Thursday, January 31, 2019

Trí thức Việt và việc đóng góp cho đất nước


Trí thức Việt và việc đóng góp cho đất nước
RFA
2019-01-30

Ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh rằng cuộc gặp lần này không chỉ đơn thuần là dịp chúc tết các nhà trí thức Việt Nam mà còn là dịp để chính phủ lắng nghe ý kiến phản biện, tâm tư nguyện vọng của các nhà trí thức. Đây không phải là cuộc gặp mặt hình thức “chuồn chuồn đạp nước” như bấy lâu nay.
Ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhắc lại quan điểm của Đảng và Nhà nước là luôn coi trọng đội ngũ trí thức và nhân tài trong và ngoài nước. Theo lời Ông Phúc thì nếu không có nhân tài, đất nước không thể phát triển được; nhưng có nhân tài mà không trọng dụng thì đất nước suy yếu. Ông đề nghị 300 nhà trí thức có mặt tại cuộc gặp, đại diện cho 4 triệu trí thức Việt Nam, cùng đóng góp cho sự phát triển của quốc gia.
Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên chánh văn phòng Quốc hội từ Sài Gòn có ý kiến về kêu gọi mới nhất của Ông thủ tướng chính phủ Hà Nội đối với trí thức:
 Những người Việt Nam mình ở nước ngoài mà có nhân tài khi về nước có thể giữ nhiệm vụ là có thực quyền thay vào những nhiệm vụ chỉ nói và phản biện. 
- LS. Trần Quốc Thuận
“Lời kêu gọi trong tình hình cách mạng 4.0 và đi vào thế giới thì cái đó nó cũng nằm trong xu thế chung của khu vực và thế giới. Còn kêu gọi trí thức thì nếu như nghe kỹ thì lời kêu gọi ấy là nhằm nói nhiều đến ý kiến phản biện với các ý kiến chủ trương của chính phủ mà tôi không thấy là được mời tham gia vào chính phủ, người ta mong muốn rằng những người trí thức nhất là những người Việt Nam mình ở nước ngoài mà có nhân tài khi về nước có thể giữ nhiệm vụ là có thực quyền thay vào những nhiệm vụ chỉ nói và phản biện.”
Giáo sư, tiến sĩ Phùng Chí Sỹ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Môi trường chia sẻ với chúng tôi rằng  từ trước đến này chính sách của Việt Nam là nhất quán lúc nào cũng kêu gọi nhưng khi đưa ra những lời kêu gọi thì thường sẽ kèm theo những điều kiện cụ thể và đặc biệt lần này có thể đã đến thời điểm.
“Thật ra hiện nay chính sách có những cái về thể hiện chính sách và văn bản chưa thật sự đầy đủ dẫn đến trường hợp một số nhà khoa học vẫn còn e ngại nhưng đến thời điểm hiện nay thì tôi nghĩ rằng nó đã đầy đủ điều kiện và chín mùi rồi, để cho các trí thức về thực hiện những đóng góp bằng nhiều hình thức khác nhau.”
Tại buổi tiếp xúc, Ông Nguyễn Xuân Phúc thừa nhận rằng hiện nay chính sách về thuế và nhiều chính sách khác đối với giới nhà khoa học trong nước còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó chính sách thu hút nhân tài nước ngoài về Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế.
Luật sư Trần Quốc Thuận khẳng định rằng, vấn đề thay đổi chính sách cần nhất là giao quyền cho những nhà trí thức chứ không phải tham mưu và đề xuất ý kiến.
“Chính sách và thu hút nhân tài thể hiện rất là rõ dưới thời cách mạng tháng 8, chủ tịch Hồ Chí Minh khi ở bên Pháp về thì có rất nhiều nhân tài về nước như ông Trần Đại Nghĩa và nhiều nhà khoa học khác…Thì đó là họ về giữ những nhiệm vụ quan trọng. Cho nên tôi cho rằng đó là chính sách phát huy rất là tích cực và sau đó cũng nhiều đợt kêu gọi nhưng mà những nhân tài về nước thường là giữ ở những góc độ là cơ quan tham mưu, đề xuất, phản biện chứ chưa thật sự là giao được quyền, mà muốn giao thực quyền thì nó sẽ dẫn đến vấn đề rất quan trọng đó là thay đổi cơ chế thể chế và nhất là thể chế ở Việt Nam là một điều cấm kỵ.”
Luật sư Trần Quốc Thuận giải thích thêm, Việt Nam luôn phát biểu rằng các Bộ trưởng thường không cần là Đảng viên cũng có thể nắm được những vị trí quan trọng đó; tuy nhiên trên thực tế hiện nay để tìm ra được một vụ trưởng mà không phải đảng viên thật sự không có nói chi đến những vị trí cao hơn.
Không đồng tình với quan điểm này, phó giáo sư tiến sĩ Phùng Chí Sỹ khẳng định với chúng tôi:

