cũng biết trước rồi, vấn đề là cụ có cách nào khác chứng minh cụ vô tội hay không. Thứ nhì văn khố Thượng Viện dĩ nhiên là KHÔNG có gì vì đó là những tài liệu về hoạt động của cụ trong Thượng Viện. Cái mà bà Reade nói là hồ sô nhân viên phụ tá của cụ, chỉ có trong hồ sơ riêng mà cụ đã trao cho Đại Học Delaware với điều kiện giữ tuyệt đối bí mật.
Câu hỏi lớn nhất: cụ Biden cam kết sẽ lựa một bà ra đứng cùng liên danh, làm phó cho cụ. Tất cả những bà DC cấp tiến đều đã cực kỳ ồn ào chống thẩm phán Kavanaugh, hiên ngang tuyên bố, bất kể chuyện gì xẩy ra, những phụ nữ đứng ra tố giác đều là những người can đảm khai sự thật, và phải được bảo vệ, trong khi những ông bị tố không ai có thể tin tưởng được và tuyệt đối không thể trao cho họ trách nhiệm quan trọng nào (khi đó là trách nhiệm thẩm phán Tối Cao Pháp Viện, bây giờ là trách nhiệm… tổng thống!).
Bây giờ bà nào được cụ Biden tuyển chọn sẽ uốn lưỡi giải thích ra sao nhỉ? Bà Klobuchar là người trước đây đã đánh TP Kavanaugh nặng nề nhất và bây giờ đang thắp nhang cầu xin cụ Biden chọn làm phó, đã tuyên bố bà “biết cụ Biden từ lâu rồi và không tin chuyện sách nhiễu này”. Vấn đề là chẳng ai cần biết bà tin hay không tin, chỉ cần bà yêu cầu điều tra cho kỹ cụ Biden giống y như trước đây bà đã đòi cả FBI lẫn quốc hội điều tra thẩm phán Kavanaugh thôi. Bây giờ có cần FBI và quốc hội điều tra cụ Biden không?
Bà Gillibrand, thượng nghị sĩ New York tuyên bố giản dị hơn nhiều: “Tôi tin ông Biden và ủng hộ ông”. Ngắn và gọn, nhưng tuyệt đối vô nghĩa.
Bà chủ tịch Hạ Viện Pelosi được hỏi về vụ này, đã tuyên bố “Ông Biden đã khẳng định không có chuyện này, như vậy đối với tôi, đủ rồi, tôi ủng hộ ông Biden”. Ủa vậy sao khi ông Kavanaugh khẳng định không có chuyện ông sách nhiễu ai hết mà tất cả các chính khách DC đều không chấp nhận vậy?  Trong chính trị Mỹ, có mấy thước đo vậy?
Châm ngôn trước đây của đảng DC là “Phải Tin Các Phụ Nữ Bị Sách Nhiễu”, bây giờ sắp sửa được đổi qua “Chỉ tin các phụ nữ bị bọn côn đồ CH sách nhiễu, còn phụ nữ bị các vị DC đáng tôn kính sách nhiễu thì toàn là chuyện phịa, không tin mấy bà này được.
Ban Vận Động Tranh cử của cụ Biden đã ra tuyên cáo, vụ tố giác này “đã được điều tra kỹ lưỡng và đã không tìm thấy bằng chứng cụ thể nào hết”. Ban Vận Động cũng khẳng định cụ  Biden đã hoạt động trong chính trị gần 50 năm mà chưa khi nào bất cứ ai than phiền gì. Ai điều tra? Dĩ nhiên là cái ban vận động này điều tra. Kiểu như đảng CSVN điều tra tội của Hồ Chí Minh thôi. Không ai than phiền gì? Thế thì 8 bà đang thưa kiện cụ Biden là gì? Còn cả chục bà than phiền về chuyện bị hít tóc thì sao?
Cả nước đang có dịp xem trò gian trá một chiều của đảng DC và TTDC. Không cần họ nói gì, cái im lặng của họ, Mỹ gọi là ‘deafening silence’, nghe còn đinh tai điếc óc hơn tiếng la hét nếu có của họ.
Cuối cùng thì có nhiều triển vọng phe DC sẽ nhắm mắt bỏ qua cho cụ Biden và cụ vẫn được ra tranh cử và tất cả đảng DC sẽ đứng sau lưng cụ như thường. Vụ cụ Biden bị tố sách nhiễu tình dục không ai biết có hay không, nhưng đã hữu ích hơn bất cứ chuyện gì khác để chứng minh tính giả dối thô bạo nhất của đảng DC và đồng minh TTDC. Để rồi cuối cùng, tất cả mọi người đều thấy câu chuyện lùm xùm ‘phong trào giải phóng phụ nữ’ thực chất chỉ là phong trào cuội do phe cấp tiến DC sáng chế ra để lợi dụng các bà làm công cụ chính trị cho họ thôi.

