Wednesday, December 9, 2015

Chệch Hướng hay Tụt Hậu?-Nguyễn Xuân Nghĩa



Chệch Hướng hay Tụt Hậu?
Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2015-12-09
Các chỉ tiêu nợ công của Việt Nam theo tính toán của The Economist.
Description: http://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-zoom.pngCourtesy economist.com


Chúng ta đang vào mấy tuần cuối của 2015, một năm có nhiều ý nghĩa lịch sử cho Việt Nam. Nhưng qua năm tới, tình hình còn nhiều ý nghĩa hơn cho tương lai vì đảng Cộng sản có Đại hội khi xứ sở chuẩn bị hội nhập vào một khu vực kinh tế rộng lớn qua Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái bình dương TPP. Nguyên Lam sẽ tìm hiểu viễn ảnh đó qua sự lượng định của chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa cho tiết mục Diễn đàn Kinh tế.
Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Cuối năm, chúng ta thường làm một tổng kết về kinh tế toàn cầu, tình hình Đông Á rồi tới Việt Nam. Kỳ này, Nguyên Lam đề nghị là chúng ta khởi sự với Việt Nam vì qua năm 2016, đảng Cộng sản lại có một Đại hội năm năm tổ chức một lần, để định hướng phát triển và đề cử nhân sự lãnh đạo cho năm năm tới. Vì vậy, xin ông làm một tổng kết về tình hình Việt Nam và nêu nhận xét về những chọn lưa trước mặt.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi bắt đầu từ viễn ảnh dài và nói đến tình trạng tụt hậu của Việt Nam.
- Nói đến sự tụt hậu của Việt Nam thì nhiều người có thể ngạc nhiên hoặc bất bình chỉ vì cách nhìn sai lạc. Trong hơn một thế kỷ, lần đầu tiên mà Việt Nam không bị chiến tranh trong mấy chục năm liền, lãnh thổ được thống nhất với hệ thống lãnh đạo có toàn quyền quyết định. Một quốc gia khác mà có hoàn cảnh ấy thì đã có thể phát triển mạnh và nâng cao mức sống của toàn dân về cả phẩm lẫn lượng. Nhìn hạn hẹp theo thời gian thì ai cũng tưởng Việt Nam có cải tiến sau khi đổi mới từ ba chục năm trước. Nhưng nhìn rộng ra không gian thì sự cải tiến ấy còn thua các lân bang rất xa. Ngày nay, trong 10 nước của Hiệp hội ASEAN tại Đông Nam Á, về lợi tức một đầu người, tức là tiêu chuẩn cụ thể về năng suất, Việt Nam chỉ hơn Miến, Miên, Lào, còn thì thua cả sáu nước kia. Nếu so với hai nước Đông Bắc Á là Nam Hàn và Đài Loan thì còn thua cả kinh tế lẫn chính trị. Xưa kia, hai xứ này chẳng hơn gì một nửa miền Nam của Việt Nam, mà nay đã thành loại quốc gia thượng đẳng, kinh tế giàu mạnh và chính trị dân chủ. Tụt hậu là như vậy. Không ý thức được sự thua kém mà cho là mình hay thì sẽ tiếp tục ở trong cõi lạc hậu, để dân mình làm đầy tớ cho thiên hạ.
Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, nhiều tổ chức quốc tế đã công nhận rằng Việt Nam là một trong mươi quốc gia ổn định nhất thế giới. Ông nghĩ sao về cách đánh giá ấy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quốc tế ưa có thói xuất khẩu đường, là nói lời ngon ngọt mà ém nhẹm vấn đề của quốc gia! Hãy đọc tin hàng ngày về tình trạng băng hoại xã hội Việt Nam, với tội ác tràn lan trong giới trẻ và chẳng còn ai biết thế nào là đúng thế nào là sai thì ta có định nghĩa khác về ổn định. Thuần về kinh tế, quốc tế cũng đánh giá sai các bài toán kinh tế của Việt Nam, cụ thể là tình trạng nợ nần quá nguy ngập của hệ thống ngân hàng thương mại hay tham ô quá tệ hại của bộ máy công quyền. Từng là chuyên gia tư vấn của các tổ chức quốc tế, tôi hiểu lối làm việc của họ. Nói chẳng nghe thì họ cũng mặc, ra vài khuyến cáo đầy tính ngoại giao rồi ra về. Sau cùng, chuyện thiếu ổn định nhất nó nằm trong cái đầu của hệ thống lãnh đạo!
