Thursday, May 12, 2016

Tại sao Hoa Kỳ lại giúp Tập Cận Bình

Tại sao Hoa Kỳ lại giúp Tập Cận Bình

Chiến dịch “Đả hổ diệt ruồi” mà ông Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc tiến hành là hệ lụy của sự kiện Trùng Khánh. Đó là sự kiện ông Vương Lập Quân, Giám đốc sở Công An Trùng Khánh, chạy vào tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Thành Đô vào ngày 7 tháng Hai năm 2012. Ông Vương Lập Quân đem hết hồ sơ mật về nội bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc đưa lại cho lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô, ông rời khỏi lãnh sự quán trong một sự dàn xếp khôn khéo của giới Ngoại Giao Hoa Kỳ để tránh làm Trung Quốc mất mặt. Tuy nhiên, những gì ông Vương để lại hay thông báo cho lãnh sự quán Hoa Kỳ sẽ là những dữ kiện động trời khiến toàn bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc bị nắm cán, và nhất là vây cánh chống đối hay muốn ám hại ông Tập hoàn toàn không thể gượng dậy nổi để tranh giành quyền lực với ông.
I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRÙNG KHÁNH TRONG NỀN CHÍNH TRỊ TRUNG QUỐC
Xin cần phải nhấn mạnh, Trùng Khánh là một thành phố vô cùng quan trọng trong nền chính trị Trung Quốc từ cổ chí kim.
Trùng Khánh là nơi mà ngày xưa có Bạch Đế thành, tại đây, Lưu Bị trăn trối gởi gắm con thơ lại cho Khổng Minh, mở ra một thời kỳ đối đầu chiến lược Khổng Minh – Tư Mã Ý đầy máu xương trong lịch sử của Trung Quốc.
Vùng đất phía tây-nam này của Trung Quốc có tên là Trùng Khánh là do Hoàng tử triều Nam Tống là Triệu Đôn, trước được phong là Cung Vương ra trấn nhậm vùng này, sau lại được Vua cha nhường ngôi , trở thành Tống Quang Tông. Ngài cho rằng trước được phong vương, sau lên ngôi thiên tử thì đúng là trùng khánh nên đổi tên vùng đất này thành là Trùng Khánh. Đó là vào khoảng năm 1189. Như vậy, Trùng Khánh là yếu mạch của triều Nam Tống.
Trùng Khánh cũng chính là thủ phủ chính thức của chính thể Trung Hoa Dân Quốc trong thời kỳ kháng Nhật từ năm 1937 đến năm 1945. Bởi do để mất Trùng Khánh vào tay Cộng Sản vào tháng 11 năm 1949, sự nghiệp của Trung Hoa Dân Quốc coi như tiêu tan hoàn toàn và họ Tưởng phải di dời ra đảo Đài Loan như ngày nay.
Về mặt địa lý- hành chánh, Trùng Khánh có 15 huyện, bốn đặc khu tự trị. Trùng Khánh nằm ngay thuợng du sông Dương Tử, núi non hiễm trở, Bắc giáp Thiểm Tây, Nam giáp Quý Châu, Đông giáp Hồ Bắc, Hồ Nam ,Tây giáp Tứ Xuyên , có Quỷ Môn sông chảy xiết, núi âm u , có cả triệu ha đất rừng trù phú , khoáng sản dồi dào. Trùng Khánh lúc nào cũng phảng phất hồn xứ Ba Thục của Lưu Bị , tiền sơn hậu thủy nối với tiền thủy hậu sơn , đúng là nơi tự xưng vương xưng đế của bậc anh hùng ngàn xưa. Cho nên, Trùng Khánh mà quy thuận trung ương thì Trung Quốc yên, Trùng Khánh mà làm loạn thì Trung Quốc cát cứ phân chia.
Về mặt kinh tế an sinh, Trùng Khánh nay có khoảng 28 triệu dân, có tổng số thu nhập khoảng 160 tỷ Mỹ kim, tuy thua xa Thuợng Hải nhưng sức tăng trưởng còn nguyên, chờ đầu tư, khai phá. Trùng Khánh là trung tâm sản xuất xe đủ các loại cho Trung Quốc, kể cả xe tải nặng. Ngoài ra, Trùng Khánh cũng là nơi sản xuất rất nhiều vũ khí, khí cụ cho Bộ Quốc Phòng Trung Quốc.
Cho nên có thể nói những kẻ đứng đầu Trùng Khánh từ Công An cho đến Đảng điều quyền uy thế lực nghiêng ngả Trung Ương, trong đó, ông Bạc Hy Lai, là Bí Thư Đảng tại Trùng Khánh vào năm 2012, đồng thời cũng là Ủy Viên Bộ Chính Trị , tay chân thân tính của Giang Trạch Dân, quyền uy nghiêng ngửa chẳng kém ai.
Vì vậy Giám đốc Công An Trùng Khánh, ông Vương Lập Quân, người có quyền uy đứng hàng thứ hai sau Bạc Hy Lai, chạy vào lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô đương nhiên là một chuyện chấn động nền chính trị Cộng sản Trung Quốc.
II. NỘI VỤ BỀ MẶT CỦA SỰ CỐ VƯƠNG LẬP QUÂN
Để che giấu những bí ẩn bên trong, các báo chí lần lượt nhận được tin về sự cố ở Trùng Khánh là ông Vương Lập Quân, Giám Đốc Công An Trùng Khánh, sợ Bạc Hy Lai ám hại đến tính mạng nên chạy vào lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô xin tỵ nạn. Tại đây, ông Vương Lập Quân trao hết những hồ sơ điều tra về cái chết của thuơng gia Neil Heywood và yêu cầu được bảo vệ tính mạng vì vụ án có liên cang đến bà Cốc Khai Lai, vợ của ông Bạc Hy Lai, bí thư Trùng Khánh đầy quyền thế. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ chối quy chế tỵ nạn Chính Trị của họ Vương nhằm tránh Bắc Kinh bị mất mặt nhưng đảm bảo là chỉ trao trả họ Vương sau khi Bắc Kinh đồng ý bảo vệ tuyệt đối tính mạng , tài sản cũng như người thân của ông.
Cái chết của thuơng gia Neil Heywood , bị coi là đầu độc từ rượu được tòa án Trung Quốc sau đó kết luận thủ phạm là bà Cốc Khai Lai, vợ của Bạc Hy Lai tiến hành. Bà bị tuyên án tử hình vào tháng 8 năm 2012 nhưng âm thầm được hoãn lệnh tử hình. Riêng ông Vương Lập Quân, cũng bị kết án 15 năm tù vì lợi dụng chức quyền nhưng ông không kháng án và có tin đồn ông đã được bảo vệ bí mật, giam lỏng tại gia mà thôi.
Nói một cách khác, các vụ xử cố gắng dàn dựng cho hợp lý để nhanh chóng làm chìm xuồng sự việc nhằm che giấu nhưng bí mật lớn hơn.
Nội vụ bên trong lại không đơn giản như vậy .
III. NEIL HEYWOOD LÀ AI?
Ông Heywood sanh vào ngày 20 tháng 10 năm 1970 và bị giết vào ngày 14 tháng 11 năm 2011 tại khách sạn Nanshan Lijing Holiday bởi một cựu nhân viên an ninh điệp vụ tên là Trương Hiểu Quân, nay có vai trò là trợ lý giúp việc cho bà Cốc Khai Lai , vợ ông Bạc Hy Lai , Bí thư Trùng Khánh. Bà Cốc Khai Lai thừa nhận trước tòa ông Heywood đến khách sạn này theo yêu cầu của bà.
Bề mặt , ông Heywood sống ở Trung Quốc có vợ là người Trung Hoa, có hai đứa con nhỏ trong một biệt thự vô cùng sang trọng gần Bắc Kinh. Ông Heywood làm môi giới để các công ty hàng đầu của Anh Quốc có thể quen biết đến những nhân vật đầy quyền uy trong Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Có đôi khi , ông cũng được đề cử làm đại diện bảo vệ quyền lợi cho những công ty này tại Trung Quốc.
Ông Heywood làm việc tại Trung Quốc từ những năm 1990 và gặp vợ chồng Bạc Hy Lai khi họ Bạc chỉ mới là quận trưởng Dailan của tỉnh Lao Ninh. Ông Heywood được coi là người chỉ dẫn tường tận cách thức để con cái của họ Bạc được đi học ở Anh Quốc. Hiển nhiên, sự vận chuyển tiền bạc ra ngoại quốc sao cho hợp pháp của gia đình họ Bạc cũng hoàn toàn do ông Heywood cố vấn đảm nhiệm.
Khi quyền lực của họ Bạc ngày càng gia tăng không những trong Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà cả trong vây cánh Thuơng Hải của họ Giang, thì trọng trách cố vấn về an ninh tài chánh của Heywood cho họ Bạc càng gia tăng. Nói một cách rõ hơn, ông Heywood đảm trách an toàn trong việc chuyển tài chánh ra ngoại quốc không những chỉ cho một gia đình quyền uy mà cho cả bè nhóm tin cẩn giao cho ông.
Từ đó, ông Heywood luôn tháp tùng bà Cốc Khai Lai sang các nước tư bản để cố vấn cũng như giúp bà hoàn tất các phi vụ chuyển tiền này. Cho nên, tin đồn ngoại tình từ đó mà có vì hai người quá gần gũi.
Khi xét xử ông Bạc Hy Lai, đài CCTV13 do Đảng Cộng Sản Trung Quốc kiểm soát có trình chiếu ngôi biệt thự thuợng hạng của họ Bạc ở Cannes , nơi nghỉ mát miền Nam nước Pháp, do ông Heywood xúc tiến thủ tục, tiền do tập đoàn Shine Group có bản doanh tại Dailan cung ứng, nơi họ Bạc từng làm quận trưởng. Ngôi biệt thự này có giá lên đến gần 4 triệu Mỹ kim. Như vậy, vai trò của Neil Heywood đối với gia đình họ Bạc đã quá rõ. Ông là cố vấn luật pháp cho những hoạt động rửa tiền, tậu tài sản cho Bạc gia và vây cánh ở ngoại quốc.
IV. TẠI SAO PHẢI GIẾT NEIL HEYWOOD?
Bề ngoài đây là một vụ án giết người do liên hệ tình cảm dây dưa giữa Bạc phu nhân và ông Heywood nhưng bên trong, mật vụ của Trung Quốc bắt đầu khám phá ra mối liên hệ giữa ông Heywood với lại MI6, cơ quan tình báo Anh Quốc.
Tại tòa án, bà Cốc Khai Lai khẳng định bà phải giết ông Heywood vì ông hăm dọa đến tính mạng con trai bà là Bạc Qua Qua đang du học. Bà phải giết ông để bảo vệ tính mạng con trai bà.
Đây là một lý lẽ hết sức nực cười vì với kinh nghiệm của riêng mình, ông Heywood không thể nào lỗ mãng như thế trước các nhân vật quyền uy của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, giết người không gớm tay. Còn nếu là do ông Heywood gian lận tài chánh, biển thủ tiền của họ Bạc và vây cánh thì lại càng không cần thiết vì ông Heywood tỏ rõ muốn mần ăn lâu dài đến suốt đời với họ Bạc chứ không hề có ý định tháo chạy cuốn gói.
Hơn nữa nếu vì cả hai lý do nêu trên mà phải giết ông Heywood thì không cần Bạc phu nhân hiện diện.
Sở dĩ Bạc phu nhân hiện diện vì bà muốn biết ông Heywood đã tiết lộ những gì với MI6, cơ quan tình báo của Anh Quốc, sự tiết lộ sâu rộng liên can đến gia đình bà, vây cánh của chồng bà tới đâu? Và chuyện này không thể giao cho ai khác tra khảo được. Cho nên , đây là một cuộc khảo cung rồi giết người.
Vì vậy, trong quá trình điều tra, ông Vương Lập Quân vô hình chung vén lên một màn bí mật quan trọng và quá lớn; ông không còn đường nào khác là phải tự thú trước lãnh sự quán Hoa Kỳ để khỏi phải bị chết như Neil Heywood.
V. CÓ PHẢI NEIL HEYWOOD LÀM VIỆC CHO TÌNH BÁO ANH QUỐC, MI6?
Việc ông Heywood bán tin cho MI6 bị MI6 công khai chối bỏ nhưng do những nguồn tin rò rỉ ra từ các hãng thông tấn danh tiếng như Reuter, Wall Street Journal, Washington Post, BBC, ông Heywood thật sự bán tin cho MI6 thông qua hãng HAKLUYT & COMPANY, được coi là một thân chủ bí mật của Heywood.
Hãng Hakluyt & Company có trụ sở tại 34 Upper Brook Street, London W1K 7Q. Hãng này được cho là thành lập năm 1995 bởi các cựu viên chức của MI6.
