Friday, May 1, 2020

Biệt-Đội Thiên-Nga, Nữ Chiến Sĩ Tình Báo


Biệt-Đội Thiên-Nga, Nữ Chiến Sĩ Tình Báo

Tôi được dịp gặp  Cựu Thiếu Tá Cảnh Sát Đặc Biệt  Nguyễn Thanh Thủy, Nguyên Biệt Đội Trưởng, Biệt Đội Thiên Nga TrungƯơng, một cơ quan tình báo phụ nữ thuộc  Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, trong ngày  Đại Hội Nữ Quân Nhân kỳ IV ở California. Qua cuộc tiếp xúc với Cựu Thiếu Tá Thủy, tôi cảm thấy vô cùng cảm kích và  thật hãnh diện về tinh thần phục vụ của những người phụ nữ VN trong Biệt Đội Thiên Nga. Các chị  đã can đảm chấp nhận  sự nguy hiểm, sẵn sàng hy sinh  tính mạng của mình trong cuộc chiến ngăn chặn CS xâm nhập và xâm lăng Miền Nam.
Cựu Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy cho biết, trong năm 1968,  sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân và cuộc tấn công vào Tháng Năm, 1968, Chính Phủ VNCH thấy cần tăng cường các lực lượng Cảnh Sát trong việc bảo vệ an ninh đất nuớc để ngăn chận VC xâm nhập Miền Nam bằng đường bộ cũng như đường thủy. Từ đó vai trò của Cảnh Sát  quan trọng hơn, đặc biệt là cần có sự bổ sung một số phụ nữ để thành lập một tổ chức toàn những Nữ Cảnh Sát, hoạt động trong các công tác tình báo, hoạt động riêng rẻ hoặc  phối hợp với  Nam Cảnh Sát.
Do đó Tháng  8, 1968, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát QG quyết định thành lập một tổ chức toàn là phụ nữ có tên là Biệt Đội Thiên Nga, trực thuộc Khối Đặc Biệt, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát QG VNCH. Tổ chức này hoạt động độc lập. Nhiệm vụ của Biệt Đội Thiên Nga là sưu tầm tin tức các tổ chức VC xâm nhập và phá vở các tổ chức hạ tầng cơ sở của VC tại Thủ Đô Saigon cũng như tại địa phương ở các tỉnh trên toàn lãnh thổ Miền Nam VN.
Về tổ chức thì Biệt Đội Thiên Nga Trung Ương có văn phòng tại Khối Đặc Biệt, Bộ Tư Lệnh CSQG VNCH. Biệt Đội Thiên Nga Thủ Đô gồm mười một quận của Đô Thành, có văn  phòng tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thủ Đô và BCH Cảnh Sát Quốc Gia ở các Quận trong Đô Thành. Ngoài ra còn có Biệt Đội Thiên Nga Vùng I, Vùng II, Vùng III, Vùng IV và tại các tỉnh trong toàn quốc. Từ Quảng Trị đến Cà Mau đều có Biệt Đội Thiên Nga.
Biệt Đội Trung Ương có bốn ban như  Ban Hành Chánh, Ban Tổ Chức, Ban Huấn Luyện, Ban Hoạt Vụ. Nhiệm vụ của Biệt Đội Thiên Nga Trung Ương là tuyển mộ và huấn luyện, tìm đầu mối phát triển công tác, đôn đốc và hướng dẫn cán bộ, thành lập  đội Thiên Nga địa phương của mười một quận trong Đô Thành và tại các tỉnh.
Các đội Thiên Nga địa phưong tuyển mộ nhân viên gởi về Saigon, Biệt Đội  Thiên Nga Trung Ương gởi những chị em mới được tuyển mộ đi thụ huấn các khóa tình báo tại Trường Tình Báo Trung Ương ở đường Cộng Hòa, Saigon. 
Về trình độ văn hóa, các chị em Thiên Nga ít nhất phải có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp hay cao hơn. Ngoại trừ quả phụ của Cảnh Sát thì không đòi hỏi điều kiện văn bằng như trên, nhưng ít nhất phải có bằng tiểu học. Các sĩ quan Thiên Nga thì phải có bằng Tú Tài hay cao hơn.
Các nhân viên được tuyển lựa gồm các chị em ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần khác nhau trong xã hội, từ người bán hàng rong cho đến thư ký văn phòng hay cô giáo, vũ nữ …các nữ nhân viên tình báo lần luợt được học qua các lớp “ tình báo căn bản”  là bốn tuần, khóa “ theo dõi “ sáu  tuần và “cán bộ điều khiển “ thì tám tuần…các khóa sinh phải đủ điểm ở lớp thấp trước rồi mới được lên lớp kế tiếp và trong thời gian huấn luyện thì các khóa sinh phải ở nội trú và mang ám số.
Việc giảng dạy do các trường tình báo phụ trách, còn giám thị thì do các nhân viên Thiên Nga đảm  nhận. Sau khi đã học xong thì các nhân viên tình báo trở về Biệt Đội Trung Ương hoặc địa phương để hoạt động.
Các công tác đều có ám danh, vì là phụ nữ nên các ám danh có tên của các loài chim như sơn ca, hoạ mi, hải âu, hoàng oanh, hoàng yến vv… những công tác phối hợp chung với nam Cảnh Sát thì có tên như Trùng Dương hay Trường Sơn …
Do sự thay đổi của tình hình chính trị,  Biệt Đội Thiên Nga có ám danh mới để hoạt động cho dễ. Song song với những công tác được huấn luyện, Biệt Đội Thiên Nga thi hành  nhiều công tác như xâm nhập, len lõi vào các hội đoàn phụ nữ VN hoặc hội hè ở các chợ hoặc lên lõi vào những phong trào phụ nữ đòi quyền sống, hoặc lực lượng thứ ba chống chính quyền VNCH… để kịp thời ngăn chận VC nằm vùng và phá vỡ những âm mưu nguy hại an ninh quốc gia. Ngoài ra Biệt Đội Thiên Nga cũng xâm nhập vào tận mật khu của VC để thu thập tin tức tính báo, góp phần tiêu diệt các cơ sở đầu não của CS.
Để thi  hành công tác, các chị em Thiên Nga luôn chấp nhận sự  hiểm nguy, tính mạng lúc nào cũng bị đe dọa. Qua tài liệu thì VC bị thất bại nhiều từ khi Biệt Đội Thiên Nga được thành lập, vì vậy VC luôn đề cao cảnh giác về hoạt động của Biệt Đội Thiên Nga. Để đối phó vấn đề này VC luôn tìm cách bắt cốc, gây tai nạn xe, tạo án mạng hay ám sát những ai mà chúng nghi ngờ là thuộc Biệt Đội Thiên Nga.
Các nhân viên Thiên Nga phải có những ngụy tích (lý lịch) và ngụy thức (cách trang phục) để len lõi vào các hội đoàn, tham dự các cuộc biểu tình nên cũng phải chịu hơi cay hay dùi cui của Cảnh Sát.  
Một trong những công tác điễn hình là vấn đề cung cấp thực phẩm cho phái đoàn bốn bên VC, CS Bắc Việt, Mỹ và VNCH sau khi hiệp ước đươc ký ở Paris. VC và CS Bắc Việt đòi để họ chọn nhà thầu. Biệt Đội Thiên Nga cử người vào thầu giống như những nhà thầu tư nhân. Đội Thiên Nga đã hoạt động  âm thầm cho đến ngày cuối cùng. Công tác đó có ám danh là Trùng Dương.
Cựu Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy cho biết trong thời gian hoạt động với các cán bộ nằm vùng, các chị em cố thuyết phục và có những người CS đã giác ngộ, quay lại họp tác với các chị em Thiên Nga. Công tác này gọi là công tác Hoàng Oanh.
Biệt Đội Thiên Nga có rất nhiều nhân viên chính thức khắp các vùng chiến thuật, nhưng sau 1975 Cộng sản không tìm ra đuợc nhiều người vì hồ sơ đã được hủy trước khi Miền Nam mất. Vấn đề tình báo luôn  được giữ bí mật, trong thời gian thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Tình Báo các chị em có bí danh, bí số. Sau khi ra trường, trở về  đơn vị các chị em hoạt động độc lập, nhận lệnh và báo cáo với cấp chỉ huy trực tiếp, chứ giữa các chị em trong Biệt Đội Thiên Nga không có sự liên lạc với nhau như ở các đơn vị Cảnh Sát sắc phục hay các quân binh chủng khác.
Các Nữ chiến sĩ tình báo Thiên Nga bị CS liệt kê là thành phần phản động, nguy hiểm, tích cực chống Cộng chứ không phải vì hoàn cảnh, vì sinh kế mà gia nhập ngành này. Sau 1975, chị em người nào bị bắt thì bị trừng trị rất nặng, ở tù rất lâu. Riêng Cựu Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy bị tù mười ba năm và bị biệt giam hơn một năm, mãi ba năm sau mới được giam chung với các chị em nữ quân nhân từ cấp bực Đại Uý trở lên.
Các Nữ chiến sĩ tình báo Thiên Nga thật xứng đáng là con cháu của hai Bà Trưng, Bà Triệu; là niềm hãnh diện của người phụ nữ Việt Nam, đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc tô thấm màu cờ và làm vẻ vang những trang sử oai hùng của dân  tộc Việt.
Tuyết-Mai