Nguyên Lam: Thính giả của chúng ta đã quen với cách phân tích độc đáo và phát biểu táo bạo của ông, nhưng Nguyên Lam vẫn xin hỏi lại rằng vì sao ông cho là cái đầu của giới lãnh đạo tại Việt Nam là thiếu ổn định?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Dù có ra nghị quyết du dương, họ đều biết Việt Nam đang rơi vào cái bẫy xập của các quốc gia có lợi tức trung bình thấp, y như lãnh đạo Trung Quốc đang sợ rơi vào cái bẫy xập của quốc gia có lợi tức trung bình cao. Rơi vào đó là rất khó lên để còn bước vào thành phần quốc gia thượng đẳng giàu có. Cụ thể thì lợi tức bình quân một đầu người của Việt Nam vẫn dưới hai ngàn Mỹ kim một năm. Muốn lên gấp hai thì trong 10 năm tới phải tăng trưởng thật là 7% một năm, điều không dễ, mà chỉ để lên tới bốn ngàn một năm, tức là còn thua Thái Lan hay Malaysia, Philippines. Bao giờ thì tới một vạn hay ba vạn như bậc thầy bậc chủ của mình là Nam Hàn hay Đài Loan? Muốn có một bước nhảy vọt như các nước đó đã từng có từ nửa thế kỷ trước thì lãnh đạo phải từ bỏ cái mộng mị “định hướng xã hội chủ nghĩa”, mà từ bỏ thì lại sợ bị chệch hướng Mác Lenin. Cho nên giữa hai ngả là tụt hậu hay chệch hướng, tôi e là họ sẽ chọn ngả tụt hậu. Cái đầu nó thiểu ổn định là như vậy!
Nguyên Lam: Ông vừa đề cập tới một chuyện đang gây tranh luận ở trong nước, về nội dung của chủ trương “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”? Ông nghĩ sao về chuyện đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hơn hai chục năm trước, cấp lãnh đạo cao nhất của đảng đã nêu câu hỏi mà chẳng ai có giải đáp. Thế rồi 25 năm qua, thành phần lý luận thì cố vẽ ra hình tròn bốn góc và gọi đó là “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thành phần phải điều hành kinh tế và tiếp xúc với bên ngoài thì cố chứng minh rằng Việt Nam đã áp dụng quy luật kinh tế thị trường, làm bên ngoài tưởng lầm rằng họ có tinh thần thực tiễn. Thật ra hệ thống kinh tế chính trị Việt Nam có một đặc tính quái dị, hơi phi cầm phi thú. Đó là lãnh đạo thật là loại đảng viên chưa hề sống trong kinh tế thị trường nhưng có quyền hạn hơn đảng viên tiếp cận với thị trường.
Nợ công của Việt Nam trong vòng 10 năm qua, theo số liệu của The Economist
- Ta hãy nghĩ đến một doanh nghiệp mà mấy vị ngồi trong Hội đồng Quản trị có thể sai khiến cấp điều hành lại là những kẻ không biết kinh doanh mà chỉ biết đọc sách Thánh hiền Mác Lê. Vì vậy, thành phần biết về kinh doanh mà chẳng có đặc quyền thì đi tìm đặc lợi, là tham nhũng. Mọi người đều hài lòng với lối phân công lao động kỳ lạ ấy. Ở trên thì vẫn tin rằng Marx có lý và Việt Nam chỉ tạt qua kinh tế thị trường rồi sẽ tiến lên xã hội chủ nghĩa dù chính họ cũng chưa thể định nghĩa thế nào là xã hội chủ nghĩa. Ở dưới thì biết rằng đảng và Marx đều sai nhưng dại gì mà nói ra điều ấy để mất quyền lãnh đạo kinh tế và mất cơ hội trục lợi?
Nguyên Lam: Nguyên Lam rất tò mò mà hỏi rằng nếu ông được yêu cầu giải thích định hướng xã hội chủ nghĩa là gì thì ông trả lời sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thuần về lý luận kinh tế và đang sống trong một xứ dân chủ, tôi thiên về xu hướng tự do và cho ưu tiên là phát triển. Nhưng tôi thông cảm với xu hướng xã hội và cho rằng một nước nghèo mà có quá nhiều bất công xã hội thì nên theo xu hướng xã hội. Xu hướng ấy chú trọng tới công bằng xã hội hơn là phát triển, là điều mình có thể hiểu được.
- Khi đó, ta có thể nghĩ “định hướng xã hội chủ nghĩa” hàm ý phát triển xã hội, với đối tượng ưu tiên là thành phần nghèo đói đang chiếm đa số. Cụ thể về kinh tế thì chú trọng tới khía cạnh giáo dục, y tế, huấn nghệ để đa số có được nền tảng sinh hoạt tối thiểu hầu có thể tham gia vào sản xuất với hiệu năng cao hơn. Muốn vậy thì trước hết vẫn phải để thị trường tư doanh được sinh hoạt tự do hầu còn tạo ra của cải và phương tiện cho những yêu cầu xã hội kể trên. Tức là vẫn phải chấp nhận và xây dựng định chế căn bản của thịnh vượng là quyền tư hữu.
- Ngược lại, định hướng xã hội chủ nghĩa không thể là triệt phá tư doanh, bảo vệ quốc doanh và duy trì nạn độc đảng như Việt Nam ngày nay. Và định hướng xã hội chủ nghĩa càng không là lý luận của những người đang chuẩn bị Đại hội đảng theo hướng tăng cường chế độ công hữu để khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Áp dụng lý luận của thế kỷ 19 vào thế kỷ 21 là một biểu hiệu của sự lạc hậu về tư duy. Người lạc hậu về tư duy mà lãnh đạo thì xứ sở tất nhiên tụt hậu!