Hãng này hoạt động trên lãnh vực thu thập tin tức tình báo và bán tin tức tình báo (British private intelligence agency ). Hãng cũng đảm nhiệm vai trò cố vấn chiến lược cho các đại công ty trong các kế hoạch kinh doanh toàn cầu của mình.
Chỉ cần nhìn vào danh sách các thành viên Hội Đồng Cố Vấn hiện nay của Hakluyt & Company, người ta không khỏi rùng mình trước thế lực của hãng này. Xin được liệt kê một vài yếu nhân nổi bật trong Hội Đồng Cố Vấn của công ty này:
Don Argus — cựu chủ tịch tập đoàn khai thác khoáng sản lừng danh BHP Billiton
Bill Bradley — cựu Thuợng Nghị Sĩ Hoa Kỳ
Alexander Downer — cựu Ngoại Trưởng của Úc từ năm 1996 đến năm 2007
Neville Isdell — cựu Chủ Tịch và Tổng Giám Đốc điều hành Coca-Cola
Dr Hans-Peter Keitel — cựu Chủ Tịch Liên Đoàn Kỹ Nghệ Đức
Minoru Makihara, KBE — cựu Chủ Tịch tập đoàn Mitsubishi
Sir Kieran Prendergast — nguyên Phó Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc
Sir Ralph Robins — cựu Chủ Tịch Rolls-Royce
Javier Solana — cựu chủ tịch NATO và cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao Cộng Đồng Âu Châu
Không có một người nào trong hội đồng này mà không có thế lực nghiêng ngửa quyền uy.
Như vậy , để phụng sự đắc lực nhu cầu chuyển tiền , đầu tư cũng như hợp pháp hóa các khoảng tiền hối lộ kinh khủng của các nhân vật đầy quyền thế trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhất là phe Thuợng Hải của họ Bạc, ông Neil Heywood ít nhiều cần sự trợ giúp, cố vấn của hãng Hakluyt & Company về luật pháp cũng như ảnh huởng thế lực bên trong.
Ngược lại, để giúp đở thân chủ của mình làm ăn yên ổn tai Trung Quốc, hãng Hakluyt & Company cũng cần ông Neil Heywood giúp đở môi giới.
Từ đó, sự trợ giúp của hãng Hakluyt & Company càng làm cho vai trò của Heywood càng trở nên đắc lực vì ông có thể có nhiều thân chủ ngoại quốc đề giới thiệu môi giới cho các nhân vật quyền thế ở Trung Quốc. Và qua sự tin tưởng giới thiệu của họ Bạc , phe Thuợng Hải sơ suất không kiểm tra lại hay theo dõi ông Neil Heywood cho đến khi mật vụ Trung Quốc khám phá ra sự liên hệ giữa cơ quan tình báo Anh quốc MI6 và ông Heywood thì đã quá muộn.
Một năm sau ngày ông Heywood bị giết, ký giả JEREMY PAGE của tờ Wall Street Journal , vào ngày 6 tháng 11 , có cho đăng bài với tựa đề: “Briton Killed in China Had Spy Links”, lại khẳng định là Vương Lập Quân , tại lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành Đô, thừa nhận bà Cốc Khai Lai đã giết một ” tên gián điệp!”
Hành động lật đật của William Hague, Giám đốc sở tình báo Anh Quốc không theo thủ tục thuờng lệ, cố gắng chối bỏ vai trò của ông Neil Heywood đối với MI6 công khai cũng như tòa đại sứ Anh yêu cầu điều tra cái chết của ông trong âm thầm giấu giếm, không công khai càng làm lộ chuyện về mối liên hệ của MI6 với ông Heywood.
Ngoài ra , xác của ông Neil Heywood cũng không được khám nghiệm và tòa đại sứ Anh chỉ yêu cầu điều tra cái chết của ông vào ngày 15 tháng 2 năm 2012 , tức là một tuần lễ sau khi ông Vương Lập Quân chạy vào lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô và BA THÁNG sau khi nạn nhân bị giết!
VI. CHIẾN DỊCH “ĐÃ HỔ DIỆT RUỒI ” CỦA TẬP CẬN BÌNH
Tất cả những nhân vật nào có liên quan đến Bạc Hy Lai hoặc cùng vây cánh với Bạc Hy Lai đều bị họ Tập , nay là Chủ Tịch Trung Quốc , gạt ra khỏi quyền thế và bị xử án nặng nề. Cả một thế lực quyền uy nghiêng ngửa nằm im , thụ động , bất khả kháng cho ông Tập vung tay xử phạt. Điều này chứng tỏ tất cả những nhân vật này đã bị nắm cán, không thể phản kháng.
Ông Tập đương nhiên không phải là người nắm cán nổi những con hổ trong Đảng mà chính là chính phủ Hoa Kỳ , thông qua những gì ông Vương lập Quân trao lại khi chạy vào tòa lãnh sự ở Thành Đô , nắm cán toàn bộ những chi tiết về số tài khoảng, cũng như những hoạt động tội phạm tham nhũng của từng cá nhân, kể cả người thân trong gia đình của mọi nhân vật quyền thế vay cánh của họ Bạc.
Để đảm bảo người thân gia đình tiếp tục giàu sang với số tài khoảng kết sù tích lũy bấy lâu, những nhân vật quyền thế đang tại chức đành im lặng chịu tội, không gây loạn chống đối ông Tập nữa.
Cho đến giờ phút này người ta chưa loan báo ông Vương Lập Quân đã để lại những bằng chứng gì, chỉ biết là toàn bộ những cuốn băng ghi âm nghe lén theo dõi tất cả các nhân vật Trung Ương đã được ông Vương trao lại cho lãnh sự quán Hoa Kỳ theo thừa nhận của các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ. Đương nhiên, tài liệu của ông Heywood gởi cho MI6 cũng sẽ từ từ được Anh Quốc cung cấp cho Hoa Kỳ. Nói một cách khác , thâm cung bí sử của nội bộ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nay hoàn toàn bị lọt vào tay Hoa Kỳ.
Giới ngoại giao của Bắc Kinh thừa nhận ông Tập Cận Bình đã có được toàn bộ hồ sơ tình báo mà Vương Lập Quân tiết lộ tại lãnh sự quán Hoa Kỳ (7 tháng Hai năm 2012) khi ông Tập viếng thăm Hoa Kỳ vào 16 tháng Hai năm 2012 với tư cách là phó Chủ Tịch Trung Quốc. Người trao toàn bộ tập hồ sơ này là phó Tổng Thống Hoa Kỳ , ông Joe Biden. ( Trong chuyến đi này, Trung Quốc đồng ý mua đậu nành của Mỹ với tổng giá trị lên đến …4,3 tỷ Mỹ kim !)
VII. THÀNH TÍCH ĐẢ HỔ DIỆT RUỒI CỦA ÔNG TẬP:
Một màn kịch được dựng lên để che dấu nhiều bí mật bên trong giữa những dàn xếp của Hoa Kỳ với Đảng Cộng Sản Trung Quốc thông qua sự cố Trùng Khánh nhằm giúp cho ông Tập an vị , tạo thế ổn định cho những toan tính lâu dài giữa Trung Quốc & Hoa Kỳ, chiến dịch “Đả hổ diệt ruồi” của ông Tập được loan báo ầm ĩ.
Cả hai cha con Chu Vĩnh Khang và Chu Bân điều bị bắt. Ông Chu Vĩnh Khang nắm toàn bộ nền an ninh chính trị mật vụ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông cũng là người nắm luôn tập đoàn dầu khí Trung Quốc.
Đảng Cộng Sản Trung Quốc thừa nhận đã tịch thu được 14,5 tỷ Mỹ kim , theo BBC đưa tin vào ngày 31 tháng 3 năm 2014, với tựa đề : “Tịch thu tài sản thân nhân Chu Vĩnh Khang ” Như vậy, chỉ là thân nhân , đàn em thân tính mà tài sản đã lên đến như thế. Ngoài ra , con số 14,5 tỷ Mỹ kim này chắc chắn chưa thể coi là con số thật trước nạn tẩu tán khai man.
Có khoảng MƯỜI BẢY người tay chân của họ Chu có chức vụ tương đương thứ trưởng bị bắt giam , trong đó có cả thứ trưởng Công An Lý Đông Sinh , phó tỉnh trưởng Hải Nam Ký Văn Lâm , Tưởng Khiết Mẫn , chủ tịch tập đoàn dầu khí Trung Quốc và Lý Xuân Thành , phó bí thư Tứ Xuyên.
Ngoài họ Chu và gia tộc đàn em , đàn em của đàn em ra , Thượng Tướng Từ Tài Hậu, Tổng Cục Chính Trị cũng bị vạ lây sau sự kiện Trùng Khánh vì cùng phe đảng với Bí Thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai. Ông bị các báo chí Trung Quốc cho rằng trong nhà chứa tiền Dollar mà khi đem cân, nặng lên đến gần một tấn!
Thế là hàng loạt các sĩ quan đàn em của Từ Tài Hậu cùng chung số phận , Lý Văn Bân- Phó Chủ nhiệm chính trị quân chủng Hải quân, Khang Hiểu Huy- Chính ủy Hậu cần Quân khu Thẩm Dương, Tề Trường Minh- Phó Tham mưu trưởng Quân khu Bắc Kinh, Trương Cống Hiến- Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Tế Nam, tất cả điều bị bắt để điều tra tham nhũng.
Ngoài ra , cùng bị bắt còn có trung tướng Cốc Tuấn Sơn, cục phó cục Hậu Cần , được coi là có cả một kho vàng trong nhà và có tổng số tài sản lên đến 5 tỷ Mỹ kim, kế là Thuợng Tướng Vu Vĩnh Ba, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị; Phó Tư lệnh Không quân Trịnh Quần Lương;Thiếu tướng Diệp Vạn Dũng;Vệ Tấn, Phó chính ủy Quân khu Tây Tạng; Phù Lâm Quốc, Phó Tham mưu trưởng Tổng bộ Hậu cần, v v …
Ngay cả Quách Bá Hùng , phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương cùng thời với họ Tập, cũng bị trong vòng điều tra.
Như vậy, sự kiện Trùng Khánh và những dàn xếp im lặng bên trong khéo léo tế nhị từ phía Hoa Kỳ đã tạo ra thuận lợi cho Tập Cận Bình thẳng tay thanh trừng cũng cố uy quyền của mình.
Không biết họ Tập sẽ thắng thế được bao lâu nhưng vào Đảng, leo lên quyền uy cũng chỉ để ăn hối lộ trở thành những người “siêu giàu”- mega rich. Tất cả Đảng Viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc điều tham nhũng hối lộ như thế, cho nên ông Tập trước sau gì cũng gánh lấy những hậu quả nội loạn nếu cứ tiếp tục bắt bớ giam cầm các Đảng Viên quyền uy, nhất là những “con hổ ” mà ông đòi đập , càng lúc , quyền uy càng lớn hơn cả Chu Vĩnh Khang , ví dụ như Hồ Cẫm Đào, Giang Trạch Dân, Ôn Gia Bảo, Quách Bá Hùng, v..v…
VIII. KẾT
Trùng Khánh một lần nữa làm nền chính trị Trung Quốc nghiêng ngã như quá khứ trong lịch sử đã từng. Quyền uy và thanh danh của ông Tập Cận Bình được cũng cố cũng là nhờ sự kiện Trùng Khánh- thông qua cú đầu thú ngoạn mục của ông Vương Lập Quân tại lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành Đô.
“Đả hổ diệt ruồi ” là bề mặt của một sự dàn xếp có tính toán của Hoa Kỳ khi quyết định giúp họ Tập có điều kiện tạo ra thanh danh khi thừa kế chức chủ tịch Trung Quốc của Hồ Cẫm Đào.
Nếu Hoa Kỳ hành xử khác đi trong vụ Trùng Khánh thì đương nhiên thế cục dành cho họ Tập cũng sẽ khác đi. Những con hổ như Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu có binh quyền trong tay lên đến cả mấy trăm ngàn người không dễ dàng gì buông giáo chịu êm. Đó là chưa kể sau lưng Chu Vĩnh Khang con có con Hổ ma mãnh kinh khiếp khác là Giang Trạch Dân hậu thuẫn. Hoa Kỳ không âm thầm khống chế thân nhân tài sản của những kẻ này ở Manhattan New York hay có những hành động tương tư ở những nơi khác thì bản thân ông Tập, không cách gì mà đủ sức bứng nổi bọn này ra khỏi Trung Ương.
Nếu thực sự là như vậy thì TẠI SAO HOA KỲ LẠI ĐI GIÚP TẬP CẬN BÌNH?
© Tú Hoa