Nhắn bạn Tô Lâm, có câm mới…. lành! - Đồng Phụng Việt


Nhắn bạn Tô Lâm, có câm mới…. lành!
Đồng Phụng Việt
2020-04-30

Tô Lâm thân mến,
Tớ giật thót người khi Công an nhân dân – cơ quan ngôn luận chỗ cậu – vừa mới ông ổng rằng: Cần hiểu đúng bản chất vụ Đường “Nhuệ”, Thái Bình (1). Không may là nếu chịu đọc, đọc xong, thiên hạ lại thấy bản chất của công an và chính quyền nhân dân hết sức tệ hại! Chống đỡ vụng về như thế thì… hỏng. Hỏng… hẳn Tô Lâm ạ!
Các cậu lên án “thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị” lợi dụng vụ Đường “Nhuệ” để vu khống, bôi nhọ, tạo dư luận không đúng, gây hiểu lầm về công an nhân dân và chính quyền nhân dân nhưng nói thật với cậu, biện giải kiểu đó thì chẳng cần ai bôi cũng… nhọ, rửa bằng… vòi rồng cũng chẳng hết nhọ!
Các cậu bảo rằng, Đường “Nhuệ” đã thường xuyên tập họp một số đối tượng không có việc làm, gây ra một số vụ cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng từ… năm 2007. Cho tớ hỏi nhỏ: Tại sao công an nhân dân và chính quyền nhân dân để yên cho y tác oai, tác quái, càng ngày càng lộng hành, xông vào cả trụ sở công an một phường đánh người trọng thương,… mà vẫn vô sự lâu thế?
Tô Lâm thân mến,
“Con dại, cái mang”, ai cũng ngại trách nhiệm nhưng để thuộc cấp mặc tình biện bạch, rằng từ công an đến chính quyền không… sai khi vợ chồng Đường “Nhuệ” tham dự đấu giá, mua bán nhà đất rần rần suốt mười năm mà chỉ phải nộp… thuế môn bài thì dở quá. Dở tệ Tô Lâm ạ! Chẳng lẽ cậu cũng tin, từ công an đến chính quyền vô tư khi miễn trừ các loại thuế, phí cho doanh nghiệp của cặp này vì… không phát sinh doanh thu?
Dễ dãi như vậy, ngân sách thất thu chỉ mới là một lẽ, điều còn lại, quan trọng hơn là làm… lệch lạc bản chất của chế độ ta! Trước nay, ta vẫn chủ trương “thu thuế như vặt lông vịt, phải vặt thế nào để vừa có thật nhiều lông, vừa giữ không cho vịt kêu toáng lên” (2) và trên thực tế ta vẫn luôn như thế. Cố ý hay vô tình để sót các doanh nghiệp của vợ chồng Đường “Nhuệ”, làm sao “ta” khóa được mỏ lũ vịt bán hàng rong, chạy xe ôm?...
Tương tự, chẳng lẽ cậu không đỏ mặt khi công an và chính quyền nhân dân có thể phát hiện, triệt phá ngay các tổ chức tôn giáo, xã hội “lợi dụng dịch bệnh” phát khẩu trang để gieo rắc ảnh hưởng nguy hại (3) mà không hề biết gì về “Hiệp hội Tang lễ Thái Bình” do Đường “Nhuệ” thành lập từ năm 2017 để buộc các cơ sở dịch vụ mai táng phải nộp tiền khi đưa các tử thi từ Thái Bình sang Nam Định hỏa táng?
Tạo ra tình tiết, các cơ sở dịch vụ mai táng ngậm đắng, nuốt cay đóng tiền cho Đường Nhuệ trong hai năm rưỡi và vì họ không dám… tố cáo nên công an và chính quyền nhân dân không… biết, có khác gì lột da… mông đắp lên… mặt! Tai sao nhân dân thà làm tôi mọi cho Đường “Nhuệ” mà không tưởng đến chuyện cậy nhờ công an và chính quyền nhân dân bảo vệ mình nhỉ?
Tô Lâm thân mến,
Tớ biết cậu đang trong giai đoạn phải “nằm gai, nếm mật”, ráng bỏ ngoài tai những chì chiết, oán thán vì đủ mọi chuyện “thiên sầu, địa thảm” do lực lượng công an của cậu gieo rắc trên nhân dân, song tớ tin, bất kể thế nào cậu cũng sẽ “tai qua, nạn khỏi”. Cán bộ cấp chiến lược của “ta” ai lại… chẳng thế! Xứ mình bây giờ, có ngành nào, ở cấp nào mà không nặng mùi!
Này, tớ đánh giá rất cao chuyện cậu thoái thác trách nhiệm người đứng đầu bằng các… chỉ đạo điều tra, làm rõ đủ loại scandal đấy nhé! Cho dù chẳng lạ gì cậu nhưng thú thật, đôi khi tớ vẫn có cảm giác, dường như cậu không phải là Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an mà như… thần tiên đến từ… thượng giới để… chấn chỉnh lực lượng công an nhân dân đang khuấy động xã hội chẳng khác gì âm binh.
Tuy nhiên chỉ còn mươi tháng nữa là đại hội đảng, bất kể cậu đã “giả mù, giả điếc, giả câm, giả bại liệt” nhưng muốn bước lên cao hơn, cậu phải nhắc hệ thống truyền thông trong ngành cùng phải giả hệt như thế mới ổn Tô Lâm ạ. Cứ ông ổng như Công an nhân dân trong vụ Đường “Nhuệ” là “lợi bất cập hại”! Dân không mù, không điếc, không câm và cũng chẳng bại liệt. Giờ là lúc có… câm mới… lành đấy Tô Lâm ạ!
Chú thích


Tại sao bà Ngân mừng!? - Nguyên Vũ (Danlambao)


Tại sao bà Ngân mừng!?

Bà Ngân mừng vì chế độ côn an trị của bà tính bỏ sổ hộ khẩu. Nỗi mừng này nói lên một sự thật không thể chối cãi: bà chủ tịch quốc hội đã gián tiếp khẳng định - sổ hộ khẩu là một chính sách khốn nạn của chế độ trong hơn nửa thế kỷ qua - từ Bắc Việt và áp đặt lên cả nước sau ngày cộng sản Bắc Việt xâm lược, cướp bóc, đô hộ miền Nam.