HẬU THUẪN CỦA TT TRUMP LÊN CAO
Gallup, là cơ quan thăm dò lớn nhất thế giới -nhưng không thân thiện với Trump lắm- mới công bố tỷ lệ hậu thuẫn của TT Trump đã lên tới 49%, cao nhất từ ngày ông ra tranh cử năm 2016.
Đúng như DĐTC đã nhận định, tỷ lệ hu thuẫn của TT Trump hiển nhiên bị trói chặt vào dịch corona. Tháng 3 khi corona bắt đầu tấn công mạnh và TT Trump bắt đầu họp báo mỗi ngày để báo cáo cho dân Mỹ, hậu thuẫn của ông cũng đã lên tới 49%, nhưng qua tháng 4 khi COVID đánh mạnh nhất cũng như TTDC tấn công TT Trump tàn bạo nhất, hậu thuẫn đó giảm ngay xuống mức 43%. Bây giờ, tình hình khả quan hơn, số người bị nhiễm và chết chậm lại, nhiều tiểu bang mở cửa kinh doanh lại, hậu thuẫn của TT Trump lại tăng vọt lên lại.
Từ giờ tới ngày bầu cử, còn tới 7 tháng nữa, sẽ còn trồi sụt nhiều.

TIN KINH TẾ
Kinh tế vẫn đang chịu đòn COVID.
Tuần rồi, đã có thêm 3,8 triệu dân Mỹ thất nghiệp, nâng tổng số dân thất nghiệp lên xấp xỉ 30 triệu người rồi. Trong khi chưa có triệu chứng sẽ không tăng tiếp.
Quốc hội đang nghiên cứu việc tung ra chương trình cứu trợ lần thứ tư, nhắm vào các chính quyền thành phố và địa phương, cũng như vài tiểu bang bị nạn nặng nhất. Có nhiều đơn vị hành chánh cấp quận -county- và thành phố có luật bắt buộc ngân sách phải cân bằng. Do đó, nếu kinh doanh đóng cửa, không có thu nhập thuế thì sẽ không có tiền để chi, nghĩa là sẽ bắt buộc phải sa thải công chức và ngưng hay giảm cung cấp một số dịch vụ cần thiết như cảnh sát, xe cứu thương, điện nước, thu rác,... Gói cứu trợ tới sẽ nhắm giúp các đơn vị hành chánh này. Bà Pelosi đang kêu gọi trợ cấp lên tới 1.000 tỷ trong khi phe CH cân nhắc một số tiền nhỏ hơn nhiều.
Thị trường chứng khoán vẫn ngơ ngác, phản ứng loạn xà bần, tăng sụt mấy trăm điểm mỗi khi có tin tốt hay xấu nhỏ nào. Tuy nhiên chiều hướng trong ba tuần qua có vẻ đã tăng khá nhanh.
Dow Jones từ điểm thấp nhất khoảng 18.500 điểm ngày 23/3, bây giờ đã leo lên lại tới mức 23.700 điểm hôm Thứ Sáu 1/5, tăng lại 5.200 điểm hay 28%.

