Wednesday, August 29, 2018

Trường hợp Malaysia - Nguyễn Xuân Nghĩa


Trường hợp Malaysia
Nguyễn Xuân Nghĩa
2018-08-29
Lên lãnh đạo xứ Malaysia lần thứ nhì ở tuổi 93, Thủ tướng Mohamad Mahathir vừa thăm viếng Trung Quốc trong bốn ngày và đã đưa ra nhiều quyết định mới trong quan hệ với Bắc Kinh. Chúng ta có thể rút tỉa những bài học gì từ trường hợp của Malasyia, Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu sau đây...
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, Thủ tướng Mohamad Mahathir của Malaysia vừa thăm viếng Trung Quốc trong bốn ngày và sau khi lên cầm quyền lần thứ nhì ở tuổi 93, ông đã lấy nhiều quyết định gây chú ý trong dư luận các nước Đông Nam Á. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về trường hợp của Malaysia và thính giả của chúng ta có thể tự hỏi xem Việt Nam có thể rút tỉa được những bài học gì... Nguyên Lam xin kính mời ông bắt đầu.
Đất nước Mã Lai và bác sĩ Mahathir
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Malaysia quả thật là trường hợp đặc biệt ta nên tìm hiểu. Trước hết, về địa dư thì xứ này có hình thể lạ kỳ là lãnh thổ bị chia hai trên vùng biển Đông Nam Á. Tại hướng Tây là khu vực bán đảo tiếp giáp với Thái Lan và tiếp cận với Singapore cùng Indonesia và eo biển Malacca dài gần 900 cây số. Tại hướng Đông là mạn Bắc của Hải đảo Bornéo, tiếp giáp với hai xứ Brunei và Indonesia và tiếp cận với Philippines. Với diện tích bằng Việt Nam mà dân số chỉ chừng một phần ba, người dân xứ này có lợi tức bình quân một đầu người cao hơn bốn lần lợi tức của dân Việt Nam.
Vào Tháng Sáu vừa qua, ông Mahathir nói về kinh nghiệm của Trung Quốc khi triều Mãn Thanh khi phải ký kết các “hiệp ước thiếu cân đối”, vì là một nước lạc hậu vì các cường quốc chèn ép từ giữa thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20. Lời phát biểu đó cảnh bảo các nước đang phát triển hoặc chưa mở mang và nay bị một cường quốc chèn ép chính là Trung Quốc.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
- Về lịch sử, Malaysia giành được độc tập từ Đế quốc Anh cách nay 71 năm, vào ngày 31 Tháng Tám năm 1957, sau đó cũng gặp hiểm họa cộng sản như nhiều nước Đông Nam Á khác mà lại thoát và khởi sự hiện đại hóa từ sau thập niên 60 của thế kỷ trước. Về chính trị, Malaysia là nước quân chủ lập hiến, là có một ông vua làm quốc trưởng, mà theo thể chế dân chủ đại nghị, với Thủ tướng là người lãnh đạo đảng đa số, kết hợp ba sắc tộc chính gồm hơn hai phần ba là người Mã Lai Đa Đảo, họ gọi là “bumiputera” theo Hồi giáo, một phần tư là người gốc Hoa và dân gốc Ấn thì có chừng 7%. Bài học đầu tiên ta nên chú ý là Malaysia vẫn cố gắng xây dựng nền dân chủ và thực tế thì đã tiến xa hơn Việt Nam.
Nguyên Lam: Nguyên Lam thấy rằng lãnh đạo một quốc gia khá đa diện và phức tạp như vậy có lẽ không dễ, ông nghĩ thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta bước qua phần hai và nói đến nhân vật thời sự là Bác sĩ Mahathir. Là người thuộc sắc tộc Mã Lai, ông có ý thức quốc gia hơn ý thức giai cấp hay sắc tộc, và hoạt động chính trị từ năm 1964, ở tuổi 39, ông góp phần vào việc hiện đại hóa một quốc gia nông nghiệp đa chủng tộc thành một nước công nghiệp. Lãnh đạo một đảng chính trị chiếm đa số khá lâu, ông làm Thủ tướng gần 22 năm, từ năm 1981 đến 2003 và coi như về hưu khi gần 80 tuổi.
- Mười năm sau khi làm Thủ tướng, vào năm 1991, ông phát động một kế hoạch gọi là Viễn ảnh 2020 để xây dựng một nền móng kinh tế, xã hội, chính trị và giáo dục cho một nước công nghiệp hóa hiện đại. Khi ấy, ông chủ trương hợp tác với kinh tế Trung Quốc để tìm lực đẩy cho quốc gia. Ngày nay, ông Mahathir xuất hiện trở lại và lập ra một đảng khác khi thấy quốc gia sa sút và chính trị bị tham nhũng đục khoét, đối ngoại thì bị Trung Quốc lũng đoạn.
- Sau khi thắng cử, ông xin quốc vương ân xá một đối thủ chính trị năm xưa là ông Anwar Ibrahim, để ông này có thể kế nhiệm mình trong vài ba năm tới. Trong lần nhậm chức Thủ tướng trước đây, ông cũng rút tỉa được nhiều bài học về sai lầm và nhất là kinh nghiệm từ vụ khủng hoảng Đông Á vào năm 1997.
Nguyên Lam: Chuẩn bị cho chương trình tuần này, Nguyên Lam cũng nhớ rằng ngay từ năm 1997, ông đã phân tích những nguyên nhân khủng hoảng tại Đông Á và trường hợp của Malaysia vào thời đó. Ngày nay, ông cho rằng Thủ tướng Mahathir nghĩ sao và muốn làm gì?
Thủ tướng Mahathir, suy nghĩ và hành động
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thời ấy, ông Mahathir đổ lỗi cho giới đầu tư Tây phương mà thật ra không thấy nhiều sai lầm của các quốc gia đang phát triển. Ngày nay, có lẽ ông đã hiểu rằng muốn phát triển với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, các nước kém mở mang cần một chiến lược kinh tế có thể cân bằng các lực đẩy như đầu tư của công quyền và tư doanh được tài trợ bằng nỗ lực tiết kiệm thay vì trông cậy vào bội chi ngân sách và vay mượn nước ngoài. Hai mối nguy của vay mượn là đô la Mỹ hay tiền tài trợ của Trung Quốc. Đô la Mỹ có thể lên giá làm kinh tế khủng hoảng và tiền bạc của Trung Quốc sẽ làm chính trị của quốc gia sụp đổ. Có lẽ chúng ta nên nhìn vào một bối cảnh lâu dài thì mới phần nào hiểu ra chủ trương của ông Mahathir.
Nguyên Lam: Xin đề nghị ông nhắc lại về bối cảnh lâu dài đó.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vốn nghi ngờ các nước Tây phương vì chủ nghĩa thực dân, ông Mahathir hoạt động chính trị khi Trung Quốc lâm khủng hoảng vì cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản Vĩ đại của Mao Trạch Đông và tính chất cực đoan hoang tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng lên cầm quyền sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách kinh tế và tạo ra thời kỳ tăng trưởng chưa từng thấy tại Trung Quốc nên có lẽ Mahathir cũng đã học hỏi nhiều, nhất là sau khi phát động kế hoạch năm năm lần thứ sáu gọi là “Viễn ảnh 2020” vào năm 1991 mà tôi nói ở trên. Ngày nay, Viễn ảnh 2020 đó đã thất bại vì năng suất sút giảm, ngân sách bị bội chi, và tham nhũng lây lan lại còn dẫn tới sự lệ thuộc vào Trung Quốc.