“Tôi nghĩ không phải thế bởi vì Việt Nam số Đảng viên cũng không phải là nhiều lắm, trong số các nhà khoa học là đảng viên hay kỹ sư là đảng viên thì đâu phải tất cả là đảng viên đâu, rất nhiều người không phải đảng viên nhưng họ vẫn phát triển được. Cái quan trọng là tài năng của anh, triển vọng và hiệu quả của anh chứ không phải anh cứ là Đảng viên sẽ được hỗ trợ nhiều hơn người khác, hiện nay Việt Nam không có chính sách nào như thế cả.”
Tuy ông Phùng Chí Sỹ thừa nhận điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho các công trình nghiên cứu tại Việt Nam còn thiếu thốn rất nhiều và chưa đủ đáp ứng nhu cầu của các nhà trí thức nước ngoài; nhưng theo lời ông thì những nhà khoa học cũng nên kiên nhẫn và chứng tỏ khả năng qua những công trình thiết thực.
Ông giải thích “Nhiều em du học sinh được gia đình cho đi nước ngoài sau khi tốt nghiệp rất muốn về Việt Nam nhưng khi về Việt Nam thấy điều kiện để nghiên cứu để phát triển lại không có và không bằng nước ngoài thì các em lại đi. Tất nhiên không phải trường hợp nào cũng vậy nhưng khi về nước ban đầu chắc chắn sẽ khó khăn nhưng cần kiên trì chút thì mới đạt thành quả được. Tôi nghĩ rằng một khi có hiệu quả thì nhà nước sẵn sàng đầu tư thôi, anh chưa làm nên chưa biết phải đầu tư cho anh cái gì, khi khó khăn anh phải kêu, đề xuất thì nhà nước mới sẵn sàng hỗ trợ để cho ra hiệu quả.”
Ông Nguyễn Tử Quảng tổng giám đốc công ty phần mềm BKAV Việt Nam cho biết phía chính phủ có thay đổi trong cách tiếp cận giới trí thức làm khoa học:
“Cách đây vài tháng chính phủ có buổi làm việc mời 100 nhà khoa học có thành tựu nhất định trên thế giới về Việt Nam để đóng góp cho nên khoa học VN và có mời các doanh nghiệp lớn về công nghệ của VN đến tham dự, nó rất là khác so với trước đây là mời các quan chức bộ ngành về nói chuyện với các nhà khoa học thôi nhưng lần này họ mời các doanh nghiệp đến để nói chuyện với các bạn trẻ, họ đặt ra là phải có doanh nghiệp ứng với nhân tài đó thì theo tôi thấy cách này nó có hiệu quả.”
Trong khi đó một chuyên gia về an ninh mạng làm việc tại Silicon Valley ở San Jose, Hoa Kỳ vào năm ngoái được mời trong số 100 người khắp nơi được cho là thành công trong lĩnh vực khoa học, công nghệ đến Hà Nội gặp gỡ thủ tướng chính phủ và những quan chức khác.
Khi ra về chuyên gia này ghi lại nhật ký những ngày làm việc bị cho là không ích lợi gì.
Hẳn ai cũng biết một trí thức có tiếng của Việt Nam là giáo sư Ngô Bảo Châu từng về Việt Nam để đóng góp. Tuy nhiên đến nay không có tin tức gì về thành quả các dự án mà vị giáo sư này thực hiện ở quê nhà.
Thành phố Đà Nẵng, nơi từng được biết đến với dự án thu hút nhân tài, vào giữa năm ngoái có 40 người trong diện này phải xin thôi việc; trong số này có người chấp nhận bồi thường kinh phí đào tạo vì chưa đủ thời gian cống hiến 7 năm theo như cam kết.


Wednesday, January 30, 2019

Venezuela và những món nợ đáng tởm - Nguyễn Xuân Nghĩa


Venezuela và những món nợ đáng tởm
Nguyễn Xuân Nghĩa
2019-01-29
Khi chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân rồi con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không? Đấy là cách đặt vấn đề sau khi chúng ta hiểu ra bối cảnh của chuyện Venezuela….
Khủng hoảng tại Venezuela
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, kể từ đầu năm 2014, xứ Venezuela tại Nam Mỹ lâm vào một vụ khủng hoảng kinh tế chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào, với Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF dự đoán năm ngoái là lạm phát lên tới 10 triệu phần trăm và người dân đói ăn phải moi thùng rác tìm lương thực khi bạo lực và tham nhũng hoành hành khắp nơi. Nhưng từ mươi ngày qua, cuộc khủng hoảng lên tới chính trị, khi Chủ tịch Hạ viện được bầu lên từ đầu năm 2015 đã căn cứ trên Hiến pháp mà tuyên bố là tạm xử lý trách nhiệm của tổng thống, trong khi ông Nicolás Maduro vẫn giữ vai trò Tổng thống sau một cuộc bầu cử được đa số cho là có gian lận. Lập tức, vào tuần trước, Chính quyền Hoa Kỳ cùng nhiều nước dân chủ đã công nhận Chủ tịch Hạ viện Juan Guiando là Quyền Tổng Thống, trong khi Liên bang Nga và Trung Quốc và vài xứ khác vẫn cố bênh vực chế độ Maduro. Ngày Thứ Hai 28 vừa qua, Chính quyền Mỹ tăng áp lực và phong tỏa nguồn giao dịch của tập đoàn dầu khí quốc doanh có tên tắt là PDVSA và chi nhánh Mỹ của doanh nghiệp này là công ty Citgo tại Houston. Tình hình Venezuela có thể biến chuyển nhưng câu hỏi được người ta nêu lên là sau này ai sẽ thanh toán các món nợ của chế độ độc tài Venezuela?
Chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân và con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không?
-Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, về bối cảnh thì Venezuela có lắm tài nguyên tại Mỹ Châu La Tinh, với trữ lượng dầu hỏa cao nhất thế giới, chiếm tới 95% số xuất khẩu, đa số là bán vào thị trường Mỹ. Nhưng xứ này chưa có cơ chế dân chủ trừ 40 năm ngắn ngủi từ 1959 tới 1999. Từ năm đó, sau khi ông Hugo Chavez nắm quyền và tiến hành cách mạng cộng sản thì Venezuela tụt hậu và sau khi Chavez mắc bệnh và tạ thế năm 2013 thì xứ này tụt dốc. Ngày nay, tổng sản lượng toàn năm của hơn 30 triệu dân chưa tới 100 tỷ đô la, lợi tức bình quân một người sụt hai phần ba, chỉ còn chừng ba ngàn đô la và 87% dân chúng sống dưới mức bần cùng, đói ăn thiếu thuốc và thực sự sống trong cảnh địa ngục trần gian.
- Chúng ta không có thời lượng để nói về nguyên nhân của thảm kịch, trừ sự kiện là chế độ Hugo Chavez rồi Nicolás Maduro đã lấy tài nguyên trời cho để chia cho tay chân, kể cả bộ máy an ninh và quân đội sau khi quốc hữu hóa ngành dầu khí. Ngày nay, Venezuela đang mắc nợ có thể hơn 150 tỷ đô la và khó dùng dầu khí trả nợ cho các xứ độc tài đã bảo vệ mình, như Nga và Trung Quốc.
Những món nợ đáng tởm
Nguyên Lam: Nguyên Lam xin đi ngay vào các món nợ đó mà người dân xứ này sẽ phải thanh toán trong tương lai, thí dụ như dưới dạng dầu khí hay bằng cách nào khác. Chế độ độc tài đã tàn phá kinh tế và xã hội, thưa ông, khi nền dân chủ tái xuất hiện sau này, thì ai sẽ thanh toán những món nợ đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta lại phải trở về một bối cảnh còn xa xưa hơn nữa và nói đến “những món nợ đáng tởm”.
Lần đầu tiên mà vấn đề được đặt ra rồi trở thành án lệ là tiền lệ pháp lý làm cơ sở cho các phán quyết về sau, do giáo sư luật khoa Alexander Nahum Sack tại Paris vào năm 1927, cách nay hơn 90 năm. Là Tổng trưởng của chế độ Sa hoàng Nga, ông Sack lưu vong tại Pháp sau cuộc cách mạng cộng sản năm 1917, và trở thành giáo sư. Khi chính quyền Xô Viết thẳng tay phủ nhận mọi khoản nợ của chế độ Sa hoàng, ông nghiên cứu chuyện nợ nần sau mỗi lần thay đổi chế độ và thấy nhiều khoản nợ chính đáng mà chế độ sau không thể xoá bỏ và thoái thác. Nhưng cũng có những khoản nợ không chính đáng mà chế độ mới có thể nhân danh quyền lợi người dân để chối bỏ. Từ "dettes odieuses" do Alexander Sack đặt ra là tiếng Pháp, sau này mới được dịch qua Anh ngữ là "odious debts".
- Chuyện này sở dĩ trở thành án lệ vì xảy ra nhiều lần tại Âu Châu và nơi khác sau khi chế độ thực dân cáo chung, nhiều quốc gia giành lại độc lập rồi gặp nạn độc tài quân phiệt, phát xít, cộng sản, và chuyển sang dân chủ. Khi có thay đổi chế độ trên một lãnh thổ thì phải xử lý thế nào về khoản nợ cũ để khỏi gây khủng hoảng dây chuyền trong luồng giao dịch quốc tế với nhau? Về nguyên tắc, chế độ mới phải tôn trọng các cam kết vay mượn của chế độ cũ thì mới có thể nói chuyện giao dịch bình thường. Trong thực tế, giáo sư Sack cho rằng các khoản nợ không thật sự phục vụ người dân thì phải được coi là bất chính và đáng tởm.