TIN TÒA ÁN
TT Trump lại thắng nữa. Thắng mãi phát chán thật!
Ø  Gần đây, TT Trump ra sắc lệnh không nhận di dân nếu là gánh nặng cho y tế Mỹ, nghĩa là muốn được nhận vào di dân, người xin phải chứng tỏ có khả năng lo chuyện sức khỏe cho mình, hoặc là đã có bảo hiểm y tế nào đó, hoặc là chứng tỏ có phương tiện tài chánh để lo nếu có bệnh hay tai nạn nào xẩy ra.
Cả chục tiểu bang DC kiện. TT Trump thua hết. Lên đến tòa kháng án New York, Maryland, Cali, TT Trump thắng tại Cali và Maryland nhưng vẫn thua tại New York. Bây giờ, vụ New York lên đến Tối Cao Pháp Viện, chuyện cũ tái bản, TT Trump lại thắng kiện.
TCPV cũng đặc biệt gần như khiển trách tòa New York đã tự cho mình quyền ra án lệnh có hiệu lực trên toàn thể nước Mỹ luôn. TCPV cho đây là việc lạm quyền trắng trợn. Mỗi tòa chỉ có quyền ra phán quyết trong khu vực của mình thôi.
Các tiểu bang chưa chịu thua, đang sửa lại đơn kiện để tìm cách kiện lại nữa.

Ø  Mới đây, TT Trump đã ra sắc lệnh ngưng cấp thẻ xanh trong vòng 60 ngày, như một biện pháp đặc biệt trong tình trạng hiện tại để chặn dịch. Ngay sau đó, dĩ nhiên phe cổ võ cho di dân đã thưa kiện tại nhiều nơi.
Ông quan tòa liên bang tại tiểu bang Oregon do TT Obama bổ nhiệm, Michael Simon đã ra phán quyết bác bỏ những đơn kiện này. Ông tòa cho rằng đây là một biện pháp đặc biệt do Hành Pháp lấy trong khuôn khổ quyền hạn khẩn cấp của Hành Pháp, như một cách để chặn sự phát tác hay du nhập vi khuẩn vào Mỹ.
  
TTDC TIẾP TC TUNG FAKE NEWS
Vẫn kiên trì trong sách lược xuyên tạc bôi bác, TTDC lại tìm được đối tượng mới sắp bị TT Trump thanh trừng.
Liên tục ba tuần liền, TTDC loan tin sắp sửa sa thải phụ tá. Cách đây hai tuần thì bộ trưởng Y Tế, tuần rồi là hai bác sĩ Fauci và Birx. Tuần này, hồi đầu tuần rầm rộ loan tin TT Trump la hét, sỉ vả giám đốc Vận Động Tranh Cử Brad Parscale.  Cả TT Trump và ông Parscale đều vừa lên tiếng cho rằng đây là tin bố láo nhất.
Điều tiếu lâm là cả ba tin đều được các cụ chuyên viên thông ngôn dịch và gửi emails tứ tung.

GIÁO SƯ ĐẠI HỌC MỸ ĐÂY
Một bà giáo sư da đen của Đại Học Rutgers của tiểu bang New Jersey, bà Brittney Cooper đã hùng hổ tuyên bố Fuck each and every Trump supporter”, “fuck” tất cả những người nào ủng hộ Trump. Quý độc giả nào không hiểu ‘fuck ‘ là gì xin vui lòng kín đáo tra tự điển, đừng hỏi con cháu, chúng nó sẽ bị sốc nặng.
Bà Cooper cho biết bà chửi như vậy vì tất cả những người ủng hộ Trump đều là đồng lõa cho chính sách của Trump cố tình dùng dịch corona để giết bớt dân da đen, là dân không chịu bầu cho ông. Bà đưa ra bằng chứng ‘rõ ràng nhất’ là dân da đen hiện nay chiếm tuyệt đại đa số những người bị nhiễm và chết vì dịch.
Không sai, nhưng điều bà không nói ra là những nơi mà dân da đen chết vì dịch nhiều nhất là tại các thành phố Harlem, Detroit, New Orleans, và Chicago, toàn là những thành đồng của đảng DC, do các thị trưởng và thống đốc DC quản trị hết.
 Nhìn vào loại giáo sư như vậy, thì ít ai không thể không lo lắng cho con cháu mình đi học trường Mỹ, kể cả các đại học danh tiếng nhất.