Thursday, May 5, 2016

Gọi tên Sài Gòn trong những khúc tình ca

Gọi tên Sài Gòn trong những khúc tình ca
Cát Linh, phóng viên RFA
2016-04-24

Đường phố Sài Gòn năm 1945.
http://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-zoom.png AFP PHOTO
Nhà thơ Du Tử Lê từng nói, nếu tên của một người con gái nào đó xuất hiện trong nhạc phẩm của người nhạc sĩ thì thường đó là một tình yêu sâu đậm, cho dù chỉ là thoáng qua trong thời gian ngắn ngủi.
Nội dung chương trình tuần này đề cập về một cái tên được nhiều nhạc sĩ cùng nhắc đến trong các sáng tác của mình. Cái tên ấy là tình yêu sâu thẳm không chỉ của riêng người viết nhạc, mà còn là nỗi nhớ chưa bao giờ nguôi ngoai trong tâm trí của nhiều người, dù đã 41 năm đi qua.
Đó là tình yêu dành cho Sài Gòn.
-         Quê anh ở đâu?
-         Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn.
-         Thế à. Thế anh rời Sài Gòn năm nào?
-         Ngày cuối cùng của tháng tư năm 75.
“Mẹ đặt tên em, Nguyễn Thị Sài Gòn
Em sinh ra đời, một ngày cuối tháng Tư
Con thuyền mong manh, vẫy tay từ biệt
Gạt lệ ra đi, xin làm thân lữ thứ…” (tình ca cho Nguyễn Thị Sài Gòn)
41 năm, cái tên Sài Gòn chưa bao giờ bị xoá bỏ trong từ điển ngôn ngữ của người Việt Nam. Họ gọi hai tiếng Sài Gòn như một người thân gắn bó trong cuộc đời, với tất cả sự thương yêu và tiếc nuối.
Khi tình yêu dành cho một điều gì đó, hay một người nào đó quá lớn, lớn đến nỗi không thể đo lường được, thì tình yêu ấy thường được hoà quyện vào máu thịt. Chỉ có như thế, thì mới có thể mãi mãi không tách lìa.
Nguyễn Thị Sài Gòn của cố nhạc sĩ Việt Dzũng là tình yêu ấy, nhưng còn hơn thế nữa, tình yêu không phải của riêng ông, mà của chung một dân tộc.
Dân tộc ấy đã có một Sài Gòn, và đã mất một Sài Gòn. Để rồi Sài Gòn hoa lệ, diễm tình, Sài Gòn thơ mộng, hiền hoà chỉ còn được lưu giữ trong tâm tưởng của người ra đi, lẫn người ở lại. Người đi thì mang theo những hoài niệm về một thành phố đã xa. Mà có lẽ, hành trang ấy chỉ có thể còn trong tâm tưởng. Vì làm sao có thể giữ được tất cả kỷ vật trong hành trình đến bến bờ tự do, khi mà cái sống và cái chết không còn là sự chọn lựa của con người lúc đó.
Một gia đình người Việt khóc thân nhân của họ, những người lính bị giết trên các mặt trận, tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa, gần Sài Gòn. Ảnh chụp ngày 29 tháng 4 năm 1975. AFP PHOTO.

Trong giây phút ngột ngạt và bấn loạn nhất, hàng triệu người phải lựa chọn giữa đi và ở. Và có vẻ như đó là sự lựa chọn cuối cùng họ có được trên chính mảnh đất Sài Gòn thân yêu của mình. Nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn là một trong những dòng người đó. Ông đã chọn đi, để có thể giữ mãi trong trái tim ông hình ảnh của một người tình. Ông đi, để nhớ mãi những đêm hè, quán nhạc. Ông đi, để còn có thể gọi tên người tình ấy, người tình mà ông gọi là Sài Gòn. Ông gọi tên người tình ấy trong sáng tác của mình.
“Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
Như dòng sông nước quẩn quanh buồn
Như người đi cách mặt xa lòng
Ta hỏi thầm em có nhớ không

Sài Gòn ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao
Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
Nay còn gì đâu...” (Sài Gòn niềm nhớ không tên)
“Cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ như vậy. Như cái cây mà bị bứng ra khỏi đất của nó, mang sang trồng sang chỗ nào khác thì nó cũng có thể sống được, nhưng hoa trái của nó sẽ không còn mang cái vị của nó nữa. Thành ra, khi người ta ước mơ người ta đi thì có nghĩa là cái đất nó đã chua rồi. Chỉ có đi thì may ra còn nuôi được, chứ tình cảm trong đó thì đã chết hết.”
Nếu Sài Gòn của Nguyễn Đình Toàn, của Việt Dzũng được viết lên cho tình yêu về một thành phố đã thuộc về quá khứ, thì Sài Gòn trong ca khúc của Lê Uyên Phương, hay của Trầm Tử Thiêng lại là Sài Gòn viết cho một cuộc tình.
 “Sài-gòn bây giờ trời mưa hay nắng
Sài-gòn bây giờ ai khóc thương ai
Sài-gòn giới nghiêm che kín đêm dài
Sài-gòn khói bay, Sài-gòn nắng đổ
Sài-gòn đã buồn như trời sớm mai…” (Khi xa Sài Gòn)
“Khi xa Sài Gòn” là một ca khúc rất đặc biệt của cố nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ từ thơ Kim Tuấn. Hai từ Sài Gòn được nhắc đến ở mỗi đầu câu hát, từ câu đầu tiên cho đến câu cuối cùng. Ngay từ câu hát đầu tiên, người nghe, hay nói cách khác, người của Sài Gòn đã thấy hiện lên trong tâm trí một niềm khắc khoải xen lẫn nỗi nhớ về những đêm thành phố giới nghiêm, hoàn toàn yên lặng trong đêm tối. Nơi phương xa, họ tự hỏi rằng Sài Gòn của mình bây giờ trời đang mưa hay đầy nắng? Những hình ảnh rất thân quen với ngọn đèn đường xanh, đỏ, với những con đường ngái ngủ buổi sớm mai được tác giả nhắc đến trong ca khúc như đang cố gắng níu kéo một điều gì đó của Sài Gòn đang thuộc về quá khứ.
Điều đó là gì?
“Bài Khi xa Sài Gòn là một bài thơ tình của nhà thơ Kim Tuấn sống ở Pleiku mà anh Lê Uyên Phương và tôi có dịp gặp gỡ và quen biết anh nhân một chuyến lưu diễn, một tuần lễ văn hoá tổ chức ở Pleiku. Trong những bài thơ mà anh khoe với chúng tôi thì anh Lê Uyên Phương cảm được bài Khi xa Sài Gòn để phổ thành ca khúc. Ý nghĩa chính của nó là một bài thơ tình viết của một người từ Pleiku nhớ về người yêu của mình ở Sài Gòn, được sáng tác trong giai đoạn chiến tranh bùng nổ lên cao điểm là 1972. Còn nhà thơ Kim Tuấn viết bài thơ đó, nếu tôi nhớ không lầm là vào thời  1970, cũng là thời khốc liệt lắm, cũng có giai đoạn Sài Gòn bị giới nghiêm lúc 10 giờ.”
Cũng như nỗi nhớ của nhà thơ Kim Tuấn và cố nhạc sĩ Lê Uyên Phương, Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng là một Sài Gòn gắn bó với một thời tuổi trẻ. Khi ông xa lìa nơi ấy, ông mang theo tình quê, tình mẹ, và tình yêu dành cho người một trời yêu thương.
Đường phố Sài Gòn trước năm 1975.
“Đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi
Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi
Đường im nghe quá khứ trong sầu
Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau
Tình lẻ loi canh thâu…” (Đêm nhớ về Sài Gòn)
Đêm nhớ về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng là những mảng ghép của Sài Gòn ngày cũ. Ông góp nhặt rồi thấy mình như đứa trẻ mồ côi lạc loài.
Theo một lần trò chuyện về ca khúc Đêm nhớ về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng cùng nhà thơ Du Tử Lê, ông nói rằng linh hồn của nhạc phẩm này và ca khúc Mười năm yêu em là một. Nhạc sĩ họ Trầm viết dành cho một cuộc tình mà ông đã gửi lại Sài Gòn.
“Khi ông ấy nhớ lại một cuộc tình, hơi bi thảm, và tôi cho rằng vì cuộc tình ấy mà gần như cả cuộc đời ông ấy không có gia đình. Cái bài tiêu biểu cho cuộc tình bi thảm và thuỷ chung của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, đó là ‘Đêm nhớ về Sài Gòn’.”
“Ông ấy viết Mười năm yêu em là vì khi ông ấy qua đây là mười năm, cũng là thời điểm ông ấy viết Đêm nhớ về Sài Gòn. Như tôi hiểu, như tôi biết, sở dĩ ông ấy trân trọng như vậy là bởi vì người phụ nữ đó cho đến ngày ông ấy mất thì vẫn không có lập gia đình. Vì vậy ông ấy rất trân trọng mối tình ấy.”
Nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn từng nói rằng khi ông phải lìa xa quê hương, lìa xa Sài Gòn, ông thấy mình như một kẻ không có chỗ trú thân.
“Tách rời ra khỏi quê hương, từ bỏ quê hương thật của mình thì chỗ khác không thể nào thay thế được đâu.”
Có lẽ chính vì thế mà kể từ ngày Nguyễn Thị Sài Gòn của cố nhạc sĩ Việt Dzũng được sinh ra, thì cũng là lúc Sài Gòn của Nguyễn Đình Toàn đã thuộc về một miền quá khứ.
Khi con người đã mất đi cái tên của mình thì họ sẽ nhân danh ai để hiện hữu? câu hỏi này cho đến tận hôm nay, nhà văn/nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn cũng như tất cả những ai thuộc về Sài Gòn ngày cũ vẫn chưa tìm được câu trả lời. Từ đó, những ca khúc có tên gọi Sài Gòn vẫn mãi mãi gợi cho bao người một niềm thương nhớ khó nguôi ngoai.