Nguyên Lam: Ông nói tới chuyện xa xưa, liệu ngày nay còn xứ nào công nhận chuyện ấy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra giáo sư luật khoa gốc Nga này không phát minh ra lý luận đó mà chỉ áp dụng những trường hợp xảy ra từ trước, vào cuối thế kỷ 19 tại Nam Mỹ và đầu thế kỷ 20 tại Âu Châu, chủ yếu là do tác động của Hoa Kỳ rồi các nước khác.
- Số là sau cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Đế quốc Tây Ban Nha, thuộc địa Cuba của Tây Ban Nha được giải phóng. Nhân danh quyền lợi của dân Cuba, Hoa Kỳ vận động việc chối bỏ các khoản nợ mà Hoàng đế Maximilan của Tây Ban Nha đã vay các nước Anh, Pháp, Bỉ để củng cố chính quyền tại Cuba và tài trợ nhu cầu chiến tranh của Tây Ban Nha. Vì vậy, sau Hòa ước Paris năm 1898, Tây Ban Nha đành xác nhận rằng trước năm 1860 đã lấy tài nguyên của Cuba để yểm trợ chiến tranh ở Âu Châu và từ 1861 đến 1880 thì chính quyền của họ tại Cuba đã đi vay để bành trướng ảnh hưởng qua Mexico và nơi khác. Sau năm 1880 lại còn vay thêm để trả nợ cũ và để bảo vệ quyền lực của họ tại Cuba. Vì vậy, Hoa Kỳ và Cuba chẳng trả một đồng dù các chủ nợ tại Âu Châu có phàn nàn và phản đối!
Nguyên Lam: Câu chuyện này thật ly kỳ vì dẫn ta về xứ Cuba, một xứ cộng sản đang cố bảo vệ chế độ Maduro của Venezuela. Xin đề nghị ông giải thích tiếp!
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Phải nói là án lệ tại Cuba từ sau cuộc chiến Hoa Kỳ với Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 19 còn tái diễn tại Âu Châu sau Thế chiến I: Thỏa ước Versailles kết thúc Đại chiến năm 1919 có khoản quy định là Ba Lan không phải trả các khoản nợ do Đức-Phổ vay mượn để chiếm đóng xứ này!
- Sau đó, trong vai trò tài phán cuộc tranh tụng về món nợ của chế độ độc tài Frederico Tinoco tại Costa Rica với ngân hàng Royal Bank of Canada, Chủ tịch Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (cũng là cựu Tổng thống Mỹ), Howard Taft cũng ra phán quyết tương tự: ngân hàng chủ nợ đã biết mục tiêu đi vay của chính quyền Tinoco là bất chính nên chế độ mới có quyền phủ nhận món nợ này. Bối cảnh ấy cho thấy các "món nợ đáng tởm" đã được quốc tế chú ý từ lâu, và trở thành một nền tảng của công pháp quốc tế trong quan hệ tài chánh giữa các quốc gia.
Nguyên Lam: Chúng ta đã qua Thế kỷ 21, thưa ông, trong thế kỷ 20, người ta có những vụ kiện nào về các khoản nợ không chính đáng đó không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong Thế kỷ 20, các nước đã có ba chục vụ kiện liên quan đến các khoản nợ đó, nổi tiếng và gần gũi nhất là vụ Hoa Kỳ tranh cãi cho chính quyền mới tại Iraq để phủ nhận mấy trăm tỷ đô la mà chế độ Saddam Hussein đã vay các nước khác, kể cả các nước Âu Châu, để bảo vệ quyền lực và đàn áp người dân!
Giới chuyên gia về luật pháp và tài chánh có thể nghiên cứu và chuẩn bị để sau này dân Venezuela khỏi trả nợ oan uổng cho một chế độ đáng ghê tởm! Và bài học sắp tới của Venezuela cũng là điều mà người Việt mình nên suy ngẫm cho tương lai
-Nguyễn Xuân Nghĩa 
- Đáng nói hơn thế, trên chính trường và trong doanh trường của các nước, cả hai xu hướng thiên tả và bảo thủ đều có lúc ủng hộ việc vận động ấy. Mục tiêu thật ra rất đa dạng: nhằm xoá nợ cho các nước nghèo - như quan điểm của Giáo hội Vatican với“chương trình “Jubilee 2000” – hoặc hỗ trợ các chế độ dân chủ mới thành hình, ngăn cản hiện tượng vay tiền để tài trợ khủng bố, giải trừ nạn tham ô của các tổ chức quốc tế khi nhắm mắt trước các nghiệp vụ tài trợ bất chính, v.v... Mỗi xu hướng lại quan tâm đến một khía cạnh và hiểu ra sự nhạy cảm của họ là tìm ra cách vận động hữu hiệu trong một hệ thống luật lệ phức tạp.
Bài học cho Việt Nam
Nguyên Lam: Chúng ta trở lại chuyện Venezuela, thưa ông, trong tương lai thì tình hình của các khoản nợ này sẽ xoay chuyển ra sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các lực lượng đấu tranh cho dân chủ tại Venezuela học kinh nghiệm thất bại của họ từ những năm 2002 là phân tán, thiếu phối hợp và không xuống tới quần chúng nên lần này đã có nhiều cuộc tiếp xúc với dân chúng từ dưới cơ sở và vận động quốc tế khiến cuộc khủng hoảng kéo dài từ năm năm có thể sẽ có kết quả. Khi để mất lòng dân, chế độ Maduro biến chất ra ách độc tài và bị lân bang kết án nên sẽ khó tồn tại, nhất là khi binh lính trong quân đội cũng là nạn nhân của tình trạng đói khổ. Từ những bài học đó, những người lãnh đạo Venezuela sau này cũng nghĩ đến gánh nợ sẽ phải trả cho chế độ tiền nhiệm.
- Tôi nghĩ hoạt động quốc tế vận của họ sẽ giải thích và thương thảo rằng việc trừng phạt của các nước cần nhắm vào tay chân của chế độ cũ chứ không thể làm người dân là nạn nhân của việc phong tỏa kinh tế. Sau đó là nêu câu hỏi then chốt, rằng khi chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân và con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không?
Nguyên Lam: Nhưng chủ nợ của Venezuela là các cường quốc độc tài hay các ngân hàng quốc tế có dễ gì xóa nợ hay bị mất vốn hay không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thế giới đã nghiên cứu và nâng trình độ pháp lý tinh vi để khai triển thành một học thuyết có cơ sở khai thông các vấn đề tài chánh khi một chế độ độc tài chuyển sang một chế độ dân chủ. Chuyện quan trọng ở đây gồm có ba điều kiện đã được quốc tế công nhận. Thứ nhất khoản nợ xuất phát từ một chế độ độc tài đã cam kết bí mật, ngoài sự hiểu biết của người dân. Thứ hai, khoản vay mượn không đem lợi ích cho người dân mà chỉ tập trung vào tay chân của chế độ. Thứ ba, các chủ nợ đều có biết khi thương thuyết mà vẫn cho chế độ vay tiền. Rất nhiều khoản nợ của Venezuela đã hội đủ ba điều kiện ấy nên trong một tương lai không xa, giới chuyên gia về luật pháp và tài chánh có thể nghiên cứu và chuẩn bị để sau này dân Venezuela khỏi trả nợ oan uổng cho một chế độ đáng ghê tởm! Và bài học sắp tới của Venezuela cũng là điều mà người Việt mình nên suy ngẫm cho tương lai…
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phỏng vấn kỳ này.