CHUYỆN CẤM CƯỜI
TT Trump mới tuýt một chuyện mà DĐTC xin trích lại, với yêu cầu quý độc giả KHÔNG được cười quá lớn.
Cụ Biden trong một lần họp mặt vận động cử tri, hùng hổ tuyên bố “Nếu đắc cử tổng thống, tôi sẽ tham gia vào ‘Hòa Ước Paris’ lại ngay ngày đầu” (nguyên văn: “I'm going to make sure that we rejoin the Paris Peace Accord on day one."). Hòa Ước Paris là hiệp ước chấm dứt chiến tranh VN được ký năm 1973, cụ ơi!
Ý cụ thật ra muốn nói tới ‘Thỏa Thuận Paris Về Khí Hậu’ (Paris Climate Agreement) là thỏa thuận về khí hậu. Lại nói nhầm một tí thôi mà!


Friday, May 1, 2020

Trần Trung Đạo: Giá Trị của VNCH


Giá Trị của Việt Nam Cộng Hòa
Trần Trung Đạo

Từ 1954 tại miền Bắc và sau 1975 trên phạm vi cả nước, bộ máy tuyên truyền của đảng CS đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. VNCH là hiện thân của mọi thứ tội ác.
Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ thì VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.
Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas hơn mười năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.
Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Có.
Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có.
Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có.
Nhưng các đặc điểm đó có đại diện cho Việt Nam Cộng hoà (VNCH) không? Không.
Cho đến nay, một số người hoặc vì không có cơ hội nghiên cứu sinh hoạt chính trị tại miền Nam, không phân biệt được sự khác nhau giữa chính quyền và chế độ chính trị hoặc vì nghe riết những lời tuyên truyền của đảng đến độ nhập tâm, đã đồng hoá chính quyền của các ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh với VNCH.
Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.
Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”
Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.
Hiến pháp 1967 tốt đẹp đến nỗi ông Lý Quý Chung, trong Hồi ký không tên, xuất bản tại Sài Gòn trước ngày ông qua đời, dù chê bai các chính quyền miền Nam tàn tệ, cũng không thể nói xấu bộ luật tối thượng của chế độ cộng hoà như một diễn đàn để ông ta thực thi dân chủ: “Quốc hội lập hiến kéo dài một năm đã cung cấp cho tôi một môi trường học tập đấu tranh chính trị tại nghị trường và từ diễn đàn này, tôi cũng có cơ hội bày tỏ công khai qua mạng lưới báo chí Sài Gòn các quan điểm của mình đối với chính quyền, đối với các vấn đề dân chủ, chiến tranh, hoà bình v.v…”
Về căn bản, không có nhiều khác biệt giữa Hiến pháp VNCH 1967 và Hiến pháp Nam Hàn 1948 được tu chỉnh lần cuối vào năm 1987. Cả hai hiến pháp đều dựa trên chế độ cộng hoà, phân quyền rõ rệt, thích hợp với đà tiến hoá của văn minh nhân loại.
Dân chủ không phải là món quà của ông thần tài đem đặt ngay trước cửa nhà mà là chiếc máy lọc từ nước đục sang nước trong, từ phong kiến lạc hậu đến văn minh tiên tiến, và trong quá trình đó hai quốc gia VNCH và Nam Hàn, đều phải trải qua những kinh nghiệm máu xương trên con đường dân chủ hoá đất nước. Giống như người dân Nam Hàn, người dân miền Nam Việt Nam cũng vừa học dân chủ và vừa tập sống dân chủ với tất cả những khó khăn thử thách.
Điểm khác nhau chính giữa Nam Hàn và Nam Việt Nam là cơ hội. Nam Hàn có cơ hội để biến những ước mơ của dân tộc Triều Tiên gói ghém trong hiến pháp của họ để ngày nay là nước giàu mạnh nhất nhì châu Á. Miền Nam Việt Nam thì không.
Chế độ cộng hoà tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hoà hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi.
Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính.
Nếu trước 1975, vì thiếu cái nhìn về cả hai bên của cuộc chiến và bất mãn trước xã hội nhiễu nhương, việc kết án chính quyền là “trấn áp” có thể còn thông cảm được, thế nhưng sau 45 năm sống dưới chế độ độc tài đảng trị vẫn có kẻ biện minh cho hành động đốt xe, bắt cóc, ném bom xăng vào thương xá, ném lựu đạn vào nhà hàng ăn uống trước đây thì quả thật là vô cảm.
Đặc điểm thứ ba đảng tuyên truyền là miền Nam chỉ biết “ôm chân Mỹ”. Thật mệt mỏi nếu lại phải lần nữa đem so sự lệ thuộc vào Mỹ của chính quyền miền Nam và sự lệ thuộc vào Liên Xô, Trung Cộng của đảng CSVN và cũng chẳng sướng ích gì khi phải đọc lại bảng kê khai vũ khí, quân trang, quân dụng mà hai đế quốc cộng sản đổ xuống Việt Nam.