- Bây giờ, khi Tập Cận Bình tập trung quyền lực tại Trung Quốc và có chính sách bành trướng cả an ninh lẫn kinh tế qua kế hoạch “Nhất Đới Nhất Lộ, Thủ tướng Malaysia đang ngẫm nghĩ về số phận của một nước Đông Nam Á nằm trên con đường bành trướng của Bắc Kinh. Từ trường hợp Malaysia, chúng ta đang chứng kiến một thay đổi lớn trong khu vực....
Nguyên Lam: Từ một người đã làm Thủ tướng trong hơn hai chục năm và ngày nay vẫn ra lãnh đạo xứ sở khi đã hơn chín mươi tuổi, chắc hẳn rằng ông Mahathir có nhiều kinh nhiệm xử trí như ông Nghĩa vừa tóm lược ở trên. Thưa ông, riêng với Trung Quốc thì ông Mahathir nghĩ sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đầu tiên, mới lên làm Thủ tướng, ông Mahathir đã lấy quyết định cải sửa những sai lầm và tai hại của hai Chính quyền trước, nhất là tình trạng tham nhũng và cấu kết khi cầm quyền quá lâu làm xứ sở bị thế lực tiền tài của Trung Quốc khuynh đảo. Phản ứng của nước Úc và New Zealand lẫn Philippines về sự lũng đoạn của Trung Quốc cũng có nét tương tự.
- Sau khi nhậm chức, ông Mahathir chuẩn bị thoát khỏi ảnh hưởng tai hại của Bắc Kinh qua nhiều quyết định liên hệ đến các dự án xây dựng hạ tầng của Trung Quốc trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ. Ông đưa ra một phát biểu có tính chất cảnh báo cả Bắc Kinh lẫn các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á.
Nguyên Lam: Theo dõi sự tình từ lâu, xin đề nghị ông  nói tới lời phát biểu có tính chất cảnh báo đó của Thủ tướng Malaysia.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vào Tháng Sáu vừa qua, ông Mahathir nói về kinh nghiệm của Trung Quốc khi triều Mãn Thanh khi phải ký kết các “hiệp ước thiếu cân đối”, vì là một nước lạc hậu vì các cường quốc chèn ép từ giữa thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20. Lời phát biểu đó cảnh bảo các nước đang phát triển hoặc chưa mở mang và nay bị một cường quốc chèn ép chính là Trung Quốc.
- Đấy là nguyên nhân ông hủy bỏ một số dự án trị giá tới 23 tỷ đô la do chính quyền tiền nhiệm ký kết với Bắc Kinh. Tuần qua, trong cuộc họp báo bên Tổng lý Quốc vụ viện của Trung Quốc là Thủ tướng Lý Khắc Cường, Thủ tướng Malaysia còn từ chối tái xét các dự án đó và nói đến một hiện tượng “thực dân” mới trong khu vực. Tôi chưa thấy lãnh tụ nào tại Đông Nam Á nói thẳng như vậy!
- Nhưng trong chuyến thăm viếng Trung Quốc vừa rồi, ông Mahathir vẫn xúc tiến một số hợp đồng kinh tế có lợi cho Malaysia chứ không đứng hẳn vào chủ trương chống Tầu. Nghĩa là dù có tiền và có súng, Bắc Kinh vẫn cần mua chuộc các nước đang phát triển chứ không dễ gì tự tung tự tác.
- Chúng ta không quên xứ Malaysia nằm trên con đường hàng hải chiến lược vì chuyên chở tới 80% lượng dầu thô nhập vào Trung Quốc và khoảng 50% số hàng xuất khẩu của Bắc Kinh. Nay lãnh tụ của Malaysia không muốn xứ sở là chư hầu của Trung Quốc hay nằm trong sổ lương của Bắc Kinh. Nhờ có bầu cử dân chủ, ý nguyện của người dân đã được thể hiện: Thủ tướng trước thì vào tù vì tham nhũng, thủ tướng vừa lên cầm quyền thì có thái độ cứng rắn hơn với Bắc Kinh.
Nguyên Lam: Nếu nhìn như vậy thì Malaysia nằm trên bậc thềm của Con Đường Tơ Luạ trên biển và Việt Nam lại nằm ngay tại một cửa biển của Trung Quốc. Hai quốc gia này có hoàn cảnh địa dư gần như tương tự mà vì sao lại có hai lập trường hơi khác biệt thưa ông?
Khác biệt giữa Việt Nam và Malaysia
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì lý do lịch sử hơn địa dư, thế thôi! Nôm na là vì Malasyia thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản trên con đường giành lại độc lập. Kết hợp cả hai lý do thì trong khi lãnh đạo Malaysia xét lại toàn bộ bước tiến của Trung Quốc thì lãnh đạo Hà Nội lại muốn mở cửa Vân Đồn và mời chào Trung Quốc vào Phú Quốc!
- Nói về Malasyia, Thủ tướng Mahathir cho hủy bỏ hai dự án thiết lộ nối liền Con Minh từ tỉnh Vân Nam qua Lào và Thái tới hai bờ biển Tây và Đông của Malaysia, dù đã mất năm tỷ đô la xây dựng được một đoạn khá dài. Ngoài ra còn các dự án khác cũng đã bị hủy, như hai ống dẫn khí, và nhất là dự án địa ốc vĩ đại là Forest City cũng vừa bị cấm không cho ngoại quốc bỏ tiền vào đầu tư. Kinh nghiệm của Thủ tướng cũ đang ngồi tù là ông Najib Razak cho thấy là càng tham nhũng thì xứ sở lại càng lệ thuộc vào đồng tiền của Bắc Kinh, là điều khởi sự từ năm 2015.
Nguyên Lam: Câu chuyện về Malaysia quả thật là hấp dẫn, nhưng thời lượng có hạn nên chúng ta vẫn phải tổng kết. Thưa ông, ông kết luận thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng ta mới chỉ có thể sơ kết thôi. Một số quốc gia trên con đường bành trướng của Bắc Kinh, như Pakistan, Sri Lanka, đều đang xét lại cái giá của kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ. Malaysia thì có vẻ quyết liệt nhất.
- Thứ hai, Thủ tướng Mahathir không muốn xứ sở trở thành một tiền đồn chống Trung Quốc làm gì, nhưng đang tìm một con đường an toàn hơn cho xứ sở. Chẳng phải ngẫu nhiên, từ khi nhậm chức, ông đã hai lần gặp Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Có lẽ ông tìm sự cân bằng của các cường quốc để xứ sở khỏi bị một cường quốc bá quyền là Trung Quốc ngày nay thôn tính ngay từ bên trong. Vẫn còn quá sớm để nói về chủ thuyết Mahathir, có khi ta phải đợi ngày ông Anwat Ibrahim lên lãnh đạo, nhưng bài học quan trọng nhất vẫn là nền dân chủ cho phép người ta sửa sai.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn tuần này.