Sunday, January 27, 2019

Venezuela và ‘tâm trạng Việt Nam’-Mạnh Kim


Mạnh Kim là nhà báo độc lập với hơn 20 năm trong nghề chuyên mảng thời sự chính trị quốc tế, cộng tác với nhiều tờ báo trong nước lẫn hải ngoại. Vài năm gần đây, anh tập trung vào các vấn đề thời sự Việt Nam trong tình hình đất nước có nhiều biến động gay gắt.

Venezuela và ‘tâm trạng Việt Nam’
25/01/2019
·         Mạnh Kim

Cuộc chính biến chấn động Venezuela dẫn đến cuộc khủng hoảng ngoại giao tức thì giữa các “ông lớn” cũng đang mang lại “ảnh hưởng” đến dư luận Việt Nam. Người Việt theo dõi sự kiện chính trị xảy ra ở một nước cách xa hơn 17 ngàn cây số với cái nhìn liên tưởng rất gần: Chừng nào đến lượt Việt Nam? Thậm chí có người viết: “Venezuela hôm nay, Việt Nam ngày mai!”… Tâm trạng này đủ để cho thấy người Việt khát khao thay đổi như thế nào. Viễn cảnh bùng nổ “cách mạng nhân dân” ở Việt Nam sẽ xảy ra, nếu những thực tế sau đây được xóa bỏ…
- Cuộc xuống đường rầm rộ phản đối chính phủ độc tài Nicolas Maduro hạ tuần tháng 1-2019 không phải là phản ứng tức thì và bột phát. Nó là kết quả của chuỗi phản kháng gần như chưa bao giờ ngừng kể từ khi Nicolas Maduro lên nắm quyền sau khi Hugo Chávez chết năm 2013. Yếu tố liên tục “giữ lửa” và “nuôi lửa” này gần như chưa bao giờ có ở Việt Nam. Các cuộc xuống đường ở Việt Nam, bất luận quy mô thế nào, cũng đều đi theo sự kiện và chúng nhanh chóng bị dập tắt ngay lúc đó. Đó là chưa kể hình thức biểu tình. Cách thức tổ chức, kêu gọi và hình thức xuống đường luôn tương tự. Lực lượng an ninh không khó khăn để lên kịch bản đàn áp nếu cách thức biểu tình và phương pháp “vận động nhân dân” không thay đổi.
- Việt Nam chưa có những tổ chức xã hội dân sự đủ mạnh để đánh động dư luận và kêu gọi sự đồng lòng ở số đông – theo cách mà chính những tổ chức cộng sản từng làm khi thực hiện “cách mạng nhân dân” lật đổ những “chính quyền thối nát”. Các tổ chức xã hội dân sự cũng chưa xây dựng được sự đoàn kết cần thiết để trở thành lực lượng tập hợp mạnh nhằm có thể trở thành đối trọng với đảng cầm quyền. Những cuộc trà trộn đánh phá nội bộ của an ninh chưa bao giờ bị phát hiện dẫn đến nghi kỵ càng khiến sự đoàn kết trở nên khó khăn. Sẽ rất khó hình thành nên phong trào một cách bền bỉ nếu việc xây dựng tổ chức vẫn tiếp tục loay hoay.
Reuters (26-7-2018) cho biết, gần ¾ tờ báo ở Venezuela đã đóng cửa trong 5 năm (Venezuela xếp 143/180 quốc gia về tự do báo chí theo xếp hạng của Phóng viên không biên giới). Forbes(28-12-2017) cho biết thêm, chỉ trong hai tháng kể từ tháng 4-2017, chính quyền Maduro đã bắt và nhốt tù 66 nhà báo-biên tập viên liên quan các bài viết tường thuật biểu tình chống chính phủ; và ít nhất 49 đài phát thanh bị ngừng hoạt động trong năm 2017. Điều đó cho thấy tự do báo chí dưới thời Maduro là không tồn tại; tuy nhiên, nó cùng lúc cho thấy sự phản kháng trước tình trạng bóp nghẹt tự do báo chí của Venezuela là rất mạnh. Ở Việt Nam (hạng 175 về tự do báo chí), không có phóng viên nào có “thái độ chính trị” để khiến mình vào tù như đồng nghiệp Venezuela. Báo chí Việt Nam có vài tổng biên tập “xé rào” nhưng không có tổng biên tập nào dám xé toạc những “quy định báo chí” để thẳng thắn chỉ trích “đường lối và chủ trương của Đảng”. “Phong trào dân chủ” sẽ rất khó trở thành “phong trào” thật sự nếu hệ thống báo chí chính thống còn lấp ló sau những hàng rào sợ hãi, nếu những nhà báo đang ăn lương không đủ can đảm từ chức tập thể hoặc tuyên bố tự đóng cửa tòa soạn.