Tôi rất mừng!?

Bà Ngân mừng vì "Xưa nay nhiều khi nghe đến sổ hộ khẩu người dân khổ sở, ví dụ như người nghèo tha phương lên thành phố làm thuê làm mướn con cái không học được vì không có sổ hộ khẩu, đi đâu cũng kè kè cái sổ hộ khẩu."

Nỗi mừng này cũng là một cái tát - tự tát vào mặt bà và tát vào mặt toàn bộ chế độ từ đời trước đến đời sau. Với những rêu rao về dân giàu nước mạnh, về thành tựu cách mạng, dưới sự lãnh đạo của đảng cướp chính quyền người dân vẫn phải tha phương cầu thực bất hợp pháp vì không có sổ hộ khẩu.

Bà mừng vì kể từ nay người dân Việt Nam không phải tha phương cầu thực, vất vưởng trên chính đất nước của mình làm chủ như là một tội đồ - giống như tên bụi đời quốc tế đã tha phương cầu thực ra đi tìm đường cứu đói ở vỉa hè Paris? Nhưng ít ra tên bụi đời quốc tế đó đã không bị làm hành làm tỏi bởi thực dân Pháp như người dân Việt bị cho lên bờ xuống ruộng như đám thực dân đỏ của bà.

Mà tại sao tới giờ bà Ngân lại mừng vì nhờ vào tên côn đồ Bộ trưởng Bộ Côn an Tô Lâm? Tại sao phải chờ đến tên này trình dự án sửa đổi Luật cư trú để mừng mà không phải tự chính mình - chủ tịch quốc hội - là người có thẩm quyền cao nhất để đề xướng việc thay đổi luật?

Tại sao bà Ngân không tự làm để tự sướng với nỗi mừng tự có mà phải quá giang xe thùng Tô Lâm?

Hơn nửa thế kỷ với cái sổ hộ khẩu khốn nạn, nỗi mừng rỡ của bà chủ tịch quốc hội chỉ làm rõ nét hơn, lột trần trụi hơn bản chất khốn nạn của một chế độ khốn nạn.

Nhưng cuối cùng, khốn nạn hơn cả là đây là một nỗi mừng giả tạo của một tên cộng sản lưu manh. Chẳng có gì phải mừng bởi chính sách kiểm soát người dân bằng hộ khẩu vẫn y nguyên. Chúng chỉ thay thế cái sổ hộ khẩu bằng giấy thành sổ hộ khẩu bằng số, kiểm soát bởi hệ thống cơ sở dữ liệu thời a-còng.

Nỗi mừng của Nguyễn Thị Kim Ngân là nỗi mừng đểu cáng, là nụ cười lừa đảo để mị dân. Bà Ngân mừng vì một lần nữa đảng đã lừa như Trần Dâm Tiên đã lừa đảo được vô số cô gái nhà lành, ngây thơ, khờ dại rơi vào tay "bác kính yêu, đạo đức".

24.04.2020



Wednesday, April 29, 2020

Quan hệ Mỹ-Trung: Lịch sử đã dẫn dắt như thế nào? - Mạnh Kim


Quan hệ Mỹ-Trung:  Lịch sử đã dẫn dắt như thế nào?
Mạnh Kim
Bài 1: Tại sao từ thù thành bạn? 

"SỰ KẾT THÚC TỒI TỆ CỦA QUAN HỆ MỸ-TRUNG"
THE UGLY END OF CHIMERICA

Sẽ là rất lịch sự nếu dùng những từ đại loại “đối tác” hay “đối thủ” mà không phải là kẻ thù để chỉ mối quan hệ hiện tại giữa Mỹ và Trung Quốc. Nếu xem Trung Quốc là kẻ thù, Mỹ đang đối mặt với một kẻ thù chưa từng có, một kẻ thù không hoàn toàn nằm ở chiến tuyến đối lập thật sự như với Liên Xô trước đây mà “bị” gắn kết bởi những lợi ích song phương gần như không thể tách rời. Những gì đang xảy ra là hệ quả của lịch sử, một hệ quả từ chính sách ngoại giao của những đời tổng thống trước…

Nhân vật cần phải nhắc lại: Kissinger!

Trung Quốc và Mỹ vốn chẳng bao giờ thật tâm với nhau. Chính kiến là một chuyện (tư bản và cộng sản). Tranh giành ảnh hưởng mới là vấn đề chính. Thời Chiến tranh lạnh, hai nước xem nhau như mặt trăng với mặt trời. Năm 1954, tại Hội nghị hòa đàm Geneva, Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đã thẳng thừng từ chối bắt tay người đồng cấp Chu Ân Lai và thậm chí ra lệnh tất cả thành viên Mỹ phó hội Geneva phải “phớt lờ mọi lúc về sự có mặt và tồn tại của phái đoàn Trung Quốc”. Cùng với chính sách cô lập Trung Quốc về mặt ngoại giao, Mỹ cũng thiết lập một mạng lưới đồng minh và căn cứ quân sự ở Đông Nam Á.
Đến giữa thập niên 1950, Washington đã ký thỏa ước hợp tác quốc phòng với Úc và New Zealand (1951), Philippines (1951), Nam Hàn (1953); thắt chặt quan hệ với Đài Loan (1954) và cả cựu thù Nhật (1951). Mỹ còn thành lập nhiều tổ chức quân sự trong đó có Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Tây Âu, Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO; Philippines, Thái Lan, Pakistan…), Tổ chức hiệp ước trung tâm (CENTO; Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Iraq, Pakistan…). Trước Thế chiến thứ hai, Philippines đã trở thành căn cứ vững mạnh của Mỹ ở Thái Bình Dương, nối với chuỗi đảo thuộc quản lý Mỹ (Guam, Wake, Midway)… Từ năm 1950, Washington cũng áp đặt lệnh cấm vận toàn diện đối với Trung Quốc…