Người biểu tình 'đối mặt an ninh'

Người biểu tình 'đối mặt an ninh'

Một người biểu tình thuyết phục lực lượng an ninh ở thành phố Hồ Chí Minh "mở đường" để những người xuống đường vì môi trường hôm 01/05 có thể ra về.
Người xuất hiện trong video, quay ở trước Sân khấu 126, được cho là chị Nguyễn Trang Nhung, nói với hàng rào an ninh mặc áo xanh:
"Nếu như tình trạng này cứ tiếp diễn, thì liệu các anh có sống với sức khỏe được bảo đảm hay không? Rồi cả con cái các anh nữa?"
"Tôi đang đấu tranh cho chính các anh đấy, nếu như các anh còn chút khả năng phân biệt đúng sai thì đừng cản trở chúng tôi."
"Hãy mở hàng rào ra để chúng tôi đi về."
Một phụ nữ khác đứng cạnh chị Nguyễn Trang Nhung tiếp lời với câu hỏi phải chăng lực lượng áo xanh "sợ những người dân không tấc sắt trong tay".
Một người đàn ông kế bên nói: "Nếu các anh đủ dũng cảm, đủ dũng khí thì hãy ra ngoài kia đánh Trung Quốc đi."
Rào chắn gồm ba hàng rào áo xanh đã không đáp trả những lời chất vấn của người biểu tình, cũng không mở lối theo yêu cầu.
Video do người biểu tình Khiêm Nhu ghi lại.
Tác giả đoạn clip cho biết, chị Trang Nhung sau đó đã bị đưa về phường tạm giữ và tra hỏi, đến đầu giờ sáng hôm 02/05 mới được về nhà.
Bản thân chị Khiêm Nhu cũng bị tạm giữ và tra hỏi cùng ba người em suốt 12 giờ đồng hồ.
Chị kể lại: "Các anh hỏi chúng tôi được bao nhiêu tiền khi đi tuần hành. '500 hay một triệu? Tướng này chắc chỉ được 500 [ngàn]'."
"Các anh nói đã có Đảng và Chính phủ lo. Các anh gọi hành động bắt những người dân như chúng tôi lên xe về đồn công an là "hốt", như một thứ rác rưởi?"



Người Thương Binh và Bóng Tối Còn Lại

Người Thương Binh và Bóng Tối Còn Lại
01/05/201600:00:00(Xem: 4573)
·         Phùng Annie Kim
·          

Tác giả: Phùng Annie Kim
Bài số: 3809-17-30309vb7043016

41 năm trước, ngày 30 tháng Tư 1975, Việt Nam Cộng Hòa và Sài Gòn sụp đổ. Trong các quân y viện khắp miền Nam, mọi thương bệnh binh cộng hòa, đều bị đuổi ra đường. Bóng tối còn lại dành cho họ ra sao? Mời đọc bài viết mới của Phùng Annie Kim. Tác giả là một nhà giáo, định cư tại Mỹ theo diện HO năm 1991, cư dân Westminster, California. Viết Về Nước Mỹ 2014, cô nhận giải danh dự. Sang năm 2015, với bài “Giọt Máu Rơi của Người Lính Chết Trẻ”, cô nhận thêm giải “Vinh Danh Tác Phẩm.” Bài viết kể về cuộc hành trình tháng Tư. Bài 2 kỳ. Tiếp theo và hết.

* * *

Anh Trần Văn Phụng.

Tôi cầm phong thư của hội H.O Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa với một tờ giấy trắng ghi rõ các chi tiết về người thương binh tên Trần Văn Phụng, bị mù hai mắt, cánh tay trái bị gẫy, mặt bị dị dạng, ký hiệu # 780 KH, địa chỉ thôn Phú Bình, xã Cam Tân, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

Một tờ giấy khác in bức hình màu anh Trần Văn Phụng, người đàn ông nhỏ con, gầy gò, ngồi trên một chiếc ghế thấp. Anh mặc chiếc áo sơ mi ca-rô ngắn tay, chiếc quần đùi sọc đen. Anh mù mắt. Hai cánh mũi bẹt ra trên khuôn mặt dài ngoằng, méo mó, nửa bên mặt màu nâu sẫm. Cánh tay mặt teo lại nổi lên những sợi gân cong queo. Cánh tay trái xòe ra đủ năm ngón đặt trên đùi.

Được biết ngày một tháng một năm hai ngàn mười sáu, Hội “HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH” tại nước Mỹ phát động phong trào “Một Gia Đình, Một Thương Phế Binh”, kêu gọi người Việt đồng hương tiếp tay với Hội, bảo trợ một năm hai trăm bốn chục đồng cho những thương phế binh thuộc loại nặng như mù hai mắt, liệt hoặc cụt một hoặc hai tay và chân. Trường hợp thương phế binh nhẹ như mù một mắt hoặc bị nội thương, cụt một tay hoặc chân được bảo trợ một trăm hai chục đồng. Tôi gửi điện thư xin được bảo trợ cho một thương phế binh và sau đó nhận được hồ sơ và tấm hình của anh Trần văn Phụng. Khuôn mặt và đôi mắt trong hình ám ảnh tôi nhiều đêm. Tôi quyết định về Việt Nam để gặp đôi mắt ấy.

Bữa ăn tối đầu tiên trên máy bay của hãng hàng không Eva Airlines đã được các cô tiếp viên phục vụ chu đáo. Chuyến bay về Việt nam sau Tết trống nhiều chỗ. Tôi chiếm ba chiếc ghế sát nhau làm thành cái giường nhỏ, tạm ngả lưng cho một chuyến bay dài. Đèn tắt. Thời tiết tốt. Máy bay êm. Vẫn là giờ Mỹ. Tiếng ngáy khò khò, tiếng ho khục khặc, tiếng la, khóc, mè nheo của những đứa trẻ, tiếng rì rầm, đều đều của cỗ máy trong đêm khuya. Chỗ nằm lạ. Khung cảnh lạ. Đôi mắt tôi mở trao tráo nhìn trong bóng đêm. Những ký ức xa xưa hiện về. Hình ảnh cuộc chiến tranh kéo dài hai mươi năm. Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nơi chôn cất những chiến sĩ Việt nam Cộng Hòa đã hy sinh. Những đôi mắt mù lòa, những cánh tay, ống chân bị thương tật của những người thương binh còn sống lây lất ở quê nhà.

Những suy nghĩ miên man về chuyến đi Nha Trang gặp gỡ anh Phụng sắp tới. Và câu chuyện hồi tưởng “Reflections on Vietnam”(1) của người lính Mỹ trở về Việt nam đi tìm sự bình an tâm hồn

Đó là câu chuyện của một người lính Mỹ tên là Brad Benneth.

Năm một chín sáu sáu, Tổng Thống Johnson trong ngôi nhà trắng điều hành cuộc “chiến tranh cục bộ” với con số năm trăm ngàn lính Mỹ, bảy mươi ngàn lính Đồng Minh và hai trăm ngàn lính Việt nam Cộng Hòa. Lệnh động viên ban hành. Mười tám tuổi, Brad tham gia cuộc chiến tại chiến trường miền Nam. Hai lần Brad bị thương với cấp bậc trung sĩ binh chủng thủy quân lục chiến.

Lần đầu tiên ra mặt trận, anh ngơ ngác và run sợ trước cảnh chiến trường mờ đục đầy khói súng, tiếng bom rơi, đạn nổ rát tai, xác người chết nằm la liệt và tiếng kêu la đau đớn, quằn quại của những người bị thương Mọi người bỏ chạy. Những tiếng hét “Nằm xuống”, “Nằm xuống”. Anh nằm xuống cũng là lúc anh nhận ra có người đang hướng mũi súng về phía anh. May mắn cho anh, viên đạn không trúng mục tiêu, chỉ lướt qua vai, Brad chỉ bị thương nhẹ.

Lần thứ hai tại làng Cồn Thiện tỉnh Quảng Trị, trong một cuộc đụng độ với Việt cộng, anh bị thương khá nặng. Bốn mươi bốn bạn đồng đội của anh hy sinh. Một chiếc máy bay “Marines” bị trúng đạn. Tổng cộng phi hành đoàn và bốn mươi sáu lính Mỹ và Việt nam tử nạn. Sau đó, tên tuổi của những người chiến sĩ Mỹ, Việt hy sinh được khắc vào tấm bảng bằng đồng. Họ được vinh danh ở nhà thờ đức Mẹ La Vang và tấm bảng này được đặt thờ ở một ngôi chùa gần Huế. Trong trận đánh này, đơn vị anh bắt sống được năm tên Việt cộng. Đơn vị phải di chuyển. Viên đại úy ra lệnh bỏ lại ba tên bị thương, chỉ mang theo hai tên còn lại.

Brad và đồng đội tiến vào ngôi làng với những tràng đạn lửa bắn ra một cách điên cuồng. Những con vật như trâu, bò, gà, vịt chết cháy đen thui. Những người đàn ông hoảng loạn la hét. Những người đàn bà khóc lóc kêu gào. Những đứa trẻ hốt hoảng, mếu máo bồng bế nhau bỏ chạy. Nhà cửa bốc cháy tan hoang. Cây trái ruộng vườn lan tỏa mùi khói súng và bom lửa na-pan. Hình ảnh khắc sâu vào trí nhớ anh đó là người chỉ huy ra lệnh phải bắn một trong hai người lính Việt cộng. Hắn ta là kẻ thù của anh, một cán binh cộng sản, một tù nhân chiến tranh. Chính hắn là người đã bắn những đồng đội anh mà xác họ còn nằm phơi bên hàng rào.

Brad kể lại câu chuyện về đôi mắt của người cán binh cộng sản nhìn anh lúc đó. “Tôi đã lên đạn và sắp bóp cò. Tên cán binh cộng sản quay đầu lại nhìn tôi. Đúng rồi. Chính là đôi mắt ấy. Đôi mắt đã ám ảnh tôi trong những cơn ác mộng thường xuyên từ nhiều năm nay. Khi anh ta nhìn tôi, tôi có thể cảm nhận được sự sợ hãi và căm thù. Vừa lúc đó tôi bóp cò. Súng nổ.”