Cuộc chiến leo thang - Ký Thiệt


Cuộc chiến leo thang
Ký Thiệt
Ngày 27.7.2018, tờ Politico loan tin theo tiết lộ của bốn cựu nhân viên an ninh, vào đầu thập niên 2000, một nhân viên tại văn phòng ở San Francisco của Nghị sĩ  Dianne Feinstein được phát hiện là một mật báo viên của Bộ An ninh Trung cộng, làm việc trực tiếp với tổ gián điệp nằm trong Lãnh sự Quán Trung Cộng tại San Francisco. Khi tên gián điệp này, giữ vai trò liên lạc với cộng đồng người gốc Hoa trong vùng, bị sa thải, y đã không bao giờ bị truy tố, l‎ý do là vì y chỉ cung cấp những tin tức chính trị, và không phải là tin mật.
Không phải chỉ có FBI không khởi tố tên gián điệp này, Nghị sĩ Feinstein đã chỉ lẳng lặng sa thải tên này mà không cho những nhân viên khác trong văn phòng biết lý do.
Tên gián điệp Trung cộng này đã xâm nhập văn phòng của Bà Feinstein trong 20 năm, trong khi bà là một nghị sĩ thâm niên của đảng Dân Chủ tại Thượng Viện Hoa Hoa Kỳ và từng là chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng viện. Vậy mà tin quan trọng này đã không hề được các đài truyền hình của TTDC (Truyền Thông Dòng Chính) nhắc đến, từ CNN đến MSNBC, ABC, CBS hay NBC.
Chỉ có tờ The San Francisco Chronicle và Fox News làm tin về vụ này. TTDC đã hoàn toàn làm ngơ về vụ tai tiếng này của Nghị sĩ Dân Chủ Feinstein, mà với vai trò chủ tịch Ủy ban Tình báo, bà ấy nắm giữ nhiều tin mật có thể là cực kỳ giá trị cho Trung cộng, trong khi lại say sưa làm rùm beng vụ FBI bắt giữ Dân biểu Cộng Hòa Chris Collins ngày 8 tháng 8 về tội vi phạm luật về thị trường chứng khoán.
Cũng vậy, từ hơn một năm qua, gần như không có ngày nào mà TTDC không nói tới chuyện ông Trump “thông đồng” với người Nga trong cuộc bầu cử năm 2016. Trong khi “tham vấn viên độc lập” Robert Mueller với quyền hành rộng rãi vô giới hạn để điều tra, cho đến nay vẫn là một cuộc “săn bắt phù thủy”, không tìm được dây mơ rễ má nào về sự thông đồng giữa ông Trump và người Nga thì TTDC Mỹ vẫn chĩa mũi dùi tấn công, đả kích mọi mặt, mọi việc  nhắm vào ông tổng thống Hoa Kỳ thứ 45 như đánh kẻ thù chung của họ.
Bình luận về vụ này trên Fox News Channel, Sean Hannity, “cây nói” vừa được Talkers Magazine bình và bầu là người sáng giá nhất trong hàng trăm nhà bình luận thời sự trên các đài phát thanh Mỹ, phán rằng “báo chí đã chết”  (journalism is dead), ý‎ nói TTDC Mỹ đã chết. Không phải nói một lần mà trước đây Hannity đã tuyên bố như vậy nhiều lần.
Nhiều người đã đồng ‎ý với nhận định của Hannity, và nói thêm rằng báo chí đã “chết” không phải vì bị ai giết nhưng trong khi cố “giết chết” ông Trump thì TTDC đã tự ăn thịt chính mình. Thật vậy, tôn chỉ của người làm báo là công bằng (fair) và cân bằng (balance).
Từ khi Donald Trump trở thành tổng thống Hoa Kỳ, TTDC đã bỏ rơi tôn chi này và ngả hẳn về phía đảng Dân Chủ, mở cuộc chiến tranh toàn diện, toàn lực chống ông Trump với những tin thất thiệt (fake news), bình luận thiên lệch và ác ý.
Thật ra, cử tri đã biết ông Trump phải đương đầu với giới báo chí thù nghịch từ khi ra tranh cử tổng thống, và đã kéo dài không ngừng nghỉ cho tới bây giờ, bằng cách sản xuất hằng hà sa số những tin tức và bình luận tiêu cực chưa từng thấy, nhắm vào chiến dịch vận động tranh cử của ông ta, vào chính ông ta, và vào chính phủ của ông ta trong suốt hai năm qua. Và, cuộc tấn công ác liệt của TTDC đã bị phản ứng ngược của quần chúng. Dân Mỹ ngày nay chán ghét TTDC cũng gần như TTDC thù ghét ghét ông Trump vậy. Gậy ông đập lưng ông!
Trong khi đó, TT Trump đã tiếp tục duy trì đầy kho vũ khí để chống trả những kẻ thù trong giới báo chí. Ông ta có một bộ tham mưu can trường, không bao giờ sợ hãi. Ông ta có mối quan hệ tốt đẹp với một nhúm cơ quan ngôn luận đầy quyền lực hậu thuẫn mình. Ông ta qua mặt TTDC với chiến thuật “tweet” và truyền thông mạng làm việc suốt ngày đêm.
Nhưng, có lẽ quan trọng hơn cả, ông Trump là một người làm ra tin tức bất khả kháng và một bậc thầy trong việc tạo ra một đòn phản công khôn khéo, ông ta vừa chọc giận vừa lôi cuốn các nhà báo tấn công mình vào một cuộc tranh cãi lẫn nhau rồi cấp tốc tạo ra một câu chuyện để trả đòn.
Nhưng chưa hết, ông Trump tiếp tục cho phổ biến những thăm dò công luận nghiêm chỉnh của chính mình mà bản mới nhất là một tập họp gồm 27 câu hỏi được ông diễn tả là một “Thăm dò về trách nhiệm của TTDC để cho giới truyền thông thấy rằng dân Mỹ đã chán ngấy với bộ máy chuyên sản xuất tin bịa đặt”.
TTDC rất tức giận về việc TT Trump liên tục kêu ca “fake news” và ông thường phóng đại, gọi những nhà báo đi theo con đường ấy là “những kẻ thù của dân Mỹ”.
Nhiều ký giả đã so sánh ông Trump với những tên đồ tể độc tài như Stalin và Hitler vì ông ta cũng thù ghét báo chí như mấy bạo chúa cộng sản và tên trùm Quốc Xã Đức.
Victor Davis Hanson, một sử gia của Viện Hoover tại Đại Học Stanford, trong một bài đăng trên trang “Commentary” Nhật báo The Washington Times ra ngày 9.8.2018 đã viết như sau:
Có lẽ ông Trump đã hơi thô lỗ với các ký giả, nhưng giới báo chí cũng không hẳn là vô tội. Họ đã tự đem nhiều hù dọa hiện nay đến cho chính họ trong những phương cách khác nhau.
Giới truyền thông dường như không mấy quan tâm tới những tường trình thiên lệch của họ dù rằng thăm dò dư luận cho thấy đại đa số dân Mỹ tin rằng giới truyền thông loan tin bịa đặt một cách cố ý.
Thật vậy, “fake news” không phải là một phóng đại của Trump. Mặc dù có tường trình rằng ông Trump đã dẹp bỏ bức tượng Martin Luther King trên kệ trong Văn phòng Bầu dục Tòa Bạch Ốc, sự thật là bức tượng vẫn còn đó. Điều trần của cựu Giám đốc FBI James Comey tiết lộ nhân viên cao cấp trong ban vận động tranh cử của ông Trump không tham khảo với “các viên chức tình báo cấp cao Nga”, như The New York Times đã loan tin.
Trong cuộc phỏng vấn của NBC, Vladimir Putin bác bỏ có tin tức về sự điều đình với ông Trump, khi trước đó chính NBC đã loan tin ông Putin đã không chối bỏ có tin tức như vậy.
Mặc dù có những tường trình cuồng nhiệt rằng trong cuộc điều trần trước Quốc hội, ông Comey sẽ phản bác tuyên bố của ông Trump rằng ông Comey đã cam kết với ông ta là ông ta không đang bị điều tra, trái lại, ông Comey đã xác nhận câu chuyện do ông Trump đưa ra.
Bản danh sách những tin bịa đặt còn dài. Nhận xét chung là dù chúng chỉ là những lăng mạ bừa bãi, chúng được nhiều người xem như có mục đích cao hơn là nhằm truất quyền tổng thống của ông Trump.
Duyệt lại những bài báo về 100 ngày đầu tiên nhiệm kỳ tổng thống của ông Trump, Trung Tâm Shorenstein chuyên về Truyền thông, Chính trị và Chính sách Công cộng thuộc Trường Harvard Kennedy đã cho thấy những tin tức với một luận điệu rõ rệt, 80 phần trăm của các câu chuyện về ông Trump mang tính tiêu cực, 20 phần trăm tích cực.
Những nhà báo xếp hạng từ Christiane Amanpour tới Jorge Ramos tới Jim Rutenberg đã cãi rằng những luật lệ về sự tường trình trung thực không còn cần thiết phải áp dụng khi nói về ông Trump…
Các ký‎ giả thường xuyên lăng mạ ông tổng thống với sự thô bạo tối đa mà họ có thể làm. Julia Ioffe của Politico đã đưa tin rằng ông Trump có thể đã loạn luân với cô con gái của ông ta.
Anderson Cooper của CNN đã buộc phải xin lỗi sau khi anh ta tấn công thô bạo một nhân vật ủng hộ ông Trump.
Dạ tiệc của Hiệp hội Phái viên báo chí Tòa Bạch Ốc năm nay đã biến thành một đại hội ghét Trump, khi người chủ tiệc Michelle Wolf đã đứng ra vung vít xỉ vả ông tổng thống. Cô ta còn chế giễu dung nhan của Bộ trưởng Báo chí Tòa Bạch Ốc Sarah Sanders. (ngưng trích).
Vậy mà vừa mới đây, quyết định của 350 tờ báo  đã khiến nhiều người ngạc nhiên.