Nguyên Lam: Thưa ông Nghĩa, khi ông nói đến một điều kiện của cái định hướng xã hội chủ nghĩa là chấm dứt tình trạng độc đảng như Việt Nam ngày nay thì điều kiện ấy có hàm nghĩa là phải xây dựng chế độ dân chủ không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi không đơn giản cho rằng dân chủ là giải pháp thần diệu khả dĩ giải quyết mọi vấn đề. Đấy chỉ là phương tiện ít tệ nhất để tiến tới một hình thái phát triển cao hơn vì cho người dân quyền chọn lựa. Tôi hiểu dân chủ là sự bình đẳng của mọi người dân trước pháp luật do đại diện của người dân thiết lập ra. Với chế độ độc đảng có toàn quyền về luật lệ, khi mọi chuyện đều do một thiểu số quyết định trong khung cảnh toàn cầu có quá nhiều thay đổi hiện nay, thì xã hội chẳng còn ai có thể sửa sai và chọn hướng khác cho quốc gia.
- Về cụ thể, ta cứ nói đến hai tấm gương là Nam Hàn và Đài Loan mà ít chú ý tới hai đặc điểm của họ. Thứ nhất là họ từng có chế độ độc tài mà khi ấy vẫn thực tế theo xã hội chủ nghĩa nên tập trung phát triển mạnh với mức công bằng xã hội cao nhờ bộ máy công quyền liêm khiết. Thứ hai là trên nền tảng xã hội đó, họ tự chuyển hóa ra chế độ dân chủ, dù đảng cầm quyền thất cử thì vẫn có lúc trở lại. Họ không sợ đa nguyên và bất ổn chính trị. Các nước Đông Nam Á chưa được như vậy, nhưng vẫn tiến tới dân chủ và nhờ vậy mà càng dễ thoát khỏi các chu kỳ khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài dội vào.
Nguyên Lam: Nhìn ra quốc tế và với viễn ảnh là năm tới Việt Nam sẽ là thành viên của khối TPP có 12 nước, thì ông có nghĩ rằng lượng đầu tư trực tiếp của các nước bên ngoài sẽ góp phần giải quyết được các khó khăn kinh tế cho Việt Nam không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi sẽ lại nói ngược mà bảo rằng không! Quả thật kinh tế Việt Nam có hy vọng thoát Tầu nhờ TPP, với điều kiện là người Việt Nam sẽ hưởng được kết quả ấy chứ không phải là doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Trong hiện tại thì Việt Nam sẽ có lợi nhất khi gia nhập khối TPP. Nhưng trong mối lợi dán nhãn Việt Nam ấy thì doanh nghiệp quốc tế chiếm phần chính, tư doanh Việt Nam thì còm cõi dần và chỉ được xương xẩu. Còn người Việt chỉ mong làm tôi tớ cho doanh nghiệp ngoại quốc và đâm ra xuất cảng sức lao động của mình trong hàm lượng hàng hóa bán cho 11 nước kia. Vì vậy, vấn đề không thể là dán nhãn và hài lòng với hình thức. Vấn đề là phải xây dựng thực lực để tỷ trọng Việt Nam chiếm phần hơn trong các sản phẩm gọi là “Made in Viêtnam”, Chế tạo tại Việt Nam. Qua năm tới, Việt Nam sẽ đối đầu với bài toán thực tế ấy.
Nguyên Lam: Tổng kết lại thì có phải như ông không thấy lạc quan vể viễn ảnh 2016?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi không lạc quan khi thấy lãnh đạo Hà Nội quá lạc quan.
- Họ lạc quan vì đã củng cố chỗ tựa cho đảng là Bắc Kinh, với cái giá đắt đỏ là những mất mát lớn cho xứ sở không chỉ ở lãnh hải mà ngay trong lãnh thổ. Họ càng lạc quan hơn khi có thêm một chỗ tựa mới là Hoa Kỳ và tin rằng Mỹ cần ổn định để làm ăn và nói chuyện ôn tồn với Trung Quốc nên không gây thêm sức ép về dân chủ nhân quyền hay tự do. Đảng chỉ cần làm bộ tổ chức ra công đoàn độc lập là xong. Và họ lạc quan hơn cả khi nêu bài toán giả cho người dân, rằng nếu quá gay gắt về chủ quyền thì bị nguy cơ chiến tranh với Trung Quốc, hoặc quá thiết tha với dân chủ thì quốc gia mất ổn định. Không chỉ các đảng viên đang ôm đặc quyền và đặc lợi mà nhiều người trong giới trẻ, đã có một chút kiến thức chuyên môn, cũng tin như vậy - và đấy mới là điều đáng sợ nhất về viễn ảnh tụt hậu!
Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bức tranh u ám của tình trạng tụt hậu.