Bốn mươi tám năm trôi qua, Brad đã nhiều lần nằm mơ thấy ông già Noel phát quà cho gia đình Brad. Khi ông quay lại, anh thấy đôi mắt của ông giống như đôi mắt của người cán binh cộng sản. Có lần Brad nằm mơ thấy mình chết. Linh hồn Brad bay đến một nơi có những thiên thần mang những đôi cánh trắng. Trong lúc Brad đang bay, bỗng một thiên thần giơ tay ra hiệu Brad ngừng lại. Brad thấy đôi mắt của thiên thần chính là đôi mắt của người cán binh cộng sản ngày nào nhìn anh hoảng sợ và giận dữ.

Tác giả và gia đình anh Phụng.

Bao nhiêu năm sống trong nỗi ám ảnh ray rứt vì đôi mắt ấy cũng như mặc cảm tội lỗi đã giết người, Brad bị bệnh trầm cảm. Một người bạn Việt nam đã khuyên Brad về thăm lại ngôi làng Hợp Chiến ngày xưa. Hãy làm một điều gì đó giúp ích cho ngôi làng. Brad gặp Magaret, một nữ họa sĩ kể lại câu chuyện về đôi mắt và nhờ bà vẽ đôi mắt này. Magaret vẽ xong bức tranh và lên khung. Những nét chì đen phác họa giống đôi mắt của người cán binh Cộng sản nhưng ánh mắt tỏa ra nét hiền hòa và sâu lắng làm cho Brad cảm thấy tâm hồn anh nhẹ nhõm và an bình. Anh sắp làm một việc tốt về tâm linh cho người cán binh Cộng sản và những đồng đội của mình. Anh mang bức tranh đến ngôi chùa xưa ở Huế, đặt bức tranh có hình đôi mắt cạnh tấm bảng bằng đồng có tên chín mươi lăm người chiến sĩ Mỹ, Việt tử trận. Anh tin rằng khi đặt bức hình có đôi mắt của người cán binh Cộng sản cùng với tấm bảng đồng thờ tại chùa và sự cầu nguyện, linh hồn họ sẽ được siêu thoát, nhất là đôi mắt ấy không còn lang thang hiện về trong những cơn ác mộng của anh nữa.

Brad đang đi trên con đường vào làng Hợp Chiến. Người dân làng kể rằng một phần của làng Hợp Chiến là nghĩa trang. Những ngôi mộ được chôn trong vườn nhà của người sống. Có khoảng ba trăm, vừa là ngôi nhà, vừa là nghĩa trang như thế. Hầu hết những người này chết vì những trận bom na-pan. Họ là thân nhân của người sống và được chôn trong chính ngôi nhà của mình.

Brad đã gặp những học sinh của ngôi trường mà ngày xưa nơi đây từng là căn cứ quân sự của đơn vị anh chiếm đóng.Anh đến đây để cầu xin sự tha thứ. Khi nhìn những khuôn mặt ngây thơ của những đứa trẻ, anh đã nghĩ đến có thể ngày đó anh đã giết cô, dì, chú, bác hay ông bà nội, ông bà ngoại của chúng. Chúng dạn dĩ nắm lấy tay anh, cùng theo anh bước vào lớp. Chúng quây quần ngồi xuống đất vây chung quanh anh, chụp với anh và các cô giáo nhiều tấm hình kỷ niệm. Anh đã kể cho chúng nghe câu chuyện cách đây bốn mươi tám năm, một sự thật rằng anh và đơn vị thủy quân lục chiến của anh đã có mặt ở ngôi làng này. Các anh đã giết họ hàng, bà con, thân nhân của gia đình chúng. Anh đã từng cầm súng giết người vì mệnh lệnh của cấp chỉ huy trong khi anh không bao giờ muốn làm. Giống như những con chiên xưng tội trước Chúa, lời kể chuyện của anh với dân làng Hợp Chiến như một lời thú tội. Khi kể đến đây, anh cảm động rươm rướm nước mắt. Anh cảm thấy nhẹ lòng và được an ủi. Bọn trẻ nhìn anh ngạc nhiên và xa lạ. Chúng không còn nắm tay anh nữa.

Để bù đắp những đau khổ và mất mát của người dân làng Hợp Chiến, anh gây quỹ học bổng hai ngàn năm trăm đô- la và dự định sẽ xây một ngôi trường có hệ thống dẫn nước vào nhà vệ sinh cho các em. Hai đứa con trai của anh sẽ tổ chức một buổi hòa nhạc. Số tiền thu được sẽ giúp xây dựng lại ngôi làng này. Sự chia sẻ về vật chất này giúp tâm hồn anh được thanh thản.

Sau chiến tranh, hội chứng rối loạn do căng thẳng thần kinh của những người cựu chiến binh Mỹ “Post Traumatic Stress Disorder” viết tắt là PTSD, cộng thêm những thương tật đã khiến họ mặc cảm, bất mãn, xuống tinh thần, chán làm việc, căm thù xã hội, khó hòa nhập vào đời sống Mỹ. Có những người cựu chiến binh tâm lý lúc nào cũng căng thẳng, giận dữ, lo sợ, bất an, buồn rầu hoặc mất trí nhớ, mất phương hướng, đưa họ đến chỗ tự tử vì bế tắc. Cách chữa trị bằng sự nhận thức và cách ứng xử “ Cognitive Behavioral Therapy” viết tắt là CBT có mục đích làm thay đổi những suy nghĩ, tình cảm và hành động tiêu cực của bệnh nhân trong cách cư xử với những người chung quanh, hoặc bằng cách cho bệnh nhân được nói lên những ẩn ức sâu kín của mình cũng như tạo những mối quan hệ mới và tốt hơn sẽ giúp cho bệnh nhân thoát ra khỏi sự khủng hoảng. Brad đã có sự quân bình về tâm lý sau chuyến về thăm ngôi làng Hợp Chiến.

Nước Mỹ là một trong những nước quan tâm nhiều đến đời sống tinh thần và vật chất cho những cựu chiến binh.Tổng Thống Abraham Lincoln nhắc nhở phải chăm sóc tốt đời sống các cựu chiến binh và vợ con họ. “ To care for him who shall have borne the battle and for his widow, and for his orphan”. Tổng Thống Eisenhower đã ký một đạo luật đổi ngày đình chiến “Armistic Day” thành ngày “Veterans Day” November 11, một ngày lễ dành riêng cho các cựu chiến binh để bày tỏ lòng kính trọng và vinh danh những người đã cống hiến cuộc đời cho đất nước. Phương châm “Leave no man behind” Không bỏ sót người cựu chiến binh nào. Theo luật pháp Mỹ, dù phục vụ một năm hay hai mươi năm, chính phủ có trách nhiệm phải cung cấp những tiện nghi tối thiểu cho họ như thực phẩm, quần áo, chỗ ở... Các cựu chiến binh còn được hưởng những phúc lợi về y tế và tài chánh như bệnh viện, tiền trợ cấp của quân đội (military pension), phúc lợi hưu trí (retiree benefits)...

*

Trần Văn Phụng, anh là ai?

Trong cách gọi, nếu người Việt gọi Brad Bennett bằng danh từ “cựu chiến binh” là người đã có một thời là lính chiến thì người Việt gọi anh Trần Văn Phụng bằng danh từ thật chính xác “thương phế binh”, người lính bị “thương” và tàn “phế”. Về mặt ý nghĩa, nếu từ ngữ “cựu chiến binh” diễn đạt được tình cảm trân trọng dành cho người lính Mỹ thì từ ngữ “thương phế binh” nói lên được sự mất mát, vô dụng, đáng thương của người lính Việt Nam Cộng Hòa.Về sự vinh danh công trạng, nếu người Mỹ ca ngợi những cựu chiến binh là “những đứa con anh hùng của Tổ Quốc” và có ngày lễ Veterans Day của cả nước dành cho họ thì trái lại, sự cống hiến và hy sinh của những người lính Việt Nam Cộng Hòa thật âm thầm vì bị lãng quên. Nếu nước Mỹ có luật pháp bảo vệ những phúc lợi về an sinh xã hội cho những cựu chiến binh Mỹ thì không có một chút gì chia sẻ hay bù đắp cho những thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa ngoại trừ một thân thể thương tật, nhiều bệnh hoạn và một cuộc sống nghèo khổ, cơ cực sau chiến tranh.

Còn sự hy sinh ? Brad Benneth may mắn trở về đời sống dân sự với đôi mắt còn nguyên vẹn, thân thể còn lành lặn mặc dù “đôi mắt mang hình viên đạn” (2) đầy giận dữ và căm thù của người cán binh Cộng sản là bóng ma ám ảnh anh suốt bốn mươi tám năm. Brad biết rằng nếu ngược lại anh là tù nhân Cộng sản, đôi mắt ấy sẽ không tha thứ cho anh. “Không giết phía bên kia thì họ sẽ giết mình”. “Kill or to be killed”. Luật chiến trường, kẻ ra tay trước là kẻ mạnh và là kẻ chiến thắng. Chiến trường không có sự nhân nhượng. Bản năng sinh tồn không cho phép anh lý luận. Quân lệnh hay là bị kỷ luật. Anh không có chọn lựa nào khác.

Hãy nhìn đôi mắt của người thương phế binh Trần Văn Phụng? Đó là hai cái lỗ sâu hoắm, tròng trắng và tròng đen đã bị nướng khô trong bom lửa. Đôi mắt ấy chỉ còn lại hai miếng thịt màu đỏ và một màn đêm tăm tối. Những vết sẹo lồi lõm trên khuôn mặt bị cháy nám và cánh tay cụt sẽ mãi mãi gắn liền trên thân thể anh cho đến suốt đời.

Chiến tranh đã đưa hai người lính Mỹ và Việt ở hai phương trời đến gần nhau mặc dù mỗi người có một định mệnh. Tuy có khác nhau về ngôn ngữ, dân tộc, địa lý, họ đều là những chiến sĩ cùng chiến đấu trong một chiến tuyến, cùng là đồng minh có chung lý tưởng chống Cộng sản, cùng sống sót trở về với những thương tật. Chiến tranh đã tiêu diệt nhân loại, tàn phá, hủy hoại tất cả những giá trị tinh thần và vật chất, làm tổn thương từ thân xác đến tâm hồn con ngừơi. Năm mươi tám ngàn lính Mỹ đã tử trận và ba trăm ngàn lính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Thời đi lính dưới chính thể Việt nam Cộng Hòa, những người lính không may bị thương trở thành những người thương phế binh. Giờ đây, một lần nữa, họ không may vì không đủ điều kiện để được ra đi định cư ở nước ngoài theo diện nhân đạo của chính phủ Mỹ. Hiện nay, có khoảng hai mươi ngàn thương phế binh còn sống sót tại miền Nam trong đó có khoảng từ ba ngàn đến năm ngàn người xếp vào loại tàn phế. Là “ngụy quân”, bị phân biệt đối xử, họ không được một phúc lợi xã hội nào. Họ phải tự bươn chải với thân thể tật nguyền bằng các nghề cơ cực như bán vé số, xin ăn hoặc phải nương tựa vào thân nhân. Một quyển sách có tên là “ Những mảnh đời rách nát” gồm những bài viết của những thương phế binh ở miền Nam ghi lại đời sống nghèo khổ, vất vưởng, già yếu, bệnh hoạn và khốn cùng của họ được gửi sang Pháp, in lại và lưu hành. Quyển sách đã đánh động vào tấm lòng nhân đạo của những người Việt xa xứ. Từ đó cộng đồng người Việt khắp nơi có cơ hội nghĩ đến những người thương phế binh bất hạnh còn kẹt lại quê nhà.