Yếu tố Liên Xô

Có lẽ Trung Quốc chẳng bao giờ có cơ hội “ngóc đầu” lên nếu không xảy ra hai yếu tố thời cuộc, khiến chính sách Washington đối với Bắc Kinh thay đổi 180o. Thứ nhất, đó là sự đe dọa của Liên Xô, và thứ hai là cuộc chiến Việt Nam. Trong bối cảnh bế tắc của cuộc chiến Việt Nam và đồng thời cần một đối trọng để cân bằng quyền lực với Liên Xô, Mỹ bắt đầu chơi trò “mèo mả, gà đồng” với Trung Quốc. Đến đầu thập niên 1970, “bè lũ” Kissinger đã áp dụng một chính sách tiếp cận Trung Quốc hoàn toàn khác. Mục tiêu của Mỹ không còn làm suy yếu mà ngược lại phải làm cho Trung Quốc mạnh! Cụ thể nhất là việc hỗ trợ cho lực lượng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) bằng nhiều loại vũ khí hiện đại, đủ sức để Trung Quốc đương đầu nếu nước này xảy ra chiến tranh với Liên Xô.
Tuy nhiên, trong khi Tổng thống Richard Nixon (đảng Cộng hòa) và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger muốn tăng tốc kế hoạch viện trợ quân sự cho Trung Quốc, Quốc hội Mỹ vẫn tỏ ý lo ngại và tìm cách ngăn chặn, với niềm tin rằng Bắc Kinh là một đối tác bất khả tín. Tuy nhiên, Nixon, rồi người kế nhiệm Gerald Ford (Cộng hòa), vẫn thuyết phục được Quốc hội, dù mức độ viện trợ không được như phác thảo ban đầu. Trong số thiết bị-phương tiện viện trợ cho Trung Quốc lúc đó, có hệ thống bắt tín hiệu truyền hình vệ tinh, 10 chiếc Boeing 707 và hai máy tính tốc độ cao. Đến năm 1975, Kissinger (lúc này là ngoại trưởng) còn kêu gọi xóa một số hạn chế xuất khẩu được áp dụng thời Chiến tranh lạnh, trong đó có việc bán động cơ phản lực Rolls-Royce (Anh sản xuất) cho Trung Quốc. Song song, Mỹ và Trung Quốc cũng thiết lập các chương trình tập trận, huấn luyện quân sự và thậm chí soạn thảo kịch bản tác chiến (đánh Liên Xô)…
Dù vậy, Mỹ rất cân nhắc chính sách viện trợ quân sự cho Trung Quốc, phần vì bản chất của “cuộc tình” Washington-Bắc Kinh thực chất chỉ là mối tình tạm bợ, vì “cưỡng hôn” mà có, vì thời cuộc xoay vần mà ra. Phần nữa, Mỹ không dám ào ạt viện trợ quân sự cho Trung Quốc bởi lo ngại Liên Xô có khả năng phản ứng mạnh và chơi đòn phủ đầu bằng cách bất ngờ tấn công Trung Quốc, dẫn đến nguy cơ một cuộc đại chiến thế giới lần ba. Trong thực tế, đã có vài tín hiệu cho thấy Liên Xô sẵn sàng dập Trung Quốc, không phải đánh bằng một chiến dịch quân sự thông thường mà là đập cho nát ngướu! Hè 1969, khi xung đột biên giới Trung Quốc và Liên Xô căng thẳng, tại một bữa ăn trưa ở nhà hàng “Beef and Bird” ở trung tâm Washington, một viên chức ngoại giao cấp trung Liên Xô đã nói với người đồng cấp Mỹ rằng Moscow đã lên kế hoạch “cực kỳ nghiêm túc” việc tấn công phủ đầu vào các cơ sở hạt nhân Trung Quốc.

Sự kiện Afghanistan

Vài tuần sau tại Teheran, một tùy viên không quân Liên Xô cũng nói với một sĩ quan Mỹ rằng Liên Xô “sẽ không ngần ngại dùng vũ khí hạt nhân để tiêu diệt Trung Quốc” nếu Trung Quốc tiếp tục quấy rối biên giới Liên Xô. Năm 1973, một lần nữa, Liên Xô lại đề cập khả năng tấn công các cơ sở hạt nhân Trung Quốc. Phản ứng, Kissinger – trong chuyến kinh lý Bắc Kinh cuối năm 1973 – nói với Chu Ân Lai rằng trong trường hợp Moscow tuyên chiến với “người anh em” Trung Quốc, Mỹ “có thể giúp đỡ bằng cách hỗ trợ thiết bị và các dịch vụ khác” (nhưng không nêu cụ thể là những gì), đồng thời giúp Trung Quốc giảm thiểu khả năng thiệt hại bằng cách cung cấp thông tin tình báo cảnh báo sớm. Điều này chỉ có thể thực hiện một khi thiết lập đường dây nóng “giữa các vệ tinh của chúng ta để chúng tôi có thể thông báo cho các bạn chỉ trong vài phút”…
Giữa thập niên 1970, Mỹ bắt đầu giảm bớt liều lượng nhiệt tình trong quan hệ với Trung Quốc. Cuộc chiến Việt Nam đã ngã ngũ và mối đe dọa hạt nhân Liên Xô cũng không còn. Hơn nữa, quan điểm nổi trội trong chính trường Mỹ vẫn là sự áp đảo của phe chính trị truyền thống với chính sách không thân thiện với một nước cộng sản như Trung Quốc. Phần mình, Bắc Kinh cũng chẳng thấy vui gì khi Washington thắt chặt bang giao với mình; một mặt, vẫn “đi đêm đi hôm” và thậm chí công khai bênh vực Đài Loan. Trong thực tế, cả Bắc Kinh lẫn Washington đều nhìn thấy rõ bản chất của mối quan hệ: Trung Quốc cần dựa hơi Mỹ để chống Liên Xô, trong khi Washington cần vuốt ve Trung Quốc để lấy nó làm đối trọng trong những cuộc mặc cả chính trị với Moscow.
Tuy nhiên, tháng 12-1979, khi quân đội Liên Xô tấn công Afghanistan, quan hệ chiến lược Washington-Bắc Kinh lại được đẩy lên một “tầm cao” mới. Trong chuyến công du Bắc Kinh tháng 1-1980, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Harold Brown đề xuất loạt trao đổi giữa các viên chức quốc phòng cấp cao hai nước, ở một mức độ “chưa từng có trước nay”. Tổng thống Jimmy Carter (Dân chủ) tuyên bố ông sẽ chuẩn y các giấy phép xuất khẩu cho những mặt hàng liên quan kỹ thuật kép (dùng cho dân sự lẫn quân sự), và lần đầu tiên cũng chuẩn y phi vụ bán các hệ thống quân sự không giết người, như radar, vận tải cơ, trực thăng và phần cứng viễn thông. Tuy nhiên, Carter vẫn còn đủ tỉnh táo và thận trọng không đồng ý bán vũ khí tấn công, bất chấp sự bày tỏ quan tâm từ Bắc Kinh… Chính sách thân thiện của Washington đối với Bắc Kinh, dù ẩn sâu bên trong vẫn tồn tại nhiều nghi kỵ và dè chừng, đã khiến dư luận Mỹ thời điểm đó bớt nhìn Trung Quốc bằng cặp mắt tiêu cực. Trong suốt thập niên 1970, chỉ khoảng 1/3 người được hỏi trong các cuộc thăm dò tại Mỹ là bày tỏ cái nhìn tích cực dành cho Trung Quốc trong khi 2/3 hoặc hơn nói chung tỏ ra nghi ngại Trung Quốc. Đến thập niên 1980, những kết quả thăm dò bắt đầu cho thấy ngược lại. Trong cuộc thăm dò tháng 2-1989, tỉ lệ người Mỹ “khoái” Trung Quốc đã lên đến 73%!

Bài 2: Thế cuộc xoay vần, làm sao trở bộ?

Lịch sử chính trị thế giới cho thấy có khi, chỉ bởi vài quan điểm cá nhân, thế cục đã có thể thay đổi. Trong trường hợp Trung Quốc và Mỹ, đó là những bộ não như Henry Kissinger và sau đó là “học trò” của ông – Ngoại trưởng Alexander Haig.