Tuesday, December 8, 2015

Tại sao ăn thịt đỏ và thịt chế biến sẵn có thể làm tăng nguy cơ ung thư?



Tại sao ăn thịt đỏ và thịt chế biến sẵn có thể làm tăng nguy cơ ung thư?
Việt Hà, phóng viên RFA
2015-12-07

Một số các nghiên cứu gần đây trên thế giới cho thấy có mối liên quan giữa việc ăn thịt đỏ, thịt chế biến sẵn với nguy cơ bệnh ung thư. Mặc dù vẫn còn có nhiều tranh cãi xung quanh những kết luận này nhưng những thông tin về các nghiên cứu  cũng khiến không ít người thích ăn thịt phải lo ngại. Câu hỏi đặt ra là liệu có nên bỏ thịt đỏ, thịt chế biến sẵn khỏi khẩu phần ăn hay không? Hay chỉ giảm lượng thịt tiêu thụ? Việc chế biến thịt có ảnh hưởng thế nào đến nguy cơ bị bệnh ung thư ở người?
Kết luận của WHO
Hồi cuối tháng 10 vừa qua, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức xếp thịt đỏ và thịt chế biến sẵn vào danh sách những thực phẩm có thể gây bệnh ung thư. Kết luận này được đưa ra dựa vào nhiều nghiên cứu thời gian qua trên thế giới về mối liên quan giữa thịt đỏ và thịt chế biến sẵn với bệnh ung thư. Dựa vào các kết quả nghiên cứu này, nhóm làm việc gồm 22 chuyên gia đến 10 từ nước đã đưa ra kết luận về mối liên quan giữa bệnh ung thư và thịt đỏ, thịt chế biến sẵn. Các bệnh ung thư phổ biến là ung thư ruột già, tụy và tuyến tiền liệt.
Theo báo cáo mới của WHO, thịt đỏ được xếp vào nhóm các chất gây ung thư mức hai, ít nghiêm trọng hơn so với thịt chế biến sẵn được xếp vào mức 1. Các chuyên gia của WHO kết luận rằng cứ mỗi 50 g khẩu phần thịt chế biến sẵn được ăn hàng ngày sẽ làm tăng nguy cơ bị ung thư ruột già lên 18%. Nguy cơ này tăng lên 17% với mỗi 100 gram thịt đỏ được một người ăn mỗi ngày.
Bác sĩ Kurt Straif thuộc Cơ quan nghiên cứu ung thư Quốc tế (IARC) thuộc WHO cho biết với mỗi cá nhân, nguy cơ bị bệnh ung thư ruột già do ăn thịt chế biến sẵn là không cao, nhưng nguy cơ này sẽ tăng lên khi lượng thịt ăn vào tăng thêm. Do đó, theo ông, ảnh hưởng của ung thư trở thành quan trọng cho sức khỏe cộng đồng.
WHO trích dẫn ước tính của Dự án về gánh nặng bệnh tật toàn cầu gần đây cho thấy chế độ ăn có nhiều thịt đỏ có thể là nguyên nhân của 50,000 ca tử vong vì ung thư mỗi năm, con số này là 34,000 ca đối với thịt chế biến sẵn.
Nói về ảnh hưởng của thịt chế biến sẵn đối với các bệnh ung thư đường tiêu hóa, bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam cho biết.
Những cái xúc xích, hamburger thì người ta giải thích là người ta phải dùng muối nhiều vì phải muối, giống như mình khô mắm vì để dành được lâu. Nếu ăn chế độ mặn như thế thì lâu không tốt. Đối với ung thư thì dễ gây ung thư bao tử, ung thư ruột, cái cơ chế nó khác chứ không phải là chất gây ung thư. Chế độ ăn mà muối mặn quá, nitrad nó vào người nó thành chất nitroxamin thì là một chất gây ung thư. Nó không mang chất đó nhưng nó phối hợp trong người.
Những kết luận mới đây về thịt đỏ và thịt chế biến sẵn và mối nguy của bệnh ung thư do WHO đưa ra được căn cứ vào hơn 800 nghiên cứu tìm hiểu về mối liên quan giữa khoảng 10 bệnh ung thư với việc ăn thịt đỏ và thịt chế biến sẵn ở nhiều nước trên thế giới, với các chế độ ăn đa dạng. Các bằng chứng được cho là có ảnh hưởng nhiều nhất đến từ các nghiên cứu kết hợp được thực hiện trong suốt 20 năm qua.
Theo WHO, thịt đỏ bao gồm thịt bò, lợn, cừu, ngựa và thịt dê. Thị chế biến sẵn là những loại thịt đã được biến đổi qua quá trình muối, chế biến, lên men, hun khói để tạo thêm hương vị. Các loại thịt chế biến sẵn phổ biến bao gồm xúc xích, ham, thịt đóng hộp.
Văn bản của WHO giải thích việc xếp thịt đỏ vào nhóm gây ung thư mức hai dựa vào những bằng chứng còn  hạn chế. Điều này có nghĩa là vẫn còn cần thêm những nghiên cứu bổ xung khác để xác định cụ thể mối liên quan giữa ung thư và việc ăn thịt đỏ.