Từ năm một ngàn một trăm chín mươi hai cho đến nay, một tổ chức tự nguyện tại California có tên là Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH ra đời. Hơn hai mươi năm hoạt động, Hội không có nguồn tài trợ nào ngoài sự đóng góp của đồng hương người Việt và các chương trình đại nhạc hội gây quỹ. Với tất cả sự cố gắng và tình thương dành cho họ, Hội chỉ có thể giúp được bảy mươi phần trăm trong số hai mươi ngàn hồ sơ thương phế binh và quả phụ tử sĩ từ Việt nam gửi sang trong đó có hồ sơ người thương phế binh tên Trần Văn Phụng.

*

Chuyến bay Sài Gòn- Nha Trang bằng hãng Jet Air cất cánh trễ ba tiếng đồng hồ. Họ dồn khách từ chuyến mười hai giờ vào chuyến ba giờ cho đủ ghế. Hành khách không phàn nàn có lẽ vì họ đã quen cách làm việc của hãng hàng không giá rẻ này. Vì thế không lạ khi chuyện trễ giờ không có gì mà ầm ỹ.

Chiều phi trường Cam Ranh vắng và thật buồn. Có lẽ vì dư âm bài hát “Chiều Phi Trường” của Lê Uyên Phương ngày nào bất chợt về trong trí nhớ: “ Tôi với em dương trần vai tiễn đưa. Ngày hôm qua trong nắng thiên đường. Ngày hôm nay lo âu tìm về nơi bến ngân”. Tôi đang tìm về một “bến ngân” quá khứ với nhiều kỷ niệm thời chiến tranh. Những khẩu hiệu, biểu ngữ, nhà cửa xây cất dọc theo con đường đi vào thành phố, mọi thứ đã thay đổi và mới lạ khiến tôi không còn nhận ra Cam Ranh ngày cũ. Chỉ có những tia nắng chiều rực rỡ, bầu trời xanh biếc không một gợn mây, biển êm, bao la và dạt dào một màu xanh ngọc bích chạy dài đến tận chân trời là thân quen. Ngắm biển, trời, lòng tự hỏi mình buồn hay vui khi cô gái đẹp Cam Ranh đã từng được các chàng trai quốc tế yêu thương dòm ngó? Hay mừng vì cô “vẫn xanh như thời gian, thời gian” ?(3). Cô vẫn là một cảng biển đẹp và lý tưởng về an ninh, địa chất, du lịch và địa thế chiến lược quốc tế nhưng sao trong lòng tôi, lúc này cảm thấy mình chơ vơ, lạc lõng. Cô thật xa vời.

Đoạn đường từ Cam Ranh đến thành phố Nha Trang chỉ có ba mươi lăm ki-lô-mét. Đi bằng xe bus đậu ở phi trường phải chờ đủ người, mất hơn một tiếng đồng hồ và tiền vé là sáu mươi lăm ngàn, chưa đến năm đô. Theo lời dặn của Liễu, con gái anh Phụng, tôi mặc cả chiếc xe taxi chạy thẳng đến ngã ba thôn Phú Bình, thị xã Cam Tâm mất ba mươi phút và ba trăm ngàn tương đương với mười lăm đô.

Từ ngã ba Cam Tâm đến nhà anh Phụng mất ba cây số, xe taxi có thể vào được. Tại đây, Liễu sẽ đón tôi và dặn sẽ mặc chiếc áo màu đỏ để tôi dễ nhận ra. Qua điện thoại, Liễu có giọng nói của người Bình Định nhưng dễ nghe. Tôi hình dung một cô Liễu… yếu đào tơ nào ngờ cô là một cô gái nhà võ, vạm vỡ, to con thuộc loại “con gái Bình Định múa roi đi quyền”. Liễu đeo cái khẩu trang, nón và khăn trùm đầu bịt kín mặt chỉ chừa đôi mắt. Trời nắng và nóng hầm hập nhưng Liễu nai nịt nào là áo dài tay, áo trong, áo khoác ngoài, đeo găng đen đến cùi chỏ, giày bít, vớ đen trông Liễu giống như nhân vật Ninja hay anh hùng Lương Sơn Bạc.

Liễu dặn dò:

- Đường bụi và nhiều ổ gà xóc lắm. Cô theo taxi chạy thẳng vào nhà con nha cô. Con chạy trước dẫn đường.

Tôi nghe lời Liễu trả thêm sáu chục ngàn tắc xi. Con nhỏ phóng xe gắn máy như bay trên con đường đá đỏ bụi mù.

Huyện Cam Lâm có mười ba xã cùng có tên bắt đầu bằng chữ Cam. Cam Tâm là một trong những xã nghèo của huyện. Nhà cửa rải rác, đất đai cằn cỗi, người dân đen đủi, lam lũ nhuộm màu sương nắng, sống bằng nghề canh nông, mùa nào trồng thức ấy, nuôi bò hay buôn bán hàng xén lặt vặt. Trường mẫu giáo Sơn Ca có hai lớp học nằm chơ vơ giữa cánh đồng. Cũng may mạng lưới điện đi vào đến xã nên người dân Cam Tâm hưởng được ánh sáng văn minh của các sinh hoạt giải trí như truyền thanh, truyền hình. Xe ngừng trước căn nhà gạch nhỏ lợp tôn cũ kỹ. Một người đàn ông gầy ốm, đang ngồi trên chiếc giường thấp trước cửa, bên cạnh là cây gậy. Tôi đoán chắc đây là anh Nguyễn Văn Phụng Trông anh không khác gì với tấm hình trong hồ sơ tôi nhận được từ Hội Bảo Trợ Thương Phế binh.

Liễu dựng xe trước thềm, miệng nhanh nhẩu:

- Ba ơi, Cô A-ni về rồi nè Ba. Ba con ngồi đây nãy giờ chờ Cô về đó. Hồi ở Mỹ cô gọi về thăm ba, ba con mừng và mong cô lắm. Bây giờ ba muốn nói gì với cô thì ba nói đi.

Tay trái anh sờ soạng vào chiếc giường, chầm chậm đứng lên, hướng mặt về phía Liễu, nụ cười méo mó trên khuôn mặt bị biến dạng, lồi lõm những vết sẹo nám đen. Thân hình nhỏ bé trong chiếc áo sơ mi xanh cũ kỹ và chiếc quần sọt sọc đen. Đặc biệt là tiếng nói của anh sang sảng rặt giọng một ông già Bình Định, chữ “a” thành chữ “e”. Tôi chưa kịp chào, anh đã nói liên tiếp một tràng hỏi thăm sức khỏe.

- Cám ơn cô A-ni đã cất công từ Mỹ về thăm. Cô đi đường có khỏe không? Mời cô vào nhà uống xí nước. Liễu mời cô vô nhà đi con.

Tôi đứng ở chiếc cửa gỗ, nắm bàn tay lành lặn của anh và nhìn vào mắt anh thật lâu. “Nhìn tận mặt, bắt tận tay”. Bây giờ tôi đã thấy rõ đôi mắt của người lính mù. Đôi mắt nhăn nhúm không có tròng trắng và tròng đen. Chỉ là hai miếng thịt màu đỏ tươi đọng ở mí mắt dưới.

Anh ngồi trên chiếc giường gỗ cạnh chiếc quạt, chung quanh là những đồ đạc mùng, mền, chiếu, gối, khăn, áo, thuốc men và các dụng cụ làm vệ sinh.Thế giới của người mù gói ghém chung quanh không gian nhỏ bé này. Chị Phụng gầy ốm, da xanh mét bước ra chào. Căn nhà nền đất chất đầy các vật dụng linh tinh cũ kỹ, bụi bặm. Chiếc bàn thờ ông bà ở giữa và một tấm phản gỗ cạnh đó. Không có vật gì quý giá ngoại trừ cái ti vi và cái tủ lạnh là dấu tích của đời sống văn minh đô thị cũng xưa cũ như tuổi già của chủ nhân. Ngồi trên chiếc giường gỗ bên cạnh anh, tôi mở đầu câu chuyện hỏi thăm anh về hoàn cảnh gia đình, đời lính, những thương tật, những mơ ước. Ngoài sân nắng rực rỡ. Hai hốc mắt nghiêng nghiêng nhìn lên bầu trời như chìm đắm vào ký ức xa xôi. Anh kể chuyện bằng giọng người Bình Định khó nghe, khi trầm buồn, khi nghẹn ngào, khi ngắt quãng, khi yên lặng thật lâu. Có lúc nước mắt đọng trên hai hốc mắt rồi khô đi từ lúc nào.

-“Nhà tui nghèo lắm. Nghèo ba đời, ông cố, ông nội và đời tui.Tui cưới má con Liễu sanh hai thằng con trai chết vì bệnh sau bảy lăm. Chỉ còn một con Liễu ni còn sống đến chừ. Cô biết thời đó mần răng mà có thuốc men. Phần vì nghèo quá không tiền chữa chạy cho con trên bệnh viện tỉnh, tui nhìn hai đứa con chết mà thương. Má con Liễu bệnh hoài. Bả bán trầu cau ở chợ trong thị xã ngày kiếm được vài ba chục ngàn không đủ tiền chợ. Bữa mô bệnh thì nghỉ có khi cả tháng. Đi khám ở xã, xã chuyển lên nhà thương tỉnh, tỉnh chuyển lên thành phố. Tính riết hết nổi cô ơi. Tiền ăn, tiền ở, tiền thuốc, tiền xài lấy đâu ra. Ở nhà kiếm ba cái thuốc Nam uống cũng đỡ. Vợ chồng tui sống nhờ vào cái xe bán bánh mì của con Liễu. Ngày đắt thì được trăm ngàn, ế thì được sáu bảy chục. Cũng sống qua ngày. Má nó nghỉ bán, phụ con Liễu, còn tui ngồi một chỗ không mần răng được giúp vợ con. Tui bây giờ là người tàn phế rồi. Buồn lắm cô ơi. Thấy vợ con cực khổ...”

Lúc này, đôi mắt anh như chìm vào khoảng không, đôi khi anh nhắm lại như cố kềm giữ những giọt nước mắt. Anh kể về người lính Trần Văn Phụng hơn bốn mươi năm về trước và trận pháo kích xảy ra trong đêm giao thừa Tết Mậu Thân.