Do sự đề xướng và vận động của Ký‎ giả Marjorie Pritchard, chủ bút trang “op-ed” của Nhật báo Boston Globe, 350 tờ báo Mỹ đồng ý đăng một bài xã luận với đề tài giống nhau trên số báo ra ngày 16.8.2018, phản đối ông Trump đã gọi báo chí là “kẻ thù của nhân dân” (Mỹ) và báo động về việc ông tổng thống đã không ngừng tấn công báo chí.
The New York Times, The Dallas Morning News và The Denver Post là những tờ báo lớn đã gia nhập trận chiến, bên cạnh những tuần báo với số ấn hành là 4,000 tờ.
Cô Pritchard nói với hãng tin AP: “Tôi hy vọng việc này sẽ giúp độc giả thấy một cuộc tấn công vào Tu Chính án thứ nhất nhìn nhận quyền tự do ngôn luận của mọi người là không thể chấp nhận. Chúng tôi là báo chí độc lập, tự do, đây là một trong những nguyên tắc thiêng liêng nhất ghi trong Hiến Pháp.”
Nhưng Ký‎ giả James Freeman, phụ tá chủ bút trang quan điểm của tờ The Wall Street Journal, không đồng ý với Pritchard, và đã viết như sau:
Tu Chính Án số 1 không nói rằng chính quyền không thể chỉ trích báo chí. Ông Trump được hưởng tự do ngôn luận cũng như giới truyền thông thù địch ông ta. Lại nữa, Tu Chính Án số 1 ngăn cấm chính quyền vi phạm quyền của người Mỹ được nói và được xuất bản.”
Wall Street Journal là một trong những tờ báo lớn đã không gia nhập trận chiến xã luận do cô Pritchard cầm đầu..Cuộc chiến tranh giữa TT Trump và TTDC đã leo thang, đồng thời cũng xuống thấp tới một mức độ mới.
Trong làng báo Việt ngữ tại Mỹ, các nhà báo ta cũng chia hai phe. Phe chống Trump thì hầu như chỉ lặp lại những gì của TTDC và có vẻ chống Trump còn hăng hơn TTDC. Phe ủng hộ Trump có “sáng tạo” và lý luận hơn, như đoạn dưới đây, trích từ một bài của ông Vũ Linh ngày 19.8.2018:
Người ta có cảm tưởng truyền thông đang ngồi lại cùng nhau, tổ chức lại thành một tổ chức đối lập, phối hợp chặt chẽ mọi hoạt động chống TT Trump và phe bảo thủ, hiển nhiên không còn là những nguồn tin độc lập trung thực gì nữa. Theo ý kiến kẻ này, có lẽ họ nên thành lập đảng mới, gọi là ‘Đảng Truyền Thông Chống Trump’? Nghe tên có vẻ quái lạ, nhưng đúng là chủ trương tối hậu của đảng này, phải không? Ít ra thì cái đảng này cũng có tôn chỉ rõ ràng và có can đảm dám nhận những gì mình thực sự muốn làm.
Câu hỏi cho TTDC: quý vị không chấp nhận việc TT Trump tấn công báo chí, nhưng lại tự cho mình quyền tha hồ tấn công TT Trump vô giới hạn? Như vậy gọi là công bằng? Hay là gì khác? Khi hơn 90% tin và bình luận nhằm đánh TT Trump thì sao dám ngang nhiên đòi không cho TT Trump trả lời? Nên ghi nhận TT Trump chưa đóng cửa bất cứ báo hay đài nào, chỉ là phản ứng, đánh lại thôi, tại sao lại không được cái quyền đó? Cụ tỵ nạn nào giải thích giùm, kẻ này đa tạ.
Trong các chế độ độc tài, chính quyền tự cho mình quyền bịt miệng báo chí, để chính quyền muốn nói gì thì nói. Trong chế độ dân chủ kiểu Mỹ, báo chí tự cho mình quyền xỉ vả chính quyền, muốn chửi gì thì chửi nhân danh tự do ngôn luận, nhưng chính quyền không được phép có phản ứng sao? Thế thì dân chủ kiểu Mỹ có gì hay ho? (hết trích)
“Hay ho” chứ!
Không hay sao TTDC đã có thể làm Mỹ “tháo chạy” khỏi Việt Nam, và khai tử VNCH khiến hàng triệu người dân miền Nam VN đã phải bỏ nước đi tìm tự do, và nay lại nghe lời TTDC?
Ký Thiệt