Trong khi đó việc xếp thịt chế biến sẵn vào các nhóm gây ung thư ở mức một được WHO xác định là dựa trên những bằng chứng đầy đủ. Thịt chế biến sẵn dù được xếp vào nhóm 1 cùng với thuốc lá nhưng theo WHO thì thịt chế biến sẵn không thể được coi là nguy hiểm tương đương như thuốc lá. Việc xếp hạng này chỉ chứng tỏ sự chắc chắn trong những bằng chứng mà các nhà khoa học có được về mối liên quan giữa việc ăn thịt chế biến sẵn và ung thư.
Cách chế biến thịt và bệnh ung thư
Việc chế biến thịt cũng có ảnh hưởng nhất định với bệnh ung thư. Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc Trung tâm Ung thư Anderson, thuộc trường đại học Texas cho thấy, thịt rán ở nhiệt độ cao hoặc thịt nướng trực tiếp trên lửa cũng tạo ra những chất có thể gây ung thư thận.
Các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu dựa vào chế độ ăn của hơn 600 bệnh nhân của trung tâm Anderson, những người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư thận và chế độ ăn của gần 700 người khỏe mạnh trong cộng đồng. Kết quả cho thấy nguy cơ bị bệnh ung thư thận ở người tăng cao khi ăn những loại thịt được chế biến có tạo ra các chất gây đột biến.
Giải thích về mối liên quan có thể giữa bệnh ung thư thận và thịt được chế biến ở nhiệt độ cao, tiến sĩ Stephanie Melkonian, người đứng đầu nghiên cứu cho biết:
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy cách mà chúng ta chế biến thịt cũng làm sản sinh ra những chất gây ung thư…. Đây là những chất sinh ra khi thịt được chế biến ở nhiệt độ cao, trực tiếp trên lửa và có vết bén cháy. Khi chúng ta nghĩ về thận thì chúng ta biết là thận có nhiệm vụ lọc những độc tố khỏi cơ thể. Khi chúng ta cứ ăn những chất gây ung thư như vậy thì thận sẽ phải tiếp xúc thường xuyên với các chất gây ung thư. Vì vậy việc cơ thể bị tiếp xúc thường xuyên với các chất gây ung thư làm tăng nguy cơ ung thư thận.
Cụ thể, kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng những bệnh nhân bị ung thư thận ăn nhiều thịt đỏ và thịt trắng hơn so với những người khỏe mạnh khác. Bác sĩ Xifeng Wu, người tham gia nghiên cứu cho biết kết quả của nghiên cứu cho thấy cách thức chế biến thịt cũng là một nhân tố quan trọng liên quan đến việc gia tăng nguy cơ bị ung thư thận dù đó là thịt đỏ hay thịt trắng.
Tuy nhiên nghiên cứu không chỉ ra cụ thể thường những người bị bệnh ung thư thận ăn số lượng thịt chế biến ở nhiệt độ cao là bao nhiêu. Tiến sĩ Melkonian giải thích:
Nghiên cứu này chỉ nhìn vào chế độ ăn có thịt chung mà không đi vào con số cụ thể. Nhưng thông điệp từ kết quả của nghiên cứu này cũng giống như những khuyến cáo từ hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ là hạn chế ăn thịt đỏ, thịt qua xử lý công nghiệp, thịt nướng, rán cháy. Thay vào đó mọi người nên tập trung nhiều hơn vào đồ ăn có nhiều rau quả, duy trì trọng lượng cơ thể khỏe mạnh để ngăn ngừa bệnh ung thư.
Hướng dẫn mới của Hiêp hội ung thư Hoa Kỳ về chế độ ăn và hoạt động thể chất để ngăn ngừa bệnh ung thư khuyến cao người lớn nên hạn chế ăn thịt đỏ, thịt chế biến sẵn, ăn ít nhất 2 cup rưỡi các loại rau quả tươi mỗi ngày (tương đương 591 gram). Ngoài ra việc năng tập thể dục cũng làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư.
Khuyến cáo mới của WHO cũng không đưa ra con số cụ thể về lượng thịt đỏ, thịt chế biến sẵn mà một người nên ăn mỗi ngày là bao nhiêu. WHO cũng không khuyến cáo mọi người nên tránh ăn những loại thịt này hoàn toàn. Bác sĩ Christopher Wild, Giám đốc IARC, nói rằng mặc dù những kết luận mới của WHO củng cố những khuyến cáo từ lâu nay về việc hạn chế ăn thịt, nhưng thịt đỏ vẫn có những giá trị về dinh dưỡng nhất định. Vì vậy, theo ông, những kết quả của nghiên cứu mới có tầm quan trọng đối với các chính phủ và các tổ chức quốc tế trong việc đánh giá những nguy cơ nhằm cân bằng giữa những mối nguy và những lợi ích của thịt đỏ và thịt chế biến sẵn để đưa ra những khuyến cáo về chế độ ăn hợp lý cho mọi người.