“Năm nay tui bảy mươi bốn tuổi. Tui đi lính lúc hai mươi lăm tuổi, cấp bực trung sĩ thuộc trung đoàn 40, biệt đội quân báo thuộc sư đoàn 22 đóng ở thị xã Qui Nhơn. Bây chừ tui còn nhớ rõ hình ba ngọn núi, hai con sông “Tam Sơn Nhị Hà” là huy hiệu của sư đoàn 22 bộ binh. Sư đoàn này có ông trung tá chỉ huy trưởng tui quên tên, ổng giỏi và thương lính. Nghe nói ra trường Bộ Binh Thủ Đức, ổng đậu thủ khoa. Hồi đó trung đoàn 40 phối hợp với kỵ binh và cơ giới Mỹ đánh thắng hai tiểu đoàn Việt Cộng. Hai tiểu đoàn này thuộc sư đoàn 3 Sao Vàng Bắc Việt nổi tiếng là tụi “sinh Bắc tử Nam”. Mình thắng trận này lớn lắm. Còn một trận thắng lớn nữa là trận Tam Quan trước năm Mậu Thân.

Hồi đó tui đóng quân ở huyện Hoài Nhơn, thị xã Bồng Sơn gần thành phố Qui Nhơn. Cô biết cái huyện này là vùng xôi đậu, ban ngày Quốc gia, ban đêm Cộng sản. Cả thị xã có một chi khu quân sự được gài mìn cờ -lây-mo, lô- cốt, hàng rào kẽm gai bao chung quanh. Bốn năm giờ chiều là đóng cổng rào. Bồng Sơn hồi đó là căn cứ địa của sư đoàn 3 Việt cộng. Dân nửa theo Việt cộng, nửa theo Quốc gia. Giao thừa năm Mậu Thân sáu tám, Việt cộng tổng tấn công bất ngờ. Chi khu bị đạn pháo kích tơi bời cả ngày lẫn đêm.Trận này chết nhiều lắm, cả ngàn người, đa số là dân.Tui còn nhớ tui bị thương nặng lắm. Bị trúng đạn pháo kích, tui mê man, bất tỉnh. Họ đẩy tui vô nhà xác. Về sau có người lính thấy tui còn ngáp ngáp, họ kéo tui ra, chở tui lên trực thăng về Quân Y Viện Cộng Hòa. Lúc đó tui có biết chi mô. Nếu không về Saigon kịp, coi như chết.

Nhìn cánh tay mặt gẫy quặp, các ngón tay teo tóp, nửa khuôn mặt và cần cổ nám đen nhất là hai miếng thịt đỏ trên đôi mắt, tôi nghẹn ngào hỏi anh vài câu nhưng anh vẫn yên lặng.

Liễu ghé bên tai anh:

- Cô ơi, cô phải nói thiệt lớn ba con mới nghe được. Ba con bị lãng tai nặng lắm.

Tôi nghiêng người ghé vào lỗ tai anh hỏi lớn:

- Hồi đó họ chữa trị anh như thế nào? Anh nằm bao lâu? Ai vô Saigon chăm sóc anh? Lúc đó gia đình anh sống bằng cách gì?

- Thời Việt Nam Cộng Hòa, tụi tui đi lính bị thương có tiền trợ cấp thương tật của chính phủ cũng đỡ.Tui không nhớ bao nhiêu nhưng tiền này tui lãnh trước ngày ba mươi tháng tư thì dứt. Má tui và vợ tui buôn bán bậy bạ qua ngày ở Sài Gòn để kiếm thêm tiền chạy thuốc. Tui chết đi sống lại đó cô. Tui nằm bệnh viện một năm trời. Cũng may có ông bà sui gia ở Xóm Chùa trong Sài Gòn giúp đỡ. Lành bệnh rồi tui ở lại Sài Gòn dưỡng bệnh ở nhà ông bà sui gia cả năm, khỏe hẳn rồi mới về Nha Trang. Hồi nằm nhà thương, cả tuần sau vợ và má tui mới biết tin vô Sài gòn kiếm. Ai cũng tưởng tui chết rồi. Họ vô bệnh viện tìm xác để chôn tui. Tui còn nhớ sau khi mổ, tỉnh dậy có một thân một mình, tui đau đớn rên la dữ lắm. Hồi đó phải chi anh lính đừng cứu tui, để tui chết cho rồi. Tui rờ thấy hai con mắt bịt kín, cánh tay bị băng bó. Ông bác sĩ mổ mắt đến giường nói ổng ráng mổ nhưng lửa cháy thui hai cái tròng trắng và con ngươi, ổng không cách nào cứu hai con mắt được. Thôi đành phải mổ lấy hai cục thịt đen ra. Tui bị đui luôn. Còn nửa cái mặt bị phỏng lan xuống cần cổ cũng bị lửa táp, sau này lành thành sẹo. Cánh tay phải bị cháy, teo hết gân nên xụi lơ. Cô thấy không, cháy hết cả cánh tay còn có một khúc thịt, rờ giống như ổ bánh mì. Bữa mô trời lạnh gắt, nó hành rêm nhức dữ lắm.Còn cái tai tui có nghe được gì mô. Cô nói lớn bên hai tai ni tui mới nghe được.

Tôi lại ghé vào tai anh:

- Làm sao anh biết được có Hội Thương Phế Binh bên Mỹ để xin giúp đỡ ? Hiện nay anh có mong ước điều gì không? Có muốn nhắn gì với Hội không?

Nghe đến đây tôi thấy anh nhếch mép. Chiếc miệng rộng chỉ có da mà không còn chút môi để người đối diện biết được có một nụ cười và niềm vui trên khuôn mặt chằng chịt những vết sẹo:

- Bên này anh em tụi tui thương nhau lắm. Có mấy anh biết chương trình này, anh em bày cho nhau cách làm đơn gửi đi. Anh nào nhận được tin gì đều báo cho nhau biết như vừa rồi có tin đồn chính phủ Mỹ ký giấy cho anh em đi Mỹ. Có nhiều anh đọc báo, nghe tin tức bên Mỹ cho biết khó lắm, đừng hy vọng nhiều vì luật pháp Mỹ phải qua nhiều chặng. Dù gì tụi tui vẫn còn hy vọng.

- Còn mong ước gì? Tui chỉ mong Hội Thương Phế Binh đừng bỏ quên tụi tui. Ở đây có nhiều anh em nghèo, không thân nhân, sống khổ lắm. Họ mặc cảm bị bỏ rơi từ mấy chục năm nay. Mỗi khi anh em nhận quà của Hội họ mừng lắm. Ai cũng biết bà con bên đó đi làm cực khổ còn làm văn nghệ gây quỹ để có tiền gửi về giúp.Cho tui gửi lời cám ơn cô, cám ơn Hội thật nhiều. Tui mong ước có vậy.

*

Khi biết tôi sẽ đáp chuyến máy bay trễ nhất từ Cam Ranh về Sài Gòn lúc tám giờ tối, người tài xế tình nguyện chờ tôi hai tiếng ở nhà anh Phụng và sau đó chở tôi ra phi trường lúc sáu giờ rưỡi. Từ huyện Cam Lâm đến Cam Ranh có con đường mới xây, băng qua thành phố Nha Trang. Còn nhiều thì giờ, tôi trả thêm cho anh chút tiền. Anh chở tôi xem một vòng thành phố biển.

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng. Có những đêm nghe vọng lại ầm ầm tiếng sóng xa đưa”.(4) Không thấy sóng, không nghe tiếng sóng biển ầm ầm cũng không đặt chân trên cát, trước mắt tôi là “Nha Trang by night” tràn ngập các thương hiệu quảng cáo mang tên nước ngoài. Con đường Trần Phú song song với biển rực rỡ ánh đèn. Nhà mới đang xây, cửa hàng, cao ốc, khách sạn và nhà hàng mọc ra san sát. Một thành phố du lịch đang phát triển. Tôi liên tưởng dĩa khoai từ và khoai lang củ chỉ to hơn ngón tay cái và vài quả chuối chín hái trong vườn nhà đãi khách “việt kiều” trong căn nhà mái tôn nóng chảy mồ hôi hột tại thị xã Cam Tâm. Đi sâu vào các vùng xa mới thấy cuộc sống nghèo khổ của người dân quê và sự chênh lệch giàu nghèo giữa người dân thành phố và nông thôn hiện ra rất rõ.

Chuyến bay cất cánh đúng giờ lý do đây là chuyến bay cuối cùng trong ngày. Sau một ngày mệt nhọc, tôi ngủ vùi cho đến khi cô tiếp viên đánh thức tôi dậy. Máy bay chuẩn bị hạ cánh. Giấc ngủ chỉ kéo dài có bốn mươi lăm phút mà tôi ngỡ như mình đã ngủ từ lâu lắm. Tôi đã nằm mơ. Tôi mơ thấy đôi mắt anh Phụng. Đôi mắt rực sáng, mở to nhìn tôi. Ánh mắt thật hiền hòa và thật buồn.

Tôi nhớ lại câu chuyện kể về chiến tranh, tai nạn làm anh chết đi sống lại, về người vợ bệnh tật, đứa con gái vất vả bán bánh mì nuôi cha mẹ, cảnh nghèo của gia đình anh và giây phút cuối cùng chia tay anh trước sân nhà. Tôi ngồi trong xe taxi, vẫy chào gia đình anh qua khung cửa kiếng, Hình như anh đang khóc. Anh khóc thật. Những giọt lệ hiếm hoi đang đọng trên hai hốc mắt và từ từ rơi chậm trên đôi má hóp. Tựa cây gậy vào đùi, anh hướng về phía xe đang nổ máy, giơ bàn tay trái lành lặn chùi nhẹ những giọt nước mắt và vẫy chào tôi. Lúc đó tôi biết rằng đây là lần đầu tiên và có lẽ là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Anh đã gặp, đã nhìn tôi nhưng trong hai hốc mắt có miếng thịt màu đỏ ấy, anh không bao giờ thấy tôi cả.

*

Tôi còn nợ. Một bạn đọc tên là “Saigonmylove” sau khi đọc bài viết của tôi “Bố con là người lính” đăng trên Việt Báo đã viết lời góp ý “ Đọc xong bài này, thật là ngậm ngùi cho những anh hùng tử sĩ Việt Nam đã đền nợ nước mà chưa bao giờ vinh dự nhận câu nói “Thank you for your service”. Nhân dân miền Nam còn nợ các anh câu đó. Chúng tôi hy vọng có ngày được về đứng trước Nghĩa Dũng Đài để trả nợ các anh câu đó.”

Tôi đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vừa đúng lúc một trận mưa rào đổ ập xuống. Chiều phi trường và chiều nghĩa trang là hai cảnh đời “sinh ly, tử biệt”, ai đến đây mà không vương nỗi đau xót, ngậm ngùi. Tôi cầm dù, chạy băng qua cổng Tam Quan vào Đài Tử Sĩ tìm chỗ trú mưa.

Cảnh vật ở đây hoang phế, điêu tàn. Cây cối um tùm. Con đường đất cát lầy lội sau cơn mưa. Nhiều nấm mộ không bia, gạch đá tung vãi, nằm chơ vơ, lạnh lẽo bên lối đi như một khối đất hoang. Bức tượng “Thương Tiếc” của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu ghi lại hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bị giật sập và phá hủy sau ngày ba mươi tháng tư. Chiều nghĩa trang vắng lặng, âm u và thật buồn. Chỉ có một mình tôi trước ngọn tháp Nghĩa Dũng Đài. Hồn tử sĩ như phảng phất quanh đây. Tay cầm nắm hương đang bốc cháy, tôi lâm râm khấn nguyện: “ Xin gửi theo làn khói trầm hương lời cám ơn các anh. Xin cám ơn mười tám ngàn người lính Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến tranh và được chôn cất tại nơi đây. Xin nguyện cầu cho các vong linh được yên nghỉ bình an nơi mảnh đất tạm dung này”.