- Chính trường Việt Nam hoàn toàn không có chính trị gia chuyên nghiệp. Hệ thống “người của Đảng” kiểm soát mọi thứ, kể cả diễn đàn Quốc hội, nơi có những “đại biểu” vừa ngồi ghế hành pháp, vừa chiếm ghế lập pháp, vừa ôm ghế tư pháp (chưa kể “ghế” chủ doanh nghiệp). Không có chính trị chuyên nghiệp nên “ý kiến” “đại biểu” chỉ thể hiện “ý chí” của tổ chức đảng hơn là ý nguyện người dân. Không có chính trị gia chuyên nghiệp nên khả năng xây dựng lực lượng chính trị đối lập, dẫn đến phản kháng và đảo chính, là zero. Điều này chỉ có thể khác đi hoặc chấm dứt, khi người dân không bao giờ ngừng yêu cầu quyền bầu cử tự do và quyền thiết lập một nền chính trị đa nguyên.
- Phong trào dân chủ Việt Nam gần như không có nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Những tiếng nói đơn lẻ xuất phát từ bức xúc cá nhân dù tạo ra những cơn sóng phẫn nộ gay gắt vẫn dường như chưa đủ mạnh để lay chuyển tận gốc rễ nhận thức xã hội. Việt Nam cần nhiều hơn những người có thể mang lại “cảm hứng” như Trần Huỳnh Duy Thức, những người không chỉ có thể phác họa “con đường mới” cho Việt Nam mà còn có thể lay tỉnh được cơn ngủ vùi của tầng lớp lao động lẫn sinh viên; những người không chỉ có thể giúp xóa được tâm lý sợ hãi của người dân mà còn lay chuyển được cả những ông nghị vốn quen gật hoặc viên chức chính quyền lẫn quân đội…
Thời điểm hiện tại, chính quyền vẫn rất mạnh, xét về khả năng duy trì và bảo vệ chế độ. Họ có một quân đội trung thành, một bộ máy an ninh khổng lồ, một mô hình chính trị cùng “một hệ” xuyên suốt từ trung ương xuống địa phương. Tuy nhiên, chế độ chưa bao giờ hỗn loạn và suy yếu từ bên trong nghiêm trọng như lúc này. Chỉ là hoang tưởng nếu tin rằng chế độ “vững như bàn thạch” trong khi họ không bao giờ ngừng gây oán thán bằng các chính sách bất cận nhân tình. Ngòi nổ liên tục được chính quyền tạo ra. Rơm được chất đống. Chỉ thiếu mồi lửa. Dù chưa có cuộc biểu tình nào đủ sức lật đổ chế độ nhưng ngày càng nhiều có những vụ đơn lẻ mang màu sắc thậm chí tiêu cực hơn chẳng hạn các vụ đánh trả, giết chết công an hoặc các vụ đặt bom ám sát viên chức chính quyền. Tâm lý thù ghét, mất niềm tin, thậm chí khinh bỉ, đối với chính quyền, đang lan rộng, vô phương chặn đứng.
Những người “thuộc nằm lòng” lý thuyết cộng sản đều biết rằng mâu thuẫn xã hội là một trong những nguy cơ lớn nhất đe dọa chế độ cầm quyền. Điều này đang diễn ra mỗi lúc mỗi gay gắt. Những tay “cộng sản trung kiên” cũng biết rõ rằng mâu thuẫn nội bộ là một “đại kỵ” có thể dẫn đến sụp đổ chế độ. Điều này cũng đang bùng nổ. Một cách tổng quát, Việt Nam đang hội đủ “điều kiện” ở giai đoạn “tiên khởi” dẫn đến sự vỡ bờ của một cuộc cách mạng, từ việc bầu cử phi dân chủ; sự thiếu vắng nền tư pháp độc lập; sự bưng bít thông tin và bịt miệng báo chí; sự trấn áp tàn bạo người dân; sự hình thành và bao che tầng lớp đặc quyền đặc lợi; sự tham nhũng hủ hóa cực kỳ nghiêm trọng; đến tình trạng vi phạm thô bạo quyền tư hữu đất đai…
Ở thời điểm này, không ai có thể nghĩ đến khả năng xảy ra chính biến ở Việt Nam. Cũng gần như không ai hình dung có một cuộc cách mạng “long trời, lở đất” lột xác diện mạo chính trị quốc gia. Hiện tại là những khó khăn cần nhiều nỗ lực để vượt qua cho một tương lai dân chủ. Hiện tại cũng đầy khó khăn và thách thức cho tương lai của chính chế độ. Nhà cầm quyền đang lâm vào tình thế bế tắc trong việc tìm chỗ đứng thuyết phục và xây dựng niềm tin người dân, vì họ cùng lúc tước đoạt chỗ đứng người dân và những quyền căn bản của họ. Chẳng ai tin chế độ có thể nhượng bộ thay đổi. Trong khi đó, người dân ngày càng thay đổi cái nhìn về chính quyền. Đó là điều căn bản để tạo ra “bào thai” cho một cuộc cách mạng, ít nhất là cách mạng nhận thức. Từ cách mạng nhận thức đến cách mạng hành động cần một thời gian “ấp ủ”. Vấn đề là sự khát khao thay đổi luôn cần được ấp ủ, luôn cần được nuôi nấng và duy trì, luôn cần được gieo hy vọng, kể cả khi đối mặt những thực tế hiện tại dường như bế tắc…