Bất Chiến Tự Nhiên Thành Liệt




Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 151207
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"


Chống khủng bố bằng võ khí nào?

* Thuật quỷ biển: kết nạp đặc công khủng bố trên không gian ảo * 


Hoa Kỳ lại vừa bị quân khủng bố tấn công, lần này là một mục tiêu mềm rất khó bảo vệ là một trung tâm sinh hoạt dân sự hẻo lánh trong thành phố San Bernardino tại miền Nam California vào buổi trưa Thứ Tư mùng hai. Sau vụ 9-11, đây là nạn thảm sát nghiêm trọng nhất, làm 14 người tử vong và 21 người bị thương.

Điều bất ngờ là phản ứng rất nhanh của cảnh sát địa phương. Bốn phút sau, họ đã có mặt tại hiện trường và tìm ra nơi trú ngụ của hai nghi can để kết thúc vụ tàn sát trong một cuộc đấu súng. Đây là sự may mắn cho cư dân địa phương, nếu không, các hung thủ - hết là nghi can – đã có thể gây nhiều tổn thất sinh mạng hơn nữa.

Sau mấy ngày điều tra, nhà chức trách mới dần dần hiểu rõ hơn nội vụ.

Hai hung thủ là cặp vợ chồng chưa từng được tổ chức khủng bố xưng danh Nhà nước Hồi giáo ISIS liên lạc, kết nạp và huấn luyện để tiến hành vụ khủng bố theo một kế hoạch trù tính từ xa. Họ ủng hộ mục tiêu của ISIS, tự chuẩn bị lấy việc trang bị võ khí tàn sát, kể cả bom thủ công nghệ, tập bắn để gieo rắc cái chết ngay trong lòng xã hội Hoa Kỳ.

Đấy là một hướng mới của phong trào khủng bố xưng danh Thánh Chiến Hồi giáo: khủng bố tự phát. 