Chiếc xe taxi chở tôi về lại thành phố. Ngày mai tôi sẽ rời Sài Gòn để trở về Mỹ. Cuộc chiến đã trôi qua và chìm lắng theo thời gian. Những lời cám ơn muộn màng và không đủ cho những người đã nằm xuống và những người thương binh còn lại đang sống vất vưởng ở Việt Nam. Những chia sẻ về vật chất khiêm tốn và nhỏ bé không bù đắp được sự hy sinh của các anh. Chúng tôi, những người Việt tha hương không bao giờ quên các anh, những người đã mất mát, thiệt thòi và chịu nhiều đau khổ trong thời chiến.

Trên đường về, tôi nghe đâu đây lời bài hát “Nhớ người thương binh”của Phạm Duy âm điệu ngân nga luyến láy làm ray rứt lòng người:

…“ Chàng về nay đã cụt tay. Chàng về... “Người quê còn nhớ người chăng. Vì vào chốn tử sinh. Chiến trường quên thân mình. Người về... có nhớ thương binh. Người về có nhớ...

Viết cho ngày 30 tháng 4 năm 2016.

Phùng Annie Kim.

Chú thích: -1“Reflections on Vietnam” by Edward Moody- Các bài hát- 2 “Những đôi mắt mang hình viên đạn” ( Trần Tiến)-3 “Chiều phi trường” (Lê Uyên Phương )- 4 “Nha Trang” (Minh Kỳ)-

 Nguồn: http://vvnm.vietbao.com/a246243/nguoi-thuong-binh-va-bong-toi-con-lai

Aspirin giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch và ung thư đại tràng

Aspirin giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch và ung thư đại tràng
Việt Hà, phóng viên RFA
2016-05-03

Nhóm nghiên cứu phòng bệnh của Hoa Kỳ mới đây đưa ra một hướng dẫn mới theo đó những người có nguy cơ bị bệnh tim mạch cao nên uống aspirin liều thấp để giúp giảm nguy cơ bệnh và ung thư đại tràng.
Hồi đầu tháng 4, nhóm nghiên cứu phòng bệnh Hoa Kỳ công bố một hướng dẫn mới khuyến cáo những người có độ tuổi từ 50 đến 69 và có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim từ 10% trở lên và không dễ bị chảy máu nên cân nhắc việc uống aspirin liều thấp để ngừa nguy cơ nhồi máu cơ tim và ung thư đại tràng.
Aspirin và bệnh tim mạch
Theo các bác sĩ Hoa Kỳ, liều aspirin được khuyến cáo sử dụng không vượt quá 100 mg một ngày. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết trên thực tế có đến 41% người có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim được bác sĩ khuyên sử dụng aspirin. Trong số những người có độ tuổi từ 65 trở lên được khuyên sử dụng aspirin, có đến 80% người dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Khi bị nhồi máu cơ tim cấp người bệnh nên được cho sử dụng aspirin ngay lập tức và tiếp tục sử dụng thuốc này hàng ngày sau đó để giảm nguy cơ tử vong và những nguy cơ nhồi máu cơ tim hay nghẽn mạch máu não.
- Bác sĩ Charles Hennekens
Bác sĩ Charles Hennekens, thuộc trường đại học Florida Atlantic, Hoa Kỳ, nói về hướng dẫn mới:
“Khi bị nhồi máu cơ tim cấp người bệnh nên được cho sử dụng aspirin ngay lập tức và tiếp tục sử dụng thuốc này hàng ngày sau đó để giảm nguy cơ tử vong và những nguy cơ nhồi máu cơ tim hay nghẽn mạch máu não. Đối với những người đã sống sót sau khi bị nhồi máu cơ tim, bị nghẽn mạch máu não, aspirin nên được sử dụng lâu dài trừ khi có những chỉ định khác.”
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm cả thế giới có khoảng 17 triệu người chết vì nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Nói về nguy cơ gây tử vong của hai căn bệnh này, bác sĩ Hennekens nói:
“Tai biến và nhồi máu cơ tim không chỉ làm tăng nguy cơ tử vong ở phương Tây mà cũng là một trong các nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở châu Á. Các bệnh này đã nhảy từ yếu tố gây tử vong hàng thứ năm lên hàng thứ nhất trên toàn thế giới.”
Tuy nhiên việc sử dụng aspirin để phòng các bệnh tim mạch cũng có những điểm cần được chú ý. Một số những tác dụng phụ do thuốc mang lại, theo các bác sĩ là hoàn toàn có thể được điều trị. Bác sĩ Hennekens cho biết:
“Tác dụng phụ chính và khá phổ biến của aspirin là đau dạ dày. Đây là triệu chứng hoàn toàn có thể được ngăn ngừa và điều trị… Những rủi ro này thường thấp hơn nhiều so với những lợi ích tổng thể mà aspirin mang lại. Bên cạnh đó, nguy cơ bị tai biến não do chảy máu cũng rất thấp.”
Ngoài ra, bác sĩ Hennekens cũng khuyến cáo các bệnh nhân nên cẩn trọng trong việc sử dụng aspirin khi có những vấn đề về sức khỏe và thuốc có thể gây phản ứng chéo.
“Nếu tôi bị tai biến nghẽn mạch máu não, bác sĩ có thể kê cho tôi thuốc Coumadin vốn có rủi ro chảy máu cao và có thể tôi được uống một trong những loại thuốc mới gần đây như Pradaxa hay Xeralto. Khi tôi nghe nói aspirin tốt cho người bị tai biến, tôi quyết định dùng aspirin thì có thể thuốc có ích thêm một chút cho tôi trong việc phòng tránh bệnh nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ chảy máu vì không chỉ aspirin mà cả những thuốc kia cũng làm tăng nguy cơ chảy máu. Cho nên theo tôi bạn không nên uống thuốc không kê đơn lâu hơn vài tuần một lần mà không hỏi ý kiến bác sĩ.”
Aspirin ngăn ngừa ung thư

Điểm đáng chú ý khác trong hướng dẫn mới của các bác sĩ Mỹ là thuốc aspirin có thể ngăn ngừa ung thư đại tràng. Điều này cũng tương tự như kết quả của một nghiên cứu trước đây của các nhà khoa học thuộc trường đại học London được công bố hồi năm 2014. Theo kết quả nghiên cứu, việc uống thuốc aspirin hàng ngày ở những người từ độ tuổi từ 50 đến 65 có thể giúp làm giảm nguy cơ các bệnh ung thư như ung thư ruột già, ung thư dạ dày, và ung thư thực quản. Bác sĩ Jack Cuzick, người đứng đầu nghiên cứu thuộc trường đại học London cho biết:
“Nhìn chung đã có hơn 50 thử nghiệm lâm sàng và hơn 200 các nghiên cứu kết hợp khác về công dụng này của thuốc. Điều chúng tôi làm là đặt tất cả các mặt lợi và nguy cơ của thuốc aspirin vào một người bình thường. Kết quả cho thấy lợi ích chiếm ưu thế hơn rất nhiều so với các nguy cơ. Cái lợi lớn nhất chính là nó làm giảm được 1/3 nguy cơ bị ung thư đại tràng, ung thư dạ dày và ung thư thực quản. Nó cũng giảm nhẹ nguy cơ bị ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt và có rất ít tác dụng đối với các loại ung thư khác.”
Nghiên cứu cho thấy việc uống aspirin mỗi ngày trong 10 năm liên tục sẽ giúp những người có độ tuổi từ 50 đến 65 giảm được nguy cơ ung thư ruột già khoảng 35% và giảm khoảng 40% nguy cơ tử vong vì ung thư ruột già. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết, người uống thuốc aspirin cần phải chờ khoảng ít nhất 5 năm sau khi uống thuốc để có thể thấy được những tác động có lợi của thuốc.
Ngoài ra, bác sĩ Jack Cuzick cho biết việc uống aspirin cũng có tác dụng chống ung thư lâu dài ngay cả khi người dùng đã ngưng thuốc một thời gian.
“Có những bằng chứng cho thấy tác dụng chống ung thư của thuốc có thể tiếp diễn về sau, tức là ngay kể cả khi bạn đã ngừng thuốc thì tác dụng của thuốc vẫn còn kéo dài thêm vài năm sau đó… Dường như đã có những bằng chứng cho thấy là tác dụng này có thể kéo dài thêm ít nhất là 5 năm nữa trong việc giảm nguy cơ bị ung thư và thêm khoảng 10 năm sau đó trong việc ngăn ngừa nguy cơ bị tử vong do ung thư.”
Cái lợi lớn nhất chính là nó làm giảm được 1/3 nguy cơ bị ung thư đại tràng, ung thư dạ dày và ung thư thực quản.
- Bác sĩ Jack Cuzick
Tuy nhiên, bác sĩ Jack Cuzick cho biết việc uống aspirin để tránh ung thư cần phải cân nhắc đến những tác dụng phụ của thuốc. Vì vậy các bác sĩ khuyên việc uống thuốc để tránh ung thư không thôi chỉ nên áp dụng đối với người có độ tuổi từ 50 đến 65.
“Lý do mà chúng tôi khuyên chỉ tập trung vào nhóm người độ tuổi từ 50 đến 65 là vì trong phần lớn các trường hợp, việc chảy máu có thể xảy ra rất nghiêm trọng. Có một số người không nên dùng aspirin để tránh ung thư. Đó là những người có huyết áp cao, những người bị tiểu đường, người đang dùng thuốc chống đông máu khác như Warfarin chẳng hạn. Đây là những trường hợp có nguy cơ bị chảy máu cao và vì vậy việc uống aspirin sẽ không có tác dụng.”
Trong tác dụng phòng ngừa ung thư, bác sĩ Cuzick cho rằng những người có độ tuổi dưới 50 không nên dùng aspirin với mục đích này vì tác dụng phòng ung thư của thuốc ở độ tuổi này nếu so với nguy cơ bị chảy máu là không đáng kể.
Bác sĩ Hennekens thì cho rằng dù thuốc aspirin đã cho thấy những tác dụng đáng kể trong phòng ngừa tai biến và nhồi máu cơ tim cũng như ung thư, những người muốn dùng aspirin cho những tác dụng này cần rất cẩn trọng và phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng. Ông nói:
“Theo tôi điều này phụ thuộc vào rủi ro của từng người. Một người đàn ông 50 tuổi gầy và khỏe mạnh, rủi ro bị bệnh tim mạch thấp thì ông ta không cần uống aspirin. Nhưng một phụ nữ ở độ tuổi khoảng 30 nhưng lại bị huyết áp cao, bị thừa cân và trong gia đình cùng huyết thống của cô ta đã có người từng bị bệnh tim mạch khi còn trẻ thì bác sĩ có thể sẽ cân nhắc cho cô ta dùng aspirin. Cho nên việc kê đơn thuốc không chỉ dựa vào tuổi. Tuổi chỉ là một trong nhiều yếu tố, vì có những người lớn tuổi mà không cần thuốc và người trẻ có khi lại cần.”
Cuối cùng bác sĩ Hennekens nhấn mạnh hướng dẫn mới của các bác sĩ trong việc dùng aspirin đối với mọi người chỉ mang tính chỉ dẫn chứ không phải là bắt buộc khiến mọi người phải làm theo.