Vừa khốn nạn vừa ngu, đầu độc làm hỏng bao thế hệ sinh viên


Vừa khốn nạn vừa ngu, đầu độc làm hỏng bao thế hệ sinh viên
Đúng là nói nhiều quá thành nói dại. Không nói ra thì đâu ai có biết là vừa khốn nạn vừa ngu, nói nhiều quá thành nói dại, lộ ra hết cái bản chất chẳng ra gì nếu không muốn nói nặng là vừa khốn nạn lại vừa ngu.
Ông giáo sư tiến sĩ Lê Thẩm Dương này và rất rất nhiều quan chức của cộng sản là những người như thế. Không nói ra thì chẳng ai biết là ngu, mở mồm ra là thiên hạ nhận ra được ngay cái bản chất vừa khốn nạn vừa ngu. Ông ta dạy các học trò của ông ta rằng “Bạn cảm thấy mình có đạo đức là do bạn chưa có cơ hội làm sai mà thôi”. Ông ta đã nói ra cái bản chất đạo đức của mình và dạy các học trò của ông ta về tấm gương đạo đức và lẽ sống, cách sống, kinh nghiệm sống ở đời, ở trong xã hội này của ông ta cho các học trò của ông ta học tập ông ta.
Ông ta nói rằng “bạn cảm thấy mình có đạo đức là do bạn chưa có cơ hội để làm sai mà thôi”. Điều đó có nghĩa là khi có cơ hội thì nhất định bạn sẽ làm sai, sẽ không có đạo đức, bạn sẽ trở thành kẻ khốn nạn vô lương tâm vô đạo đức mà thôi. Thầy dạy học trò hay quá các bạn ạ.
Ông giáo sư, tiến sĩ Lê Thẩm Dương này đã có thâm niên dạy ở trường ngân hàng mấy chục năm nay, số học, sinh sinh viên mà ông đã từng dạy lên đến hàng chục, hàng trăm ngàn sinh viên chứ không ít và nhiều học trò của ông ta đã là những quan chức có địa vị, có quyền lực trong xã hội.
Ông ta là một giáo viên nổi tiếng của trường ngân hàng từ mấy chục năm nay, về trình độ chuyên môn thì không biết và cũng không phải là cái mà tôi đề cập đến ở bài viết này. Nhưng nói về mặt vừa làm nghề giáo viên vừa biết làm ăn, kinh doanh, mánh mung đủ kiểu, lợi dụng đủ thứ các mối quan hệ xã hội với đám học trò làm quan chức để làm giầu và rất giàu có thì ông này là số 1, rất nổi tiếng. Cũng chính vì vậy mà tầm ảnh hưởng của ông ta đối với các học trò là rất lớn, rất nhiều học trò tôn sùng ông và chúng sẽ nuốt từng lời ông dậy về kinh nghiệm sống của ông ta, về cách ông mánh mung và cách ông chớp thời cơ khi có cơ hội để kiếm tiền bất chấp việc kiếm tiền đó có vô đạo đức, có khốn nạn, vô lương tâm hay không, miễn là có cơ hội thì phải kiếm tiền bằng mọi cách. Càng những sinh viên xuất thân từ đói nghèo, từ tầng lớp bần nông, cố nông ở nông thôn ra, những sinh viên là con những gia đình nghèo khổ ở thành thị thì càng muốn học tập tấm gương làm giầu của ông. Ông gieo rắc vào biết bao thế hệ sinh viên cái tư tưởng, cái quan niệm, cái đầu óc làm giầu bằng mọi cách, mọi thủ đoạn một khi có cơ hội, bất chấp đạo đức, bất chấp luân thường đạo lý.
Chế độ cộng sản đã đào tạo ra những giáo viên, những giáo sư đại học như vậy và quay lại những giáo viên, giáo sư này lại đào tạo ra những thế hệ học sinh, sinh viên có tấm gương đạo đức như ông ta, như những gì đảng đã dậy, đã đào tạo ra ông ta.
Nhiều thế hệ học trò của ông ta nay đã là những giám đốc, những cán bộ có chức có quyền trong hệ thống chính quyền và trong các doanh nghiệp nhà nước của đảng Cộng sản.
Ông ta và cái quan niệm sống của ông ta cũng chỉ là một cái gì đó rất phổ biến trong giáo viên, giáo sư, trong hệ thống giáo dục, hệ thống đại học dưới chế độ cộng sản. Nó cũng không phải là trường hợp cá biệt gì đối với riêng trường ngân hàng mà nó là sự phổ biến trong toàn bộ hệ thống giáo dục, hệ thống đại học dưới chế độ cộng sản, trong đó có cả cái trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Càng những trường có nhiều cán bộ cao cấp của đảng đi học như trường đảng, cao cấp chính trị Nguyễn Ái Quốc thì tư tưởng, quan niệm và cách sống như thế còn phổ biến hơn. Một môi trường và hệ thống giáo dục dưới chế độ cộng sản như vậy bảo sao mà dưới chế độ cộng sản nạn tham ô, tham nhũng của những cán bộ chính quyền, những đảng viên Cộng sản nó không phổ biến và vô cùng khốn nạn như vậy.
Chỉ có dưới chế độ cộng sản người ta mới tìm đủ mọi cách để chui vào đảng, vì chỉ có cách đó họ mới có cơ hội thăng quan, tiến chức, mới có quyền hành và từ có quyền mới có cơ hội để kiếm được thật nhiều những đồng tiền bẩn, những đồng tiền bất chính, bất lương, và bất minh dưới đủ các hình thức tham ô tham nhũng, về kinh tế và về quyền lực, kể cả đi ăn cướp dưới đủ loại hình thức, đủ loại chiêu trò, thủ đoạn.
Có lẽ ông tiến sĩ Lê Thẩm Dương này đã nhầm, đúng là nói nhiều quá, hoá nói dại, nói ngu. Bản chất khốn nạn không biết dấu mà lại còn khoe ra đúng là vừa khốn nạn, vừa dại, lại vừa ngu. Có lẽ về vấn đề này ông tiến sĩ thua xa Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thị Kim Ngân, những người này họ luôn miệng nói về những điều tốt đẹp, đạo đức chứ không ai dại gì nói ra hay lại đi khoe về cái bản chất khốn nạn của mình như ông tiến sĩ này. Ị xong thì đậy cái nắp bô lại chứ không ai lại đi mở tung ra như thế cả ông tiến sỹ ạ.
Ông phải hiểu rằng, người có đạo đức, được sinh ra trong một gia đình có truyền thống giáo dục gia đình tốt sẽ biết phân biệt thế nào là tốt, thế nào là xấu. Truyền thống tốt đẹp của gia đình sẽ là lá chắn, là thứ kháng sinh nội sinh để người ta có sức đề kháng, tránh được những cám dỗ không tốt của xã hội, của đồng tiền, của những ham muốn tầm thường…, biết ngưng lại và tránh xa khi cảm thấy hành vi đó là phi đạo đức, không phù hợp với luân thường, đạo lý. Còn những kẻ không có truyền thống giáo dục gia đình tốt sẽ rất dễ bị xa ngã trước những cám dỗ của xã hội và nhiều khi họ còn không phân biệt được thế nào là tốt, thế nào là xấu. Họ không hiểu được những điều gì tuyệt đối không được làm và không nên làm vì nếu không sẽ làm ảnh hưởng tới truyền thống của gia đình, làm xấu hổ cả gia đình, dòng họ, dòng tộc của họ.
Những người cộng sản phần lớn xuất thân từ bần nông, cố nông, công nhân, không được học hành, thiếu giáo dục lại sinh ra trong những gia đình nghèo hèn, địa vị xã hội thấp kém, không có truyền thống giáo dục gia đình tốt nên họ rất dễ bị xa nghĩa trước những cám giỗ xấu xa, bẩn thỉu trong xã hội, nhất là cái xã hội đã quá xuống cấp về đạo đức dưới chế độ cai trị độc quyền, độc tài cộng sản. Bảo sao mà đạo đức xã hội không càng ngày càng xuống cấp và nạn tham ô tham nhũng và nạn ăn cướp càng ngày càng lộng hành và trắng trợn dưới chế độ cai trị độc tài này của cộng sản.
Nguyễn Thắng Lợi/ Facebook