Khi biến cố vừa bùng nổ và chưa ai biết động lực của vụ tàn sát, Tổng thống Barack Obama có phản ứng của một chính trị gia, không của nhà lãnh đạo một quốc gia đang gặp thảm kịch. Ông xoay vấn đề thành chuyện bạo động, quá nhiều, vì luật lệ kiểm soát súng quá lỏng lẻo. 

Bốn ngày sau, ông mới điều chỉnh tác xạ qua một bài diễn văn long trọng trình bày từ Phòng Bầu Dục, vào tối Chủ Nhật mùng sáu. Ông xác nhận rằng vụ San Bernardino là nạn khủng bố, nhấn mạnh đến chiều hướng mới của tổ chức khủng bố ông gọi là ISIL, nhưng không đưa ra một chiến lược rõ rệt hơn về cách đối phó. 

Người ta có thể - và nhiều người đã – bình luận về bài diễn văn này. Nhìn từ bên ngoài, người viết xin nói về chuyện khác. Về bệnh quên trí nhớ - rồi quên trách nhiệm.

Về chuyện quên trí nhớ đã. Từ khi Hoa Kỳ còn là một thuộc địa của Đế quốc Anh, người da đen vẫn nằm trong chế độ nô lệ và tất nhiên không có quyền hạn gì, kể cả quyền có súng. Nước Mỹ phải trải qua một cuộc nội chiến mới chấm dứt được chế độ nô lệ. Một trăm năm sau đó, người da đen mới được giải phóng, từ giữa thập niên 1960.

Nỗ lực chấm dứt chế độ nô lệ xuất phát từ đảng Cộng Hòa, với vai trò quyết định của Tổng thống Abraham Lincoln. Sau cuộc Nội chiến (1861-1865), đảng Dân Chủ mới là lực lượng cưỡng chống trào lưu tiến hóa. Nhiều người trong số phản động này còn lập ra tổ chức Ku Klux Klan (ba đợt: 1865-1871, 1915-1944 và từ 1946 đến… ngày nay) trong mục tiêu ban đầu là tàn sát người da đen như súc vật. Khi ấy, bên đảng Cộng Hòa mới có nỗ lực vận động cho dân da đen được có quyền mang súng để tự vệ. 

Từ khi lập quốc, các thế hệ tiên phong đã khai phá và lập ra Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ đều có khuynh hướng sùng chuộng quyền mang súng. Theo đà tiến hóa của xã hội, tổ chức bảo vệ quyền mang súng còn cải tiến kỹ thuật nhằm huấn luyện thành viên cách sử dụng súng cho an toàn. Năm 1871, Hiệp hội National Rifle Association (NRA) ra đời với tinh thần đó. Một trong các Chủ tịch của NRA cũng chính là Tổng thống Ulysses S. Grant, cận tướng của Tổng thống Lincoln trong Nội chiến, và là người tranh đấu cho quyền lợi của dân da đen. Ông cũng xây dựng hệ thống luật lệ để ngăn chặn KKK và cho quân đội truy lùng các tay súng của lực lượng KKK.

Sau đấy, thời cuộc đổi thay mà ngày nay nhiều người đã quên mất.

Cũng như đã quên là khi tư thất bị đặt bom vào năm 1956, Mục sư Martin Luther King nộp đơn xin được quyền có súng mà bị Chính quyền tiểu bang Alabama từ chối. Tinh thần “nội chiến” vì vậy vẫn kéo dài, âm ỉ và đôi khi bùng phát trong thiểu số cực đoan ở cả hai phía. Việc một người da đen lên làm Tổng thống vẫn không đẩy lui được phản ứng kỳ thị ấy, mà còn gây hậu quả trái ngược. Đấy mới là bối cảnh của cuộc tranh luận về súng trong xã hội Hoa Kỳ. 

Nhưng xã hội Hoa Kỳ cũng đã đổi khác từ vụ khủng bố 9-11…. Chúng ta “fast forward” đến chuyện khủng bố ngày nay và về trách nhiệm của những ai.

Trong bài diễn văn về vụ khủng bố tại San Bernardino, Tổng thống Obama có nêu vấn đề, rằng nếu quốc dân muốn có đạo luật minh bạch về quyền sử dụng quân đội cho cuộc chiến chống khủng bố ISIL, Quốc hội nên biểu quyết đạo luật này. Lại một phản ứng của chính trị gia, không phải là lãnh đạo một quốc gia lâm nạn.