Một “bước tiến” quá xa

Trong Nội các Ronald Reagan (thuộc đảng Cộng hòa; kế nhiệm Jimmy Carter), Alexander Haig được xem là nhân vật luôn ủng hộ mạnh mẽ chính sách thân Bắc Kinh. Haig muốn đặt dấu ấn riêng trên trang sử quan hệ Mỹ-Trung bằng việc thực hiện những bước đột phá để nâng quan hệ hai nước lên một cấp độ chiến lược mới, mà trọng tâm của nó là tăng tốc việc bán vũ khí giết người cho Trung Quốc, về chất lẫn lượng. Haig tin rằng, chỉ khi như vậy, Mỹ mới có thể cân bằng được sức mạnh quân sự Liên Xô.
Ngoại trưởng Alexander Haig và người đồng cấp Hoàng Hoa tại Bắc Kinh tháng 6-1981 (International Magazine Services photo archive)
Quan điểm của Haig cũng được chia sẻ bởi một số người trong bộ máy quân đội Mỹ. Bản nghiên cứu về mối quan hệ an ninh chiến lược với Trung Quốc năm 1981 của Bộ tổng tham mưu quân đội Hoa Kỳ kết luận rằng, Trung Quốc “đang đóng góp đáng kể” cho “sự cân bằng toàn cầu”. Tuy nhiên, một lần nữa, Quốc hội và một số tướng lĩnh Lầu năm góc vẫn dè dặt việc mở rộng cửa và cung cấp Trung Quốc những kỹ thuật quân sự tiên tiến. Với Haig, đó là những ý kiến “thiển cận”, xuất phát từ hạng người có “tư duy bàn giấy” và “đầu óc hẹp hòi”…
Sự vận động liên tục của Haig cuối cùng cũng có kết quả, dù khiêm tốn. Năm 1983, Bộ trưởng quốc phòng Caspar Weinberger tuyên bố, trong số những bước đi mới được thiết kế nhằm tăng cường quan hệ quân sự song phương Mỹ-Trung, Washington sẽ sẵn lòng bán những hệ thống “vũ khí phòng ngự” cho Bắc Kinh. Và trong nửa sau thập niên 1980, Washington cũng đồng ý bán cho Trung Quốc ngư lôi, radar chiến thuật, thiết bị máy móc để sản xuất vỏ đại bác và hệ thống điện tử cho thiết bị đánh chặn của chiến đấu cơ. Giới chức Mỹ thậm chí còn bày tỏ việc sẵn lòng thảo luận việc bán hệ thống tên lửa chống tăng, hệ thống dò âm chống tàu ngầm, động cơ turbine khí cho tàu chiến và hệ thống tên lửa không đối không.
Tóm lại, Washington đã chuẩn bị bán một số mặt hàng quân sự với số lượng lớn cho Trung Quốc. Sau chuyến công du Trung Quốc của Weinberger năm 1983, loạt trao đổi qua lại giữa giới chức dân sự lẫn quân sự ở mọi cấp bậc của hai nước liên tục diễn ra. Không chỉ dự tính tổ chức các cuộc phối hợp tập trận hải quân giữa hai quân đội, Mỹ còn háo hức đề xuất ý kiến triển khai máy bay chiến thuật đến những căn cứ gần Vladovostok; phát triển “những hệ thống phòng không và cảnh báo sớm”, xin được phép tiếp liệu cho vận tải cơ Mỹ mang hàng hóa cung cấp cho lực lượng “kháng chiến quân” Afghanistan trong cuộc chiến chống Liên Xô…

“Tính lại” như thế nào?

Tuy nhiên, thời cuộc lại thay đổi và ảnh hưởng của nó là sự tái nhận thức về các mối quan hệ. Giữa thập niên 1980, Liên Xô đang lún sâu vào hỗn loạn nội bộ, trong làn sóng cải tổ của Mikhail Gorbachev. Nhận định rằng Moscow không còn là kẻ thù và là mối đe dọa an ninh lớn đối với mình, Bắc Kinh bắt đầu muốn cải thiện quan hệ với Moscow để tận dụng quan hệ quân sự lẫn kinh tế. Dù sao, hai nước cũng từng có những mối liên hệ chặt chẽ thời thập niên 1950. Việc tái nhận thức trong chiến lược quan hệ với Liên Xô khiến Bắc Kinh “tế nhị” đẩy quan hệ với Mỹ xuống một… tầm thấp hơn. Thế là thay vì hăm hở sắm “đồ chơi” Mỹ, Trung Quốc đã bỏ qua (cơ hội ngàn vàng này) và chỉ mua vài thứ tượng trưng. Những kế hoạch hợp tác quân sự song phương như nói ở trên cũng bị bỏ xó…
Năm 1989 đã xảy ra hai sự kiện kinh thiên động địa khiến Mỹ bắt đầu giảm dần, dù rất chậm, mối quan hệ với Trung Quốc. Thứ nhất đó là sự kiện Thiên An Môn vào tháng 6 và tiếp đó là sự kiện bức tường Berlin sụp đổ vào tháng 11. Cả hai sự kiện đều mang lại những ảnh hưởng sâu sắc đối với chính sách đối ngoại của Mỹ lẫn Trung Quốc. Với Mỹ, sự tan rã khối cộng sản Đông Âu khiến điểm tựa Liên Xô không còn đã dẫn Washington đến những phác thảo mới cho chủ trương đối ngoại. Có một điều đến nay không thể giải thích là tại sao dù chiến lược cân bằng với Liên Xô không còn cần thiết nhưng Washington, bất chấp sự kiện kinh hoàng Thiên An Môn, vẫn duy trì quan hệ khá gần gũi với Trung Quốc.
Vài tháng sau vụ Thiên An Môn, thứ trưởng ngoại giao Mỹ Lawrence Eagleburger đệ trình Quốc hội một danh sách những phạm vi “sống còn” mà Mỹ cần tiếp tục thực hiện trong mối quan hệ với Bắc Kinh. Eagleburger giải trình rằng, dù Liên Xô sụp đổ, nhưng những “giá trị chiến lược” với Bắc Kinh vẫn không thể vì thế mà từ bỏ. Do đó, Bắc Kinh và Washington cần tiếp tục chia sẻ nhiều mối quan tâm mới, qua những chương trình hợp tác mới, trong bối cảnh chính trị mới. Theo quan điểm Eagleburger cũng như một số giới chức hoạch định chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, Washington bây giờ cần hỗ trợ để đưa Trung Quốc tiếp cận và gắn kết sâu hơn vào các hệ thống định chế quốc tế. Một cách tinh vi, đó là cách thuần hóa một con cọp đang mọc nanh.

Washington từng nghĩ Trung Quốc chỉ mải lo làm giàu, thế thôi!