John McCain Người Hùng hay Tội Đồ? Peter Chánh Tran


JOHN MC CAIN, NGƯỜI HÙNG HAY TỘI ĐỒ?
FB hôm nay tràn lan những lời thương tiếc John Mc Cain. Nghĩa tử là nghĩa tận. Thương nên bộc lộ, không ưa thì nén lòng khi ai đó vừa nằm xuống. Đó là cái đạo lý của con người nói chung, của người Á Đông nói riêng.
Nhưng với những nhân vật công chúng (public figures), thì không nhứt thiết phải như vậy. Ông ta là một nhân vật nổi tiếng cả thế giới, một public figure for sure. Đã là người của công chúng, thì đương nhiên phải chấp nhận chuyện thương ghét của loài người một cách công khai, dù mình đang sống hay đã chết.
Tôi là công dân Mỹ, theo đảng Cộng Hoà như Mc Cain. Cùng phe nhưng chưa chắc cùng đường. Tôi viết theo cái nhìn và nhận định cá nhân.
Một vài ghi nhận về nhân vật Mc Cain:
* John Mc Cain là một sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ. Ông nội và ông thân sinh của ông ta đều là Tướng 4 sao Hải Quân. Đặc biệt, khi ông ta bị bắn hạ và bị bắt, thì ông già của ông ta đang là Đô Đốc (Admiral), Tư Lệnh Hải Quân Thái Bình Dương, người trực tiếp chỉ huy máy bay, cất cánh từ các hàng không mẫu hạm, để đánh bom Hanoi. Thân thế tóm gọn vài dòng chắc đủ rồi. CS Bắc Việt biết rõ điều này, nên khai thác Mc Cain triệt để, cũng là việc dễ hiểu.
* Mc Cain tốt nghiệp trường Hải Quân với hạng rất thấp. Sau đó học hai năm lấy bằng phi công. Ông ta là một phi công không giỏi, và cũng không nghiêm túc tuân thủ những qui định về sự an toàn. Ông ta đã gây một tai nạn khi cất cánh, làm 134 người thiệt mạng và hơn 100 người bị thương. Khi bay bỏ bom Hanoi, ông ta được cảnh báo (warning) là không nên bay thấp, đừng khinh địch, nhưng ông ta không thèm quan tâm. Kết quả là máy bay trúng đạn, rớt, và bị hành hạ năm năm rưỡi trong Hoả Lò (Mỹ gọi là Hanoi Hilton). Ông ta là một người có cá tính bướng bỉnh, suốt đời thích làm ngược lại lịnh của cấp trên. Cây dù che chắn lớn nhất cho ông ta là ông già làm xếp.
* Theo qui luật quân đội Hoa Kỳ, khi bị bắt, chỉ được khai tên họ, và cấp bậc. Không đựợc tiết lộ bí mật quân sự. Không hợp tác với giặc. Không nhận ân huệ của giặc. Dường như Mc đã không tuân thủ.
Gần đây có nhiều bài báo viết rằng: Những đồng cảnh, bị tù chung với ông, tiết lộ rằng ông đã khai nhiều thứ có hại cho nước Mỹ, cho đồng đội, để được hưởng những ân huệ như bớt bị hành hạ. Nói chung họ rất coi thường ông ta, nếu không muốn nói là họ khi dễ ông ta.
* Mc Cain gần như rất ít đề cập đến chuyện mình từng là tù binh chiến tranh. Thường thì khi có ai phỏng vấn mới nói. Dường như có cái gì ẩn khuất, làm cho ông ta không cảm thấy hãnh diện để khoe về thành tích mình bị tù đày.
* Một sự kiện khác: Trump thương lính, lo cho lính, nể trọng lính. Coi nội các, coi cách Trump đối xử với lính, lo cho lính thì biết. Trump là tay ăn nói bạt mạng, không kiêng dè ai cả. Lão ba trợn Trump đã kê tủ đứng Mc Cain, rằng thì là Mc Cain không đáng được coi là một anh hùng chiến tranh. "You are no hero!". Mc Cain không chỉ giận, mà phùng mang trợn má với ông Trump và trả đũa. Trump đề xướng huỷ bỏ Obama Care, cũng vì lá phiếu phản phé của Mc Cain mà không thành. Mc Cain phải có chuyện gì đó mới bị Trump coi thường và công khai móc họng như vậy. Nói theo người có ní nuận: Thì mình phải làm sao đó, thì người ta mới đối với mình vậy!
* Mc Cain ai cũng biết là người “có công rất lớn” trong việc vận động bỏ cấm vận VN, lập lại bang giao bình thường với VN. Đa số người VN hôm nay đều tỏ ra mang ơn Mc Cain về “kỳ tích” này!
Họ coi Mc Cain là đại ân nhân của dân Việt, cũng dễ hiểu thôi. Còn cấm vận là còn ăn bo bo trẹo bảng họng! Cấm vận còn kinh khủng hơn ném bom 12 ngày đêm! Bom nổ chỗ nào chỉ hư hại chỗ đó, rồi xây dựng lại được. Nhưng cấm vận thì cả nước Xuống Hàng Chó Ngựa! Coi Nga bị cấm vận khốn đốn cỡ nào? Coi Cuba thân sơ thất sở không ngoi đầu lên nổi. Coi Bắc Hàn của thằng Ủn,...
Mỹ cấm vận không có nghĩa là chỉ mình ên Mỹ không chơi với VN, mà tất cả đồng minh của Mỹ đều răm rắp tuân theo, đồng loạt sịt VN ra! Chừng đó cháo cũng không có mà húp! Phách cho dữ, nổ cho dữ, chê Mỹ, chửi Mỹ cho dữ, nó cấm vận một cái, thì cũng y như Tề Thiên bị vòng Kim Cô xiết trên đầu! Không chết cũng dãy đành đạch!
Nói chi xa: Mỹ cấm người Việt Hải ngoại gởi dollas về VN thôi, thử coi VN ra sao? Mỗi năm hàng chục tỷ ngoại tệ, ít gì? In giấy vàng mã đổi lấy dollas, còn gì sướng bằng? Ngày xưa VNCH chỉ nhận viện trợ 700 triệu/năm. Cúp viện trợ một cái, giống cua gảy càng, gà bị bẻ cựa, trâu bị cưa sừng, trong khi Bắc Việt vẫn ngửa tay nhận súng đạn của ngoại bang để tiếp tục giết giống da vàng, nên miền Nam thua liền cái rụp. Hơn 10 tỷ mà bị cúp, chuyện gì sẽ xảy ra?
Mc Cain ra tay nghĩa hiệp cứu vớt, không đội ơn hắn sao được?
Tương tự, chửi Việt Kiều đu càng cho dữ! Không có đu càng gởi tiền về, cá rô cây cũng không có mà mút! Phản quốc, hô biến cái, thành khúc ruột ngàn dặm là vậy đó! Biết vậy, nhưng không gởi không được! Khi họ giàu lên, Saigoi thành Paris, thì chừng đó Việt Kiều trở về nguyên dạng đu càng, phản động, phản quốc cho mà coi! Biết hết, nhưng vẫn phải gởi, vì máu chảy ruột mềm, nở lòng nào nhìn người thân nhai bo bo cầm hơi!
Nhưng đế quốc Mỹ thì khác Việt Kiều. Cần cấm vận là nó cấm. Cần nhả là nó nhả. Cái nào có lợi cho Mỹ là họ làm, chớ thương yêu gì ai.
Vấn đề chính tôi đặt ra ở đây: Tại sao một người tù bị hành hạ còn tệ hơn súc vật, lại thương VN, hết lòng vận động chính phủ Mỹ bang giao, bỏ cấm vận VN? Ông ta không hận thù VC? Ông ta là thánh?
Tôi không tin Mc Cain không biết hận thù. Coi mấy người đi biểu tình bị CA đánh đập. Họ thù hận đến cỡ nào. Họ có có sợ CA không? Họ có ngừng chống đối không? Đánh dân dã man như vậy, cũng không nhầm nhò gì so với Mc Cain và các POW bị đánh đâu? Không thù CS là chuyện không thể tin được. Tôi càng không tin Mc Cain là thánh sống. Trump chỉ kê nhẹ một câu đã hùng hỗ trả tròn. Ông ta có thể nào từ bi đến mức tha cho những kẻ hành hạ mình như súc vật?
Vậy giải thích thế nào? Bị kẻ thù nắm cáng?
Chỉ có thể giải thích như vậy thôi. Họ tung những tin tức Mc Cain từng hợp tác với CS, từng khai báo bí mật quân sự, từng thú tội, từng hại đồng đội,… thì từ một anh hùng dân tộc, rớt cái bụp xuống đáy địa ngục, thành tên hèn hạ, phản quốc, đâm sau lưng chiến sĩ và đồng đội! Sự nghiệp chính trị tiêu thành tro tức khắc! Trump chỉ sờ chim, bóp vú, ăn nói phang ngang bửa củi thôi, mà còn điêu đứng. Mc Cain bị phanh phui tội phản quốc thì coi như tàn đời. Làm gì ngồi được cái ghế Thượng Nghị Sĩ của Arzona 30 năm nay?
Nghe nói các chop bu sang chầu thiên triều. Nó trải thảm đỏ, rượu thịt đầy mâm. Gái gú chìu tới bến. Đểu cái là nó lén quay hết cái cảnh mưa gió giông bão. Cáng nắm trong tay. Chừng nào âm binh nổi chứng, không chịu nghe phù thuỷ sai khiến, nó cầm lá bùa đó ra dán lên trán một cái, đứng như trời trồng! Biểu bán nước, giết cha, bán mẹ gì cũng làm hết!
Cũng may mà Mc Cain không đắc cử Tổng Thống! Nó nắm cáng, chừng đó đừng hòng hù nó chuyện cấm vận! Cái đám phản động chết rạp hết, vì TT John Mc Cain có dám đem chuyện nhân quyền, tự do, dân chủ ra để deal không? Nó cầm xấp giấy viết tay có chữ ký của cựu tù binh chiến tranh ở Hoả Lò ngày xưa ra trình làng, coi cái ghế TT có gảy cẳng té nhào không cho biết!
Nghĩ tới mà phát sợ! May mà dân Mỹ thà chọn con gà nuốt dây thun Obama, chớ không chọn John Mc Cain!
Trâu chết để da, người ta chết để tiếng.
Một sự kiện xảy ra, coi mình đứng từ đâu để nhìn. Tui đứng không cùng chỗ với những người hết lòng thương tiếc Mc Cain, là tui tự chọn lựa, và theo chủ kiến của mình, chớ không phải hễ chỗ nào đông là theo.

Mời đọc thêm về John McCain trong các links sau đây:

1- Tài liệu về đời quân ngũ của J .M. Cain...
< xin mở Link bên dưới.. để đọc >

Hay:
2- Tác giả nầy viết rõ từng chi tiết về sự nghiệp ông McCain kể từ khi vô lính năm 18t. Thành tích học hành, bay bổng và tính khí của ông đã được tả rõ (kể cả vụ cháy trên mẫu hạm Forrestal)
http://www.pythiapress.com/wartales/McCain-Shootdown.htm

Tuesday, August 28, 2018

Tiếp tục lùi Dự luật Đặc khu: Một phép thử lòng dân?