Cho dù sự lệ thuộc vào cường quốc là điều không tránh khỏi trong thế giới phân cực của thời kỳ Chiến tranh Lạnh vừa qua thì chọn lựa cường quốc nào sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đất nước hơn?
Lịch sử đã chứng minh một cách hùng hồn, hầu hết các nước chọn lựa hay do điều kiện chính trị thế giới đẩy đưa, đã đứng về phía tự do dân chủ như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ v.v. đều trở nên các quốc gia ổn định và phát triển nhờ chính sách đối ngoại thân Mỹ một cách khôn khéo, trong lúc các nước theo chân Liên Xô, Trung Cộng như Bắc Việt, Cu Ba, Bắc Hàn thì kết quả ra sao không cần phải phân tích.
Không ai từng chống Mỹ quyết liệt hơn cố tổng thống Anwar Sadat nhưng để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân Ai Cập, năm 1976, ông đã bỏ đồng minh Liên Xô để bước sang phía thế giới tự do cho dù ông biết trước sự chọn lựa đó có thể trả giá bằng nhiều rủi ro như ông tiên đoán trong diễn văn đọc trước Quốc hội Israel ngày 20 tháng 11 năm 1967.
Một số người có thể cho rằng Hiến pháp VNCH cũng do người Mỹ nhúng tay vào. Dù điều đó đúng thì đã sao. Hiến pháp của quốc gia Nhật Bản hiện đại cũng do bàn tay của Mỹ nhưng ngày nay tướng McArthur chẳng những không bị oán ghét mà còn được nhân dân Nhật xem như là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng nước Nhật hiện đại.
Dân chủ là một kỳ quan được nhân loại bồi đắp qua nhiều thời đại chứ không phải là tài sản riêng của quốc gia nào. Học hỏi cái hay cái đẹp của các nước tiên tiến để áp dụng vào cuộc cách mạng dân tộc và phát triển đất nước như cụ Phan Chu Trinh từng thống thiết kêu gào gần trăm năm trước, luôn luôn là điều đáng khuyến khích.
Phân tích để thấy, chế độ cộng hoà tuy không còn hiện diện tại miền Nam nhưng các giá trị dân tộc, nhân bản và khai phóng thể hiện trong Hiến pháp VNCH vẫn còn đó. Gia tài quý giá đó chẳng những không rã mục theo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh mà ngày nay đã vượt ra khỏi biên giới Bắc Nam để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc.
Nếu ai cho người viết cường điệu hãy tạm gác qua bên các định kiến Bắc Nam, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hoà trên trang đầu của Hiến pháp mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung của Hiến pháp VNCH 1967 thôi, người đọc sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến.
Việc lặp lại những lời tuyên truyền cũ mèm của đảng cho rằng chế độ cộng hoà tại miền Nam là “sản phẩm do chính quyền Mỹ tạo ra trong Chiến tranh Lạnh” chẳng khác gì chê lớp rong rêu ngoài vỏ một con trai.
Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi mà đã có từ hàng trăm năm trước.
Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hoà sau này.
Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng mồ hôi nước mắt của nhiều người. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, gạt bỏ lòng “căm thù Mỹ Ngụy”, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau.
Tiếc thay, viên ngọc và viên sỏi khác nhau khi nằm trong tay người thợ bạc nhưng lại giống nhau khi nằm trong tay mấy cậu bé bắn chim.
Do đó, phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền.
Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc.
Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật.
Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên.
Đối mặt với một kẻ thù Trung Cộng đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay.
Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.
Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.
Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 45 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên.
Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người cầm quyền được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước.
Sau mỗi cơn giận hờn, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy.
Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.
Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS.
Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng. Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới.
Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.
Trần Trung Đạo