Chính sách này xuất hiện ngay từ những ngày đầu của nhiệm kỳ Bill Clinton (Dân chủ). Năm 1994, Chính phủ Mỹ tuyên bố Washington sẽ theo đuổi chính sách “hợp tác toàn diện” với Trung Quốc – như Tổng thống Bill Clinton đã trình bày: “Chúng tôi sẽ có nhiều mối liên hệ hơn.. Chúng tôi sẽ giao thương nhiều hơn. Chúng tôi sẽ hợp tác quốc tế nhiều hơn”. Nói cách khác, Mỹ đã phát quang dọn đường đưa Trung Quốc lên vũ đài quốc tế, với hy vọng rằng, Trung Quốc sẽ có ý thức trách nhiệm hơn với những nghị sự thế giới và những vấn đề toàn cầu (chẳng hạn ô nhiễm môi trường), cũng như sẽ hành xử biết điều, biết luật hơn, với những xung đột khu vực…
Mỹ đã tạo ra một ảo tưởng cho Trung Quốc rằng họ bây giờ là một cường quốc. Đặt Trung Quốc lên chiếc ghế định chế quốc tế không chỉ buộc Trung Quốc phải “ăn ở” cho ra “tư cách người lớn” mà cũng là một cách để có thể giám sát và thậm chí khống chế Trung Quốc. Đó là lý do tại sao Mỹ dành cả nửa sau của thập niên 1990 để vận động đưa Trung Quốc vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO)… Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2000, George W. Bush (Cộng hòa) chỉ trích nội các tiền nhiệm đã “dung túng” và “nuông chiều” Trung Quốc thái quá. Với Bush, Trung Quốc không thể là “đối tác chiến lược” mà phải là “đối thủ chiến lược”.. Dù vậy, thế cờ đã được bày, trong một thời gian dài như vậy, làm sao có thể gỡ một sớm một chiều? Cuối cùng, dưới áp lực của giới doanh nghiệp và tài phiệt Mỹ, Bush cũng buộc phải áp dụng chính sách đối với Trung Quốc chẳng khác thời Bill Clinton bao nhiêu…
Tuy nhiên, trong lĩnh vực quân sự, những gì được thiết lập trước năm 1989 đã không bao giờ được tái lập. Mỹ bắt đầu nhận ra rằng, Trung Quốc đang từng bước trở thành một mối họa đối với an ninh và quyền lợi Mỹ. Sự nhận thức này diễn ra rất chậm. Trước năm 1996, giới chức quân sự Mỹ vẫn còn chưa quan tâm sự phát triển quân sự Trung Quốc. Họ chỉ nghĩ Trung Quốc đang mải mê lo làm giàu, thế thôi. Trong khi đó, một sự nhận chân toàn bộ về thực trạng quân sự non kém của mình lại đang sôi sùng sục tại Trung Quốc, từ khi họ chứng kiến sức mạnh kinh khủng của Mỹ phô diễn ở cuộc chiến vùng Vịnh 1991. Trung Quốc bắt đầu âm thầm tăng tốc đầu tư quân sự, trước sự thờ ơ của Mỹ.
Tất cả chỉ thay đổi vào năm 1996, khi Đài Loan tổ chức cuộc bầu cử tổng thống dân chủ đầu tiên. Trung Quốc đã gây sức ép Đài Bắc bằng cách triển khai dàn tên lửa chĩa thẳng về Đài Loan. Lần đầu tiên trong hơn 30 năm, Mỹ mới nhận ra một hiểm họa chiến tranh thật sự tại châu Á, đến từ Trung Quốc. Lập tức sau đó, tình báo Mỹ bắt đầu theo dõi hoạt động quân sự Trung Quốc. Kết quả thật đáng lo ngại, nếu không nói là đầy tính cảnh báo. Hóa ra quân đội Trung Quốc đã mạnh hơn Mỹ nghĩ rất nhiều, dù sức mạnh này còn kém Mỹ rất xa. Trước sự kiện 1996, CIA gần như chẳng đếm xỉa đến Trung Quốc.
Trong báo cáo các mối đe dọa toàn cầu vào tháng 2-1996, Giám đốc CIA John Deutch trình bày ngắn gọn: “Chúng ta vẫn biết rất ít về giới lãnh đạo tương lai Trung Quốc cũng như kế hoạch của họ”. Một năm sau, sau vụ khủng hoảng Đài Loan, người kế nhiệm Deutch, George Tenet, bắt đầu “la thất thanh”: “Những hành động và tuyên bố của Trung Quốc cho thấy họ quyết tâm thể hiện mình như một sức mạnh đỉnh cao ở Đông Á”. Đến năm 1998, Tenet tin chắc rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc “có một mục tiêu rõ ràng: biến nước họ thành một sức mạnh chủ yếu ở Đông Á cũng như là cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới ngang hàng Mỹ vào giữa thế kỷ 21”.

Bài 3: Điều chỉnh và tái cân bằng

Với Mỹ, từ thời George W. Bush đến Barack Obama, chính sách ngoại giao có thể tổng hợp gồm ba phần. Với Trung Quốc, họ cũng xây dựng chiến lược mới. Cách chọn lựa những gì cần làm và cách dứt khoát như thế nào những gì cần loại bỏ trong các đề mục của đối sách đối ngoại ở bối cảnh mới của mối quan hệ sẽ là những yếu tố quyết định thành bại, nếu không muốn nói là mang tính sinh tử đối với cả hai…

Duy trì cân bằng

Với thế đang lên của Trung Quốc, cùng sự gắn kết móc xích kinh tế giữa Mỹ và nước này, Washington (thời George W. Bush và Barack Obama) hiểu rằng sẽ là hạ sách nếu cố kiềm tỏa Bắc Kinh bằng chính sách cô lập triệt để như từng dùng thời Chiến tranh lạnh với Liên Xô và Đông Âu. Phương án được chọn của Mỹ là tìm cách cân bằng.
Thứ nhất, đó là triển khai mạnh sự hiện diện quân sự tại Thái Bình Dương. Đấu pháp này thật ra không phải bắt đầu sau khi Barack Obama ngồi ghế tổng thống (năm 2009) mà đã hình thành từ thời Bill Clinton, khi Clinton – tiên liệu được sức mạnh mang tính đe dọa quyền lợi Mỹ của Trung Quốc tại đấu trường châu Á – đã quyết định duy trì một lực lượng ổn định với tối thiểu 100.000 quân tại châu Á-Thái Bình Dương. Sau Clinton, sang thời George W. Bush, trái với nhiều nhận định rằng Bush đã bỏ lỏng châu Á cho Trung Quốc khi dồn lực vào cuộc chiến chống khủng bố, chính nội các Bush mới là nơi khai sinh khái niệm “tái phối trí”, khi Bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld triển khai mạnh chương trình tái phối trí lực lượng quân sự Mỹ khắp toàn cầu với sự tăng cường hiện diện tại châu Á. Quân đội Mỹ được phân bổ dàn rộng hơn (không tập trung ở những căn cứ truyền thống như Okinawa và Hàn Quốc), với yếu tố tác chiến cơ động được đề cao – như lời đô đốc William J. Fallon giải thích: “Chúng tôi đưa lực lượng mình đến những nơi mà chúng tôi nghĩ có thể sử dụng mà không cần phải xin phép bất kỳ ai”.
Trước khi Bush rời Nhà trắng, hải quân lẫn không quân Mỹ đều đã tăng cường những đơn vị tinh nhuệ có khả năng chiến đấu cao nhất đến Thái Bình Dương. Năm 2007, lần đầu tiên kể từ sau Chiến tranh lạnh, hơn ½ tàu chiến của Mỹ đã được điều động đến Thái Bình Dương, trong đó có 6 (trong tổng số 11) hàng không mẫu hạm; gần như tất cả 18 chiếc khu trục hạm lớp Aegis (có khả năng bắn chặn tên lửa); 26 (trong tổng số 57) tàu ngầm tấn công… Năm 2007, tư lệnh trưởng Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, Đô đốc Timothy Keating, nói: “Chúng tôi phải duy trì khả năng vượt trội tại bất kỳ hoàn cảnh nào và bất kỳ môi trường nào. Không có ngoại lệ”.
Thứ hai, đó là việc tăng cường liên kết đồng minh. Một lần nữa, điều này cũng được dàn dựng vào thời Clinton và tiếp tục duy trì thời Bush. Năm 1997 rồi lần nữa vào năm 2005, giới chức Mỹ-Nhật đã thảo luận sâu về vấn đề hợp tác quốc phòng cũng như tìm cách tháo gỡ rào cản pháp lý liên quan việc mở rộng quân đội Nhật (vốn bị hạn chế bởi Hiến pháp Nhật được soạn sau Thế chiến thứ hai). Để tránh bị qui kết can thiệp nội bộ Tokyo, Nội các Bush đã ngầm ủng hộ nhóm chính trị gia Nhật kêu gọi sửa đổi Hiến pháp. Ngoài Nhật, Washington cũng mở rộng liên kết hợp tác quân sự với Úc và một số nước trong đó có Philippines, Singapore và Thái Lan…
Thứ ba, đó là sự hạn chế đà phát triển của quân đội Trung Quốc. Đây là bài toán thật sự hóc búa đối với Mỹ. Làm thế nào để tăng cường xuất khẩu Mỹ (sang Trung Quốc) mà không làm ảnh hưởng an ninh quốc gia? Mặt hàng nào nên được xếp vào nhóm “nhạy cảm”? Sau sự kiện Thiên An Môn, Tổng thống George H. Bush (Bush-bố) đã áp đặt lệnh cấm vận toàn diện đối với các thương vụ vũ khí sát thương dành cho Trung Quốc; đồng thời thuyết phục các nước đồng minh áp dụng tương tự.
Năm 1991 và một lần nữa vào năm 1993, Bush-bố rồi Clinton đã chặn đứng việc xuất khẩu vệ tinh cho Trung Quốc. Tuy nhiên, khi miếng bánh thị trường Trung Quốc đang bị mất dần vào tay Nhật và châu Âu, giới doanh nghiệp Mỹ liên tục vận động hậu trường để được Washington cho “xả cảng”. Vậy là, trong suốt thập niên 1990, dù ngày càng có nhiều ý kiến bày tỏ quan ngại sự bành trướng quân đội Trung Quốc, Bộ thương mại Hoa Kỳ vẫn phải chuẩn y hàng trăm giấy phép bán những kỹ thuật kép cho Trung Quốc trong đó có bán dẫn, máy móc chính xác cao và những thiết bị kiểm định đặc biệt. Những mặt hàng này, như sau này được biết, đã chạy thẳng đến các nhà máy và phòng thí nghiệm quân sự Trung Quốc, để từ đó tạo ra những radar quân sự, tên lửa hành trình và vũ khí hạt nhân…
Tuy vậy, về tổng thể, Clinton lẫn Bush-con đều cố kiểm soát tình hình bất kỳ khi nào có thể.. Năm 2004, một cuộc tranh luận về việc tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho Trung Quốc một lần nữa lại bùng lên tại châu Âu. Với chính giới châu Âu, lệnh cấm vận 15 năm dành cho Trung Quốc đã làm thiệt hại đáng kể ngành công nghiệp quốc phòng và không gian của họ. Đã đến lúc phải gạt bỏ tư tưởng hoài nghi dành cho Bắc Kinh – châu Âu đề nghị. Suýt chút nữa thì chiến dịch vận động xóa cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc của châu Âu đã thành công, nếu nội các Tổng thống Bush-con không quyết liệt can thiệp vào giờ chót. Trong khi đó, Mỹ tăng cường xuất cảng vũ khí, đặc biệt thời Obama, khi Mỹ vận hành chính sách “xoay trục”. Năm 2011, Loren Thompson, nhà tư vấn quốc phòng kỳ cựu, từng nói rằng Obama có khuynh hướng ủng hộ xuất khẩu vũ khí “hơn bất kỳ Nội các Dân chủ nào trước đó”.
Mỹ tiếp tục duy trì quan hệ chiến lược với Đài Loan (Reuters)