Trung Quốc: Lời tỷ phú Soros chỉ trích Tập Cận Bình 'vô nghĩa'


Trung Quốc: Lời tỷ phú Soros chỉ trích Tập Cận Bình 'vô nghĩa'
25/01/2019
·         Reuters

·         Lời chỉ trích của tỷ phú người Mỹ George Soros nhằm vào Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thật “vô nghĩa”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói hôm thứ Sáu, 25/1, sau khi nhà đầu tư và nhà từ thiện Mỹ gọi ông Tập là “đối thủ nguy hiểm” nhất thế giới đối với xã hội cởi mở.
Ông Soros, người thúc đẩy các sự nghiệp vì tự do thông qua các tổ chức từ thiện của mình, phát biểu hôm 24/1 tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, rằng Trung Quốc là chế độ độc tài giàu có, mạnh mẽ và có công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới.
“Điều này làm cho ông Tập Cận Bình trở thành đối thủ nguy hiểm nhất đối với các xã hội cởi mở”, ông Soros nói.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh, khi được hỏi về lời phát biểu trên, đã nói rằng những phát biểu của một số cá nhân “làm lẫn lộn giữa đúng và sai” là những lời “vô nghĩa và không đáng tranh cãi”.
“Chúng tôi hy vọng người Mỹ đó có thể sửa chữa thái độ của mình, không bị thiển cận và có quan điểm khách quan, hợp lý và đúng đắn về sự phát triển của Trung Quốc”, bà Hoa nói với các phóng viên tại một cuộc họp báo thường kỳ.
Ông Tập đã chỉ đạo một cuộc đàn áp giới bất đồng chính kiến kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2012, với hàng trăm luật sư và các nhà hoạt động nhân quyền bị bắt giữ. Hàng chục người đã bị bỏ tù.
Ông Soros nói ông Tập đang thúc giục các công ty công nghệ Trung Quốc phát triển trí thông minh nhân tạo và một hệ thống chấm điểm xã hội mới mẻ sẽ giúp nhà nước độc đảng của Trung Quốc có quyền cai trị thống soái.
Ông Soros cho rằng Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump nên thôi tranh chấp thương mại với các nước khác và tập trung vào Trung Quốc, đồng thời trấn áp các công ty công nghệ Trung Quốc, như Huawei Technologies Co Ltd và ZTE Corp, là hai hãng mà Trung Quốc có thể sử dụng để củng cố quyền kiểm soát độc đoán.