Tiếp tục lùi Dự luật Đặc khu: Một phép thử lòng dân?
Hòa Ái, phóng viên RFA
2018-08-27
Quốc hội Việt Nam một lần nữa ra quyết định tiếp tục hoãn thời hạn xem xét thông qua Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, gọi tắt là Luật Đặc khu.
Động thái tích cực
Truyền thông trong nước, vào ngày 24 tháng 8, dẫn lời của Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết Quốc hội chưa xem xét Dự luật Đặc khu trong kỳ họp thứ 6, diễn ra vào tháng 10 năm 2018, theo như thông báo trước đó.
Vào ngày 9 tháng 6, ba ngày trước khi Quốc hội xem xét thông qua dự luật này, Văn phòng Chính phủ thông báo lùi thời gian xem xét qua kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV. Lý do được nêu ra là cần thêm thời gian để nghiên cứu và hoàn thiện. Và, ông Nguyễn Hạnh Phúc nói với truyền thông rằng Quốc hội quyết định lùi thêm thời gian xem xét là do Chính phủ sẽ tiếp tục xin ý kiến để hoàn chỉnh dự luật thông qua vào kỳ họp sau.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, Thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển Liên Hiệp Quốc, vào tối ngày 27 tháng 8, lên tiếng với RFA về thông báo của Quốc hội liên quan Dự luật Đặc khu:
“Tôi hoan nghênh động thái của Quốc hội đã dừng không có xem xét Luật Đặc khu và cũng lại hoãn việc xem xét luật này vào kỳ họp sắp tới đây, để chắc chắn là phải lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, của các cựu chiến binh, của người dân và cần phải có sự đánh giá thật là khách quan, khoa học, dựa trên kinh nghiệm thực tế và những kinh nghiệm trong nước.”
Tôi hoan nghênh động thái của Quốc hội đã dừng không có xem xét Luật Đặc khu và cũng lại hoãn việc xem xét luật này vào kỳ họp sắp tới đây, để chắc chắn là phải lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, của các cựu chiến binh, của người dân và cần phải có sự đánh giá thật là khách quan, khoa học, dựa trên kinh nghiệm thực tế và những kinh nghiệm trong nước
-TS. Lê Đăng Doanh
Đài Á Châu Tự Do ghi nhận qua các trang fanpage của báo mạng quốc nội, rất nhiều độc giả bày tỏ sự phấn khởi trước thông tin vừa nêu, chia sẻ ý kiến cần có trưng cầu dân ý về Dự luật Đặc khu. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng hy vọng trong thời gian tới ban soạn thảo sẽ có các cuộc đối thoại, theo như yêu cầu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, để tiếp thu những ý kiến đóng góp và trình lên Quốc hội một luật thật sự có chất lượng.
Trong khi đó, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nói rằng cho đến thời điểm này, theo quan sát của ông thì Nhà nước Việt Nam không có biểu hiện nào cho thấy lắng nghe ý kiến của người dân về Dự luật Đặc khu. Trong lần hoãn thời gian thông qua Luật Đặc khu hồi tháng 6, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nhận định đó là một quyết định “kế hoãn binh” của Quốc hội trước những cuộc biểu tình của dân chúng diễn ra ở khắp các tỉnh, thành Việt Nam. Và Quốc hội tiếp tục lùi thời hạn xem xét Dự luật Đặc khu trong kỳ họp thứ 6, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng cho rằng không phải do xuất hiện lời kêu gọi tổng biểu tình trong dịp lễ Quốc Khánh, mà có yếu tố từ bên trong Đảng Cộng sản Việt Nam:
“Vào lúc này, trong thời gian vừa qua, nguồn cơn sâu xa không chỉ đến từ phản ứng của người dân, mà còn từ trong nội bộ Đảng; trong giới cách mạng lão thành, giới cựu thần của Đảng. Và đặc biệt, tôi có nghe thông tin có những người thân của ông Nguyễn Phú Trọng khẩn thiết khuyên ông Trọng không cho đưa ra nghị bàn và thông qua ngay Luật Đặc khu mà phải cần chỉnh sửa rất nhiều nhiều vấn đề trong các nội dung, kể cả có những ý kiến đề nghị cần thiết thì không thông qua Luật Đặc khu hoặc là bỏ luôn Luật Đặc khu.”
Bỏ Luật Đặc khu?

Mặc dù Văn phòng Chính phủ ra thông báo vào sáng sớm ngày 9 tháng 6 lùi thời hạn thông qua Luật Đặc khu, tuy nhiên vào ngày 10 tháng 6, một cuộc biểu tình rộng khắp của hàng ngàn người dân Việt Nam phản đối Luật Đặc khu vì lo ngại về chủ quyền và an ninh quốc gia ở 3 đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc với thời hạn cho thuê đất lên đến 99 năm. Trong bối cảnh Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong khối ASEAN thì nỗi lo ngại của người dân Việt không phải không có cơ sở, theo đánh giá của một số chuyên gia như Tiến sĩ Vũ Quang Việt, chuyên gia từng làm việc cho Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh Luật Đặc khu sẽ tạo điều kiện nhượng tô cho nhà đầu tư Trung Quốc.
Dự luật Đặc khu vấp phải hai luồng ý kiến hầu như trái ngược nhau của giới chuyên gia. Một luồng ý kiến cho rằng trong thời đại công nghiệp 4.0 và trong bối cảnh hiện tại của đất nước, thì ba đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc sẽ không mang lại được hiệu quả là bao, mà trái lại phải đối diện với nhiều rủi ro về nguy cơ an ninh quốc gia.
Trong số các chuyên gia ủng hộ Luật Đặc khu, Phó Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách trường Đại học Kinh tế, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội nói với truyền thông quốc nội rằng luật này cần được soạn thảo thành một luật khung áp dụng cho tất cả địa phương ở Việt Nam và có thể chọn một nơi để tập trung thử nghiệm, thay vì đề xuất 3 đặc khu. Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành nhấn mạnh một khi đặc khu thử nghiệm được thành công thì vùng nào muốn làm đặc khu phải đáp ứng yêu cầu của khung Luật Đặc khu, đồng thời phải đề xuất các phương án đột phá nhất.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng khẳng định với RFA:
“Vấn đề bây giờ quan trọng là phải cải cách áp dụng cho cả nướ,c tốt nhất là biến cả nước Việt Nam như là một đặc khu Hong Kong, tức là luật lệ rõ ràng, bộ máy có hiệu lực, tham nhũng rất thấp. Điều ấy có thể giúp đất nước phát triển.”
Nguồn cơn sâu xa không chỉ đến từ phản ứng của người dân, mà còn từ trong nội bộ Đảng; trong giới cách mạng lão thành, giới cựu thần của Đảng. Và đặc biệt, tôi có nghe thông tin có những người thân của ông Nguyễn Phú Trọng khẩn thiết khuyên ông Trọng không cho đưa ra nghị bàn và thông qua ngay Luật Đặc khu mà phải cần chỉnh sửa rất nhiều nhiều vấn đề trong các nội dung, kể cả có những ý kiến đề nghị cần thiết thì không thông qua Luật Đặc khu hoặc là bỏ luôn Luật Đặc khu
-TS.Phạm Chí Dũng
Thế nhưng, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng cho rằng không thể có được sự lạc quan như vậy, vì:
“Về lý thuyết tôi cho là đúng. Nhưng trong thực tế thì cũng cần nhớ rằng cách đây ¼ thế kỷ cho đến nay, Việt Nam từng có phong trào khu chế xuất, phong trào xây dựng khu công nghiệp, rồi sau đó phong trào xây dựng khu đô thị mới. Cho đến nay trên cả nước có đến 800 khu đô thị mới. Và từ khu chế xuất tới khu công nghiệp, tới khu đô thị mới thì tất cả đều lạm phát. Do đó, chắc chắn sẽ xảy ra lạm phát đặc khu. Thế thì, xây quá nhiều mà không hiệu quả thì xây ra để làm gì? Thành thử quan điểm của tôi là không chỉ hoãn Luật Đặc khu mà cần bỏ luôn Luật Đặc khu.”
Hồi trung tuần tháng 6, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội-Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng nêu lên ý kiến của ông trên tài khoản facebook cá nhân rằng Luật Đặc khu để làm gì qua lập luận để thúc đẩy kinh tế phát triển hay để thực nghiệm thể chế? Và, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng khẳng định xét về góc độ kinh tế thì Luật Đặc khu là một lựa chọn sai lầm, còn về thực nghiệm thể chế thì dự luật không có câu trả lời cho điều này.
Song hành với thông báo của Quốc hội tiếp tục lùi thời gian xem xét Dự luật Đặc khu, cộng đồng cư dân mạng vẫn tiếp tục lên tiếng phản đối, cho rằng những ai thông qua dự luật này bị coi là “kẻ bán nước”, đồng thời kêu gọi Quốc hội hãy bỏ Luật Đặc khu.

Chuyện Ba Con Cá


Chuyện Ba Con Cá

Con cá thứ nhất là cá hồi chó. (Chum salmon, dog salmon, silverbrite)
Cá hồi chó sống ở vùng nước sâu trong đại dương bao la. Cá hồi chó mẹ sau khi đẻ trứng sẽ đợi ở một bên, trứng sau khi nở thành cá con vẫn chưa thể tự kiếm ăn, chỉ có thể dựa vào thịt của mẹ để lớn.