Trung Quốc làm gì?

Mục tiêu lớn nhất của Trung Quốc là phải trục Mỹ khỏi sân chơi Đông Nam Á, một cách gián tiếp, không đối đầu trực diện; bằng những “thủ pháp” sau:
Thứ nhất, phải tìm cách trì hoãn hoặc thậm chí loại bỏ bất kỳ phản ứng có thể nào của Mỹ, đối với chiến thuật tăng cường hiện diện thông qua hợp tác mà Mỹ đang áp dụng. Thứ hai, Trung Quốc phải lập ra những thể chế chính trị khu vực được thiết kế sao cho Mỹ không thể tham gia. Thứ ba, ổn định những vùng đệm an toàn tại khu vực; sao cho, thứ tư, Trung Quốc có thể tập trung hơn vào chiến lược thống trị biển Đông trong khuôn khổ chủ thuyết “đường lưỡi bò”.
Dựa theo bài bản xây dựng đồng minh của Mỹ tại châu Á, Trung Quốc cũng có những dự án xây dựng thể chế để gắn kết đồng minh riêng, trong đó có Tổ chức hợp tác Thượng Hải hay cơ chế “cộng ba” đối với khối ASEAN. Với Trung Á, Trung Quốc đã không bỏ lỡ thời cơ tìm kiếm những cơ hội nảy sinh khi khối Liên Xô tan rã. Và bằng cách tạo ra mô hình “đối tác chiến lược” với các nước láng giềng, trong khuôn khổ chính sách “biên giới mềm” – như cách nói của nhà báo Ross Munro, Trung Quốc không chỉ tăng cường ảnh hưởng mà còn hạn chế những rủi ro đe dọa trong tương lai.
Để thực hiện chiến lược “biên giới mềm” nhằm tăng cường ảnh hưởng khu vực ngoại vi, theo Munro, Trung Quốc đã áp dụng nhiều thủ đoạn trong đó có hối lộ giới chức quốc gia sở tại, tuyển dụng giới doanh nghiệp và viên chức địa phương để cung cấp thông tin cho Trung Quốc (những thông tin này khi được tình báo Trung Quốc sàng lọc sẽ giúp Bắc Kinh có cái nhìn rõ hơn về tình hình chính trị quốc gia sở tại), áp dụng thủ thuật chèn ép tinh vi trong đàm phán biên giới để buộc các nước láng giềng yếu hơn không chỉ nhường đất mà còn phân tán lực lượng biên phòng của họ, và cuối cùng, là âm thầm tổ chức các cuộc di dân từ Trung Quốc sang quốc gia ngoại vi…
***
Để kết thúc chuỗi lịch sử từ thời Nixon đến cuối thời Obama, có lẽ cần nhắc lại một nhân vật: Henry Kissinger – kẻ được mệnh danh “ông ngoại của chính sách đối ngoại (“granddaddy of U.S. foreign policy”), người vẫn dùng ảnh hưởng của mình để xây dựng một “viễn kiến” về “trật tự thế giới mới” trong đó Mỹ phải nên chia sẻ quyền lực với Trung Quốc.
Cần nhắc lại, cuối năm 2016, khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ kết thúc với chiến thắng thuộc về Donald Trump, Kissinger đã mò sang Bắc Kinh. Ngày 1-12, Kissinger gặp nhân vật chính trị cấp cao Vương Kỳ Sơn (hiện ngồi ghế Phó Chủ tịch Trung Quốc). Ngày 2-12, báo chí Trung Quốc đăng ảnh Kissinger gặp Tập Cận Bình. Hôm đó, Kissinger nói với Tập: “Chúng tôi hy vọng chứng kiến quan hệ Mỹ-Trung đi lên với cách thức ổn định và liên tục”. Và trong cuộc phỏng vấn (đăng trên nguyệt san The Atlantic 12-2016), khi được nhà báo Jeffrey Goldberg hỏi rằng ông có lo sợ không, nếu “tất cả những chuyện này, xuất phát từ Trump, dẫn đến một cuộc chiến thương mại với Trung Quốc”; Kissinger trả lời: “Hơn bất kỳ gì khác, một trật tự thế giới hòa bình và cân bằng luôn dựa vào mối quan hệ ổn định giữa Mỹ với Trung Quốc. Tập Cận Bình miêu tả sự liên tương kinh tế là sự “cân bằng và thúc đẩy” cho quan hệ song phương rộng hơn của chúng ta. Một cuộc chiến mậu dịch sẽ tàn phá cả hai nước”.
Lập luận này tiếp tục được lặp lại trong cuộc họp mà Kissinger chủ trì tại New York trung tuần tháng 12-2016. Gần đây nhất, giữa cơn khủng hoảng dịch bệnh, khi viết trên Wall Street Journal (3-4-2020), Kissinger vẫn còn bóng gió về cái gọi là sự chuyển dịch đến một trật tự hậu đại dịch (the transition to the post-coronavirus order).


Năm Ngàn & Năm Cắc -Tưởng Năng Tiến


Năm Ngàn & Năm Cắc
Tưởng Năng Tiến
Vài bữa sau, sau ngày đổi tiền ở miền Nam, tờ Sài Gòn Giải phóng (số ra hôm 27 tháng 9 năm 1975) đã gửi đến những người dân ở vùng đất này đôi lời an ủi:
Lão Nông

Lão bà nghỉ chợ bần thần

Đem tiền [Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong

Xếp riêng rồi lại xếp chung

Miệng thời lẩm bẩm mà… (không rõ nhời)!

“Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”

Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức lại có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.” (Bên thắng cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm!

Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai.

Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền?

Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi cho đến khi xi rô bạc hết cả mầu mới ngừng tay, lễ phép xin thêm:

- Cho con thêm chút xi rô nữa được không?