Người Mỹ không hiểu 'tiếng Anh mỉa mai' đầy ẩn ý của người Anh


Người Mỹ không hiểu 'tiếng Anh mỉa mai' đầy ẩn ý của người Anh
·         12 tháng 1 2019
Chúng ta hay nghĩ người Anh và người Mỹ sẽ không gặp bất kỳ khó khăn nào trong việc giao tiếp bởi cả hai đều có một ngôn ngữ chung và có nhiều điểm chung về văn hóa, lịch sử và chính trị.
Tuy nhiên theo YouGov, một trong những công ty khảo sát uy tín nhất của Anh vừa phát hiện ra, có nhiều câu nói thường ngày của người Anh đã bị người Mỹ hiểu hoàn toàn khác.
Theo như lời của YouGov, "một nửa số người Mỹ sẽ không nhận ra rằng người Anh đang nói họ là một tên đần".
Cụm từ "with the greatest respect" (với sự tôn trọng lớn nhất) được hầu hết người Anh sử dụng theo nghĩa "I think you are an idiot" (Tôi nghĩ anh là một thằng đần), nhưng gần một nửa số người Mỹ lại hiểu là "I am listening to you" (Tôi đang lắng nghe anh đây).
YouGov đã tiến hành cuộc khảo sát này với khoảng 1.700 người Anh và 1.900 người Mỹ, và hỏi họ những cụm từ giải nghĩa nào phù hợp nhất theo cách hiểu của họ.
Người Anh nói...
Ý của người Anh là...
Người khác hiểu...
I hear what you say (Tôi nghe anh nói rồi)
I disagree and do not want to discuss it further (Tôi không đồng ý và không muốn thảo luận thêm nữa)
He accepts my point of view (Anh ta chấp nhận quan điểm của tôi).
With the greatest respect... (Với sự tôn trọng lớn nhất...)
I think you are an idiot (Tôi nghĩ anh là một thằng đần)
He is listening to me (Anh ta đang lắng nghe tôi).
That's not bad (Nó không tệ)
That's good (Nó tốt đấy)
That's poor (Nó tệ)
That is a very brave proposal (Đó là một lời đề nghị dũng cảm)
You are insane (Anh bị điên à)
He thinks I have courage (Anh ta nghĩ tôi dũng cảm)
Quite good (Khá tốt)
A bit disappointing (Hơi thất vọng)
Quite good (Khá tốt)
I would suggest... (Tôi muốn đề nghị...)
Do it or be prepared to justify yourself (Hãy làm theo đi hoặc là chuẩn bị tinh thần để mà tự lý giải cho bản thân)
Think about the idea, but do what you like (Thử nghĩ về ý tưởng này, nhưng hãy làm cái anh muốn)
Oh, incidentally/by the way (Oh, và tiện thể...)
The primary purpose of our discussion is... (Mục đích chính của cuộc trò chuyện của chúng ta là...)
That is not very important (Oh, và cũng không quan trọng lắm đâu...)
I was a bit disappointed that(Tôi khá là thất vọng là...)
I am annoyed that(Tôi khá là khó chịu là...)
It doesn't really matter(Nó không thực sự quan trọng lắm - vì chỉ khá là thất vọng thôi)
Very interesting (Rất thú vị)
That is clearly nonsense (Rõ ràng là vớ vẩn)
They are impressed (Họ rất ấn tượng, thích thú)
I'll bear it in mind (Tôi sẽ suy nghĩ)
I've forgotten it already (Tôi quên ngay rồi)
They will probably do it (Họ có thể sẽ cân nhắc điều đó)
I'm sure it's my fault (Tất nhiên đó là lỗi của tôi)
It's your fault (Đó là lỗi của anh)
Why do they think it was their fault? (Tại sao họ lại nghĩ đó là lỗi của họ nhỉ?)
You must come for dinner (Bạn phải đến ăn tối với chúng tôi đấy)
It's not an invitation, I'm just being polite (Đây không phải là lời mời, tôi chỉ lịch sự thôi)
I will get an invitation soon (Tôi sẽ sớm nhận được giấy mời từ họ)
I almost agree (Tôi gần như đồng ý)
I don't agree at all (Tôi không đồng ý chút nào)
He's not far from agreement (Anh ta cũng khá đồng ý rồi)
I only have a few minor comments (Tôi chỉ thấy có một vài vấn đề nhỏ)
Please re-write completely (Làm ơn viết lại từ đầu đi)
He has found a few typos (Anh ta tìm thấy vài lỗi đánh máy)
Could we consider some other options? (Chúng ta có thể cân nhắc các lựa chọn khác không?)
I don't like your idea (Tôi không thích ý tưởng của anh)
They have not yet decided (Họ vẫn chưa quyết định)
Tuy họ vẫn có một điểm chung là cả người Mỹ và Anh đều hiểu câu "I was a bit disappointed that" (Tôi khá là thất vọng ...) là một cách lịch sự để nói "I am annoyed that" (Tôi khá là khó chịu ...)
Nhưng hầu hết người Anh đều dùng hai câu "I'll bear it in mind" (Tôi sẽ suy nghĩ) và "I hear what you say" (Tôi nghe anh nói rồi) là một cách để dập tắt cuộc đối thoại.
Người Anh hay có cách nói châm biếm, mỉa mai (passive-aggressive) trong khi người Mỹ thì có cách nói và tư duy thẳng thắn hơn
Nhiều người Mỹ làm việc tại Anh cũng than phiền về cách nói ẩn ý, nói giảm nói tránh và hay nói vòng vo của người Anh.
Nhưng người Mỹ đâu phải là không biết nói mỉa mai, họ đôi khi cũng nói giảm nói tránh vì muốn lịch sự.
Người Mỹ nói...
Có nghĩa là....
I love it! You just don't CARE, do you? (Tôi thích nó! Anh đúng là chẳng hề ngại ngùng tí nào nhỉ?)
What the hell did you just do? I'm dying of embarrassment here (Anh vừa làm cái quái gì vậy? Tôi muốn chết vì xấu hổ đây)
Oh, you can get away with it, you're British (Ồ, anh sẽ được bỏ qua thôi, vì anh là người Anh mà)
An American wouldn't be seen dead wearing what you're wearing or doing what you just did (Một người Mỹ sẽ không bao giờ mặc cái anh đang mặc, hay làm cái điều anh vừa làm đâu)
Bless her heart! (Phước lành cho trái tim cô ấy)
This phrase is a bit of a put down, effectively allowing the speaker to slag off someone without recrimination. (Một kiểu nói coi thường, chỉ trích, chê bai nhưng không muốn nghe có vẻ đả kích.)
Người Anh có thể nghĩ họ tinh túy hơn trong nghệ thuật châm biếm của họ, nhưng thật ra thì người họ hàng xa ở bên kia Đại Tây Dương chẳng qua là có một kiểu châm biếm khác mà thôi, và họ có thể trở nên rất mỉa mai khi cần.

Tin liên quan
·        

·        

·        

·        

·        

·        

Đọc nhiều nhất
·         4Phúc đápCập nhật lúc: 22 tháng 7 năm 2011
·         5Một số cách vượt tường lửa để đọc tin BBCCập nhật lúc: 24 tháng 9 năm 2018
·         6Gửi ý kiến của bạnCập nhật lúc: 11 tháng 10 năm 2016
https://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-46848993