Cá mẹ nhịn đau đớn không hề kêu ca. Khi cá con lớn lên, cá mẹ chỉ còn lại một đống xương, đó là minh chứng đắt giá nhất cho tình mẹ vĩ đại trên thế giới này.

Cá hồi chó là con cá tượng trưng cho tình mẹ.

Con cá thứ hai là cá lóc Tàu (Channa Argus)
Nghe nói loài cá này sau khi sinh con sẽ bị mất đi khả năng nhìn, không thể kiếm mồi mà chỉ có thể nhịn đói. Khi trứng nở thành hàng ngàn con cá con, đàn cá con không nỡ nhìn mẹ chết nên từng con, từng con một chủ động bơi vào miệng mẹ để giúp mẹ đỡ đói.

Cá mẹ sống lại, lượng cá con còn tồn tại chẳng đáng là bao, chỉ còn chưa đến 1/10, số còn lại vì mẹ mà hy sinh tấm thân non nớt của mình.

Cá lóc tàu là con cá tượng trưng cho sự hiếu thảo của người làm con.

Con cá thứ ba là cá hồi (Salmon)
Mỗi năm cứ đến mùa sinh sản, cá hồi lại tính trăm phương ngàn kế để từ đại dương rộng lớn trở về dòng sông trong đất liền.

Bởi lẽ loài cá này không sinh nở ở các vùng biển nước mặn mà di cư bơi về dòng suối ngọt, nơi chúng được sinh ra để tiếp tục đẻ trứng.

Cuộc hành trình di cư thật sự vất vả và gian lao khi chúng phải bơi ngược dòng chảy của tự nhiên để trở về quê hương, trên đường trở về phải đối mặt với bao hiểm nguy thách thức, nào là vượt thác, nào là lo bị gấu xám ăn thịt…

Những con cá không vượt được thác phần lớn sẽ rơi vào bụng gấu. Những con vượt thác thành công cũng sức cùng lực kiệt, vừa phải tiếp tục bơi vừa phải đề phòng loài ó cá kiếm mồi.

Chỉ có một số ít những con cá may mắn vượt qua mọi khó khăn và sự bủa vây để trở về quê hương, hoàn thành việc quan trọng nhất đời mình, đó là tìm con đực, giao hợp, đẻ trứng và cuối cùng là chết một cách yên bình ở chính nơi mình sinh ra.

Và khi mùa xuân đến, đàn cá con lại trôi theo dòng nước ra biển, bắt đầu hành trình cuộc đời mình.

Cá hồi là loài cá tượng trưng cho tình yêu quê hương xứ sở.

Chúng ta hãy thường xuyên nghĩ rằng, trên đời này có ít nhất 3 con cá khiến chúng ta phải cảm động:

Con cá thứ nhất là cha mẹ, người đã cho chúng ta sinh mệnh, luôn dõi theo mọi bước chân ta đi, không trách cứ oán giận, sẵn sàng hi sinh tất cả cho con cái mà không hề đòi hỏi bất cứ điều gì.

Con cá thứ hai là con cái, từ khi oa oa cất tiếng khóc chào đời, con cái đã hoàn toàn tin cậy và ở bên cha mẹ cho đến già.

Con cá thứ ba là cố hương. Bất luận là đi xa đến đâu, cũng sẽ có một ngày chúng ta tìm cách trở về quê nhà.



Con người và sự nghiệp


Con người và sự nghiệp

  Dân Việt chúng ta khá quen với tên tuổi của 2 danh nhân thuộc y giới người Pháp: Bác sĩ ‘vi sinh học’ Louis Pasteur và bác sĩ ‘vi khuẩn học’ Alexandre Yersin. Ta nghe biết nhiều về cụ Pasteur, sinh năm 1822, qua các ’viện Pateur’ với chuyện tiêm chủng chống bệnh đậu mùa. Còn cụ Yersin thì sinh vào năm 1863 (cha mẹ gốc Pháp, di cư qua Thụy Sĩ và sinh ông tại đây). Nhưng vị bác sĩ sau này đã về học và nhập tịch Pháp) rồi quyết định qua sống tại Việt Nam, và trở thành vị ân nhân sáng giá và gần gũi với dân tộc ta rất nhiều. Từ quê nhà, ông đã vang danh khi cùng một bác sĩ bạn khám ra độc tố ‘bạch hầu’, rồi sau khi qua Đông Dương, khám phá ra vi khuẩn bệnh dịch hạch.

Vì muốn phục vụ dân nghèo cũng như tìm chỗ thuận tiện cho việc nghiên cứu khoa học, ông quyết định chọn địa danh Nha Trang làm quê hương thứ hai, để rồi tìm cách xây dựng tại đây một ‘viện Pasteur’ đầu tiên. Trước hết, ông dựng một nhà gỗ đơn sơ tại ‘Xóm Cồn’ để chữa bệnh cho dân nghèo. Đồng thời ông cũng say mê khám phá thám du các vùng rừng núi gần xa. Chuyến đi đầu tiên khá nguy hiểm nhưng thành công mỹ mãn, trải rộng tới phía tây nước Việt, đụng tới sông Mekong bên xứ Miên và Thái. Thế là chính quyền Pháp bắt đầu biết và rất hãnh diện về ông.
Tháng 6 năm 1893, được sự ủy thác của Toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan, Yersin tổ chức đoàn thám hiểm theo đường bộ từ Đồng Nai lên Di Linh, cuối cùng khám phá Cao nguyên Lâm Viên. Trong nhật ký, Yersin ghi nhận có vài làng của người sắc tộc D'Lat nằm rải rác trong vùng, và "Từ trong rừng thông bước ra, tôi sững sờ khi đối diện một bình nguyên hoang vu, giống như mặt biển, tràn đầy những làn sóng màu xanh lá cây. Sự hùng vĩ của rặng Langbiang hòa lẫn vào đường chân trời tây bắc tạo nên bối cảnh tráng lệ, gia tăng vẻ đẹp của vùng đất này." [Đến năm 1899, tại vùng đất được Yersin khám phá, Toàn quyền Paul Doumer cho thiết lập một khu nghỉ dưỡng cho người Âu châu, sau trở thành Đà Lạt].

Chẳng may, trên đường trờ về Nha Trang, ông bị một nhóm cướp tấn công, khiến ông bị thương nơi ngực và chân. Nhưng lại rất may, biết các kỹ thuật y khoa, ông sống sót, để rồi vẫn ráng tổ chức thêm cuộc thám hiểm kế tiếp.
Cuối năm đó, với một lực lượng hùng hậu - ngoài 54 người tùy tùng còn có một toán lính tập mang súng theo hộ tống - Yersin khởi hành cũng từ Đồng Nai, lên Đà Lạt, rồi đi tiếp đến cao nguyên Đắk Lắk, vào Attopeu ở nam Lào, rồi lại theo hướng đông ra biển, để đến Đà Nẵng vào ngày 17 tháng 5 năm 1894. Cuộc khảo sát lần này thăm dò một vùng đất rộng lớn trải rộng từ vĩ tuyến 11 ở phía nam đến vĩ tuyến 16 ở phía bắc.

Trang nhật ký Yersin ghi, "Đường đi thật là khủng khiếp. Trong 4 ngày liên tiếp, chúng tôi phải vượt qua một vùng núi hiểm trở, trèo xuống, leo lên, cứ đơn điệu như thế làm cho chúng tôi rất mệt mỏi. Cây cối chen chúc. Không có đường mòn. Chúng tôi phải khòm lưng chui qua các bụi tre. Vì trời mưa nên rừng có nhiều vắt không thể tả được. Những người Việt Nam đi cùng với chúng tôi bị sốt rét, mặc dầu đã uống thuốc ngừa...”
Nghiên cứu bệnh dịch hạch
Trong khi Yersin đang chuẩn bị cho cuộc thám hiểm nữa thì bệnh dịch hạch đã bộc phát ở miền Nam Trung Hoa và lan truyền xuống Đông Dương, gây tử vong cao, và trở thành mối đe dọa cho tất cả cảng biển có giao dịch thương mại với Trung Hoa (Việt Nam lây dịch bắt đầu với cảng Hải Phòng). Nhà cầm quyền thuộc địa Pháp bèn cử Yersin đến Hồng Kông để nghiên cứu bệnh dịch hạch.
Yersin là người đầu tiên chứng minh rằng trực khuẩn dịch hạch hiện diện ở chuột bệnh và người bệnh là một, nhờ đó ông đã giải thích được phương thức truyền bệnh. Cũng trong năm ấy, khám phá này được cộng tác viên Émile Duclaux gửi đến Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, trong bài báo nhan đề La Peste Bubonique de Hong-Kong (Bệnh dịch hạch ở Hồng Kông).