Chỉ một ngày trước khi súng nổ tại San Bernadino, Tổng trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ là Ash Carter và Đại tướng Joseph Dunford, Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân, đã có cuộc điều trần trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện. Nói về nhu cầu ngăn chặn tổ chức ISIL tại Iraq, hai nhân vật cao cấp nhất của bộ máy quân sự Hoa Kỷ đều cho là trong hoàn cảnh hiện tại, Chính quyền không cần thêm một đạo luật Authorization for Use of Military Force (AUMF). 

Trong một nền dân chủ, cơ sở luật pháp của việc dụng binh phải được minh định rõ ràng. Nên người ta có thể tranh luận về định nghĩa và mục tiêu của “dụng binh”, đấy là phạm vi và tài nghệ của các chính khách, thường rất giỏi về luật. Về chính trị thì từ quan điểm của người cầm đầu bộ máy chiến tranh, hai ông Ash và Dunford có trả lời các dân biểu trong buổi điều trần, rằng dù khỏi cần thêm luật lệ, nếu Quốc hội biểu quyết thêm một đạo luật AUMF khác thì sẽ khích lệ tinh thần binh lính. Vì họ biết là có quốc dân hậu thuẫn nỗ lực hy sinh của mình. 

Chúng ta giải thích thế nào về mâu thuẫn bi thảm này? 

Đó là nỗi cô đơn và sự hoang mang của người lính chiến khi khó biết về chính nghĩa của cuộc chiến, nếu lâm trận còn phải thận trọng để tuân thủ “thể thức giao tranh”, rules of engagement, hầu khỏi vi phạm quân lệnh, trước một kẻ thù đang mở ra một cuộc đấu tranh toàn diện!

Hoa Kỳ lâm vào một cuộc chiến chống khủng bố từ gần 15 năm qua, nay phong trào khủng bố đã chuyển hóa. Rồi lan rộng với hiện tượng khủng bố tự phát ngay trong lòng xã hội Mỹ. 

Hung thủ Syed Farook là người sinh tại Hoa Kỳ, không thuộc loại lầm than bất mãn mà còn đầy triển vọng chinh phục “giấc mơ Hoa Kỳ”. Nhưng chỉ vì sự lung lạc của người vợ mà trở thành tòng phạm của một vụ tàn sát thường dân và đồng nghiệp. Vấn đề hết là chiến lược, pháp chế hay chính trị, mà là văn hóa: chẳng lẽ sự cảm hóa và hội nhập của xã hội Hoa Kỳ, với quyền tự do và trình độ kỹ thuật rất cao, lại thất bại trước lời kêu gọi của tội ác? 

Nói đến lời kêu gọi của tội ác, tổ chức ISIS hay lực lương Al-Qaeda và các nhóm phái sinh đang sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại của Tây phương, trước nhất là của Hoa Kỳ, để tuyên truyền cho mục tiêu của họ. Vì vậy, dù chẳng cần được ISIS hay Al-Qaeda tiếp xúc, kết nạp, huấn luyện và trang bị, nhiều người vẫn có thể trở thành đặc công và gieo rắc cái chết trong một xã hội tự do thịnh vượng nhất. Từ nạn thảm sát tại Paris ngày 13 Tháng 11 đến vụ San Bernardino vào tuần qua, người ta thấy ra một khía cạnh đáng sợ hơn của khủng bố. 

Nó không xảy ra trong vòng ba tuần mà đã phải có trước đó từ lâu. Nhưng chúng ta không thấy.

Bây giờ đã thấy, người ta nên làm gì? 

Các chính trị gia thì xoay vào vòng tranh luận về trách nhiệm của Chính quyền, về luật mang súng, về hệ thống kiểm soát an ninh hay về chiến lược, v.v…. Nhưng người dân, hay xã hội công dân, không thể thụ động chờ đợi kết quả từ trên ban xuống. 

Xã hội công dân, dân sự hay thường dân mới là nạn nhân của khủng bố khi chúng tấn công vào các mục tiêu “mềm”, định nghĩa là dân sự. Chính là họ, tức là chúng ta, phải suy ngẫm thêm về trách nhiệm tự vệ của mình, ngay từ động thái thường nhật là lướt sóng trên không gian ảo và tham gia các mảng truyền thông xã hội, nơi bọn khủng bố đang tung hoành. Nền dân chủ đòi hỏi điều ấy. 

Nếu không, bất chiến sẽ tự nhiên thành liệt. Và đấy mới là mục tiêu của khủng bố….