Năm 1895 ông trở lại Viện Pasteur ở Paris và cùng với Émile Roux, Albert Calmette và Armand Borrel đã điều chế ra huyết thanh chống bệnh dịch hạch đầu tiên. Cùng năm đó, ông trở về Đông Dương và lập một phòng thí nghiệm nhỏ tại Nha Trang để sản xuất huyết thanh. Năm 1896, ông thành lập trại chăn nuôi Suối Dầu, nuôi ngựa để sản xuất huyết thanh.
Năm 1896, Yersin đến Quảng Châu, được phép công khai tiêm huyết thanh (điều chế tại Nha Trang) cho một bệnh nhân tại đây, và nghiễm nhiên trở thành người thầy thuốc đầu tiên cứu sống một bệnh nhân dịch hạch. Yersin tiếp tục cuộc hành trình chống bệnh dịch hạch (bằng huyết thanh) với những điểm đến kế tiếp tại nhiều thành phố khác.
Ân nhân về nhiều ngành chuyên môn:
Sau ít thời gian làm việc ở Bombay (Ấn Độ), Yersin quyết định trở về Nha Trang trong năm 1898. Với sự hỗ trợ từ Toàn quyền Doumer, ông xây dựng Viện Pasteur Nha Trang. Rồi ông mua một khu đất rộng 500 héc-ta ở Suối Giao (nay là Suối Dầu) để làm nơi nghiên cứu nông nghiệp và chăn nuôi. Ông cho trồng cây cà-phê Liberia, các loại cây thuốc, cây coca để sản xuất cô-ca-in sử dụng trong ngành dược, tuyển chọn nhiều loại thực vật và động vật từ khắp nơi trên thế giới để nuôi trồng tại đây, biến nó thành một cộng đồng nông nghiệp và khoa học (với một trạm xá y tế phục vụ cư dân nghèo trong vùng). Trong thời gian này, sản xuất huyết thanh chống dịch cho bò tự nhiên trở thành nguồn thu nhập chính của Yersin, giúp ông có sức mở rộng việc nghiên cứu. Trung tâm thí nghiệm này về sau trở thành viện thú y đầu tiên ở Đông Dương.

Là người đầu tiên nhập giống cây cao su về trồng tại Việt Nam, Yersin trở thành chủ một đồn điền cao su lúc đầu rộng khoảng 100 hec-ta, kiếm tiền đủ để nuôi sống Viện của ông. Ông còn ra công nghiên thêm về các loại chim, nghề làm vườn, và sưu tầm các loại hoa. Ông cũng mở một chiến dịch trồng rừng, đồng thời khuyên dân làng bỏ tập tục chặt đốt cây rừng. Ông còn trồng thử nghiệm cây ‘canh-ki-na’ để sản xuất thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét. Ông cũng tìm ra đất thích hợp cho loại cây này ở vùng đất Dran và Di Linh.

Yersin thích biết mọi thứ, ông là chuyên gia về nông học nhiệt đới, nhà vi trùng học, nhà dân tộc học, nhiếp ảnh gia, rồi nghiên cứu khí tượng. Ông mua máy điện lượng kế, làm một con diều thật lớn thả lên độ cao một ngàn mét để đo điện khí quyển và dự đoán giông bão. Ông muốn giúp những người dân chài thường khi bị mất tích trên biển mỗi lúc có lốc xoáy vụt đến. Yersin thuyết phục Fichot, một kỹ sư thủy văn phục vụ trong hải quân và rất say mê thiên văn học, đến sống với ông trong ngôi nhà lớn ở Xóm Cồn với kính thiên văn và máy quan tinh được lắp đặt trên sân thượng, để cùng nhau nghiên cứu khí tượng. Trong những ngày cuối đời, Yersin gắn bó với niềm đam mê mới: văn chương. Ở tuổi tám mươi, ông lại học tiếng Latin, tiếng Hy Lạp, và biên dịch những tác phẩm của Phèdre, Virgile, Horace, Salluste, Cicéron, Platon, và Démosthène.
Trường Y Đông Dương
Năm 1902 Toàn quyền Paul Doumer, trước khi rời Đông Dương, mời Yersin từ Nha Trang ra Hà Nội để mở một trường Y, một bệnh viện, và một trung tâm vệ sinh. Chỉ với Trường Y "ước tính việc xây dựng sẽ tốn một triệu rưỡi franc!" Một số tiền lớn, song theo nhận xét của Yersin, vẫn rẻ hơn nhiều, lại hữu ích hơn nhiều so với cái nhà hát ở Sài Gòn.
Yersin được bổ nhiệm làm hiệu trưởng đầu tiên củaTrường Y Đông Dương này (là tiền thân của Đại học Y Hà Nội). Ông thiết lập giáo trình theo hình mẫu đại học Pháp – sáng khám bệnh ở bệnh viện, chiều dành cho lý thuyết – đích thân ông giảng dạy trong các giờ vật lý, hóa học, và phẫu thuật.
Trường khai giảng ngày 1 tháng 3 năm 1902, năm học đầu tiên có 29 sinh viên, 15 người đến từ Bắc Kỳ, 5 từ Trung Kỳ, 8 từ Nam Kỳ, và 1 từ Cao Miên. Tất cả đều được nhận học bổng 8 đồng mỗi tháng. Ghi nhận của Yersin về những sinh viên Y khoa đầu tiên được đào tạo ở Đông Dương, "Họ rất chăm học, có những người xuất sắc ngang với những sinh viên giỏi nhất bên Pháp. Điều thú vị là ngay cả những người thông minh cũng học rất chăm. Gần như có thể nói rằng không có ai lười biếng."
Ông có công di chuyển trường khỏi làng Kinh Lược, cho xây dựng ngôi trường ở phố Bobillot (Lê Thánh Tông ngày nay), và xây dựng bệnh viện thực hành ở phố Lò Đúc.
Sau hai năm, khi mọi thứ đã vào guồng, Yersin xin từ nhiệm, và trở về Nha Trang.
Vĩ nhân từ trần
    Trong thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai, ngày 1 tháng 3 năm 1943, Yersin từ trần tại nhà riêng ở Nha Trang, thọ 80 tuổi, ông để lại di chúc, "Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng làm giản dị, không huy hoàng không điếu văn." Dù vậy, rất đông người tìm đến để đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Nhiều người dân Xóm Cồn và Nha Trang than khóc và để tang cho ông. Đoàn người đưa tang dài đến hơn ba cây số. Dân chúng coi ông là ‘công dân’ Nha Trang, vì ông đã sống ở đây tròn 50 năm.

Di sản của ông quá lớn. Toàn dân Việt Nam, hơn mọi dân tộc khác, phải ghi ơn ông mãi mãi. Vua Bảo Đại đã truy tặng ông bội tinh kim khánh. Dân nghèo nhớ ông vì lòng nhân hậu. Bệnh nhân không quên công trình y khoa của ông. Nhiều thành phố có tên đường là ông. Nha Trang và Đà Lạt ghi dấu ấn của ông qua nhiều hình thức, nhất là có công viên vinh danh ông. Mộ ông tại Suối Dầu và thư viện ông tại viện Pasteur Nha Trang nay là di tích lịch sử quốc gia. Năm 2014 Việt Nam truy tặng ông là ‘công dân danh dự’ và cho ra mắt bộ sưu tập tem bưu chính mang hình ảnh ông.
May mắn biết bao dân nước ta có một ân nhân vĩ đại, một ‘huyền thoại’ đáng kính phục như ngài Yersin !
Yersin đã sống trọn đời độc thân, xa lánh chốn phồn hoa Paris để theo con đường phục vụ tha nhân.
Lời cuối của ông: “Tôi muốn theo chân Chúa Ky Tô để phục vụ mọi người trọn đời tôi”.
Đáng ngưỡng mộ thay !