- Được chớ sao không. Bữa nào tụi bay cũng vậy hết trơn mà còn làm bộ hỏi nữa!

Năm cắc đủ cho một chén bò viên, dù chỉ được một viên thôi nhưng khi nắp thùng nước lèo mở ra là không gian (của cả Sài Gòn) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh đó – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy – hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay có thể khiến cho đứa bé xuýt xoa mãi cho đến… lúc cuối đời.

Năm cắc cũng đủ làm cho chú Chệt vội vã thắng xe, mở ngay bình móp, lấy miếng kem – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – rồi trịnh trọng trao hàng với nụ cười tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt lạnh thấm dần qua lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng hay một xâu tầm ruột ướp nước đường vàng, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, mười viên “cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon” nho nhỏ/xinh xinh…

Một một đồng thì (Trời ơi!) đó là cả một trời, và một thời, hạnh phúc muôn mầu!

Một đồng mua được hai quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng bay (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố mới lên đèn, và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương dù tóc đã điểm sương.

Còn hai đồng là nguyên một tô cháo huyết có thêm đĩa dà trá quẩy ròn rụm đi kèm. Hai đồng là một tô mì xắt xíu với cái bánh tôm vàng ươm bên trên, và nửa cọng rau xà lách tươi xanh bên dưới. Tờ giấy bạc với mệnh giá quá lớn lao và rất hiếm hoi này, không ít lúc, đã khiến cho tuổi thơ của tôi vô cùng phân vân và bối rối!

Và trong cái lúc mà tôi còn đang suy tính, lưỡng lự, cân nhắc giữa bốn cái kem đậu xanh năm cắc, bốn cuốn bò bía, bốn ly nước mía, hay một tô hủ tíu xắt xíu thịt bằm béo ngậy (cùng) giá hai đồng thì ở bên kia chiến tuyến người ta đã quyết định cho ra đời Mặt trận Giải phóng Miền Nam – vào ngày 20 tháng 12 năm 1960.

Hệ quả thấy được, vào mười lăm năm sau – vẫn theo báo Sài Gòn Giải phóng, số thượng dẫn: “Miền Nam đã có một nền tiền tệ mới, khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của xứ sở, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nâng niu từng tờ bạc của Ngân hàng Việt Nam với một niềm hãnh diện chưa từng thấy sau bao nhiêu thế kỷ mất nước phải ép mình sống với đồng bạc của ngoại bang.”

Niềm hãnh diện được nâng niu từng tờ bạc mới (nếu có) cũng nhỏ dần sau từng đợt đổi tiền. Rồi với thời gian nó từ từ biến thành… giấy lộn – theo tường thuật của Tuổi Trẻ Online, đọc được vào hôm 26 tháng 3 năm 2019: “Tiền mệnh giá 200 đồng, 500 đồng, đến chị hàng rong cũng... chê. Dù vẫn đang được lưu hành nhưng những tờ tiền mệnh giá 200 đồng, 500 đồng đang bị chê trong nhiều giao dịch thanh toán hằng ngày như từng diễn ra với tiền xu trước đó nhiều năm.”

Tuy đồng tiền mỗi ngày một mất giá (thê thảm) nhưng dân Việt vẫn sống rất ung dung và tự tại trong Độc Lập – Tự Đo – Hạnh Phúc:

- Việt Nam tuy là nước có thu nhập thấp nhưng có chỉ số hạnh phúc cao thứ 5 thế giới.

- Toàn cầu bất ổn nhưng Việt Nam rất ổn.

- Người Việt có thể làm ra những thứ mà thế giới chưa từng làm.

Thiệt là quá đã, và … quá đáng, chỉ nghe không cũng đã thấy ấm đầu!


Sunday, April 26, 2020

Chú Ủn Đang Ở Đâu? Ai Sẽ Là Người Kế Vị?


Chú Ủn Đang Ở Đâu? Ai Sẽ Là Người Kế Vị?

Con tàu Kim Jong-un ở đâu, Kim Pyong-il là ai và Kim Yo-
jong đang làm gì?
·        2 giờ trước

·        Một đoàn tàu đặc biệt, có thể là tàu của nhà lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong-un, trong tuần này được nhìn thấy ở một thị trấn nghỉ dưỡng, theo các hình ảnh thu được từ vệ tinh và được một dự án từ Washington chuyên theo dõi tình hình Bắc Hàn, phân tích.
Dự án 38North trong một báo cáo ra hôm thứ Bảy nói rằng đoàn tàu đỗ tại "ga lãnh tụ" ở Wonsan vào ngày 21/4 và 23/4, và nói đây là ga được dành riêng cho gia đình họ Kim.
38North nói rằng có thể đây là đoàn tàu của ông Kim Jong-un, tuy nhiên, tin đó có đúng không, hay ông Kim liệu có đang có mặt ở Wonsan không thì hiện vẫn chưa thể kiểm chứng độc lập.
"Sự hiện diện của đoàn tàu không chứng minh được là nhà lãnh đạo Bắc Hàn đang ở đâu, hay cho thấy bất kỳ chỉ dấu nào về sức khoẻ của ông, nhưng nó làm nặng ký thêm cho các tường thuật nói ông Kim hiện đang ở một khu vực cao cấp nằm trên bờ biển phía đông đất nước," bản báo cáo của 38North nói.
Các đồn đoán về sức khoẻ của ông Kim lần đầu tiên rộ lên khi ông vắng mặt khỏi lễ kỷ niệm sinh nhật người cha lập quốc của Bắc Hàn, cũng là ông nội của ông Kim Jong-un là ông Kim Nhật Thành, hôm 15/4.
Trung Quốc đã gửi một nhóm nhân viên tới Bắc Hàn, trong đó có các chuyên gia y tế, để tư vấn, theo ba người thạo tin.
Việc tường thuật tin tức từ Bắc Hàn ra ngoài là vô cùng khó khăn, do nước này kiểm soát cực kỳ chặt chẽ thông tin.
Là thế hệ thứ ba lên nắm quyền sau khi cha là ông Kim Chính Nhất (Kim Jong-il) qua đời hồi cuối 2011, ông Kim Jong-un chưa có người kế vị rõ ràng cho quốc gia có vũ khí hạt nhân, và điều này có thể tạo ra những rủi ro quốc tế to lớn.
Daily NK, một trang web đặt tại Seoul chuyên tường thuật về Bắc Hàn, dẫn một nguồn giấu tên từ Bắc Hàn hôm thứ Hai, nói rằng ông Kim đã được điều trị y tế tại khu nghỉ dưỡng Hyangsan ở phía bắc thủ đô Bình Nhưỡng.
Daily NK tường thuật rằng ông Kim cần được điều trị khẩn cấp liên quan tới việc ông nghiện thuốc lá nặng, béo phì và làm việc mệt nhọc.
Lần cuối ông Kim xuất hiện công khai là khi ông chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị Đảng Lao động Triều Tiên, hôm 11/4, và thị sát cuộc diễn tập của chiến đấu cơ thuộc một đơn vị phòng không. Không rõ việc thị sát diễn ra khi nào, nhưng tin tức được tường thuật trên truyền thông nhà nước hôm 12/4.
Hãng tin CNN dẫn nguồn một viên chức Hoa Kỳ ẩn danh, nói Washington đang "theo dõi tin tình báo" theo đó nói ông Kim đang trong tình trạng nguy hiểm về sức khỏe sau khi trải qua cuộc phẫu thuật.
Không mấy thông tin về đời tư của ông Kim được biết đến cho tới khi có một đoạn video trên truyền hình cho thấy có một phụ nữ không rõ là ai tham dự các sự kiện bên cạnh ông. Vào tháng 7/2012, truyền hình nhà nước công bố tin ông Kim kết hôn với "đồng chí Ri Sol-ju".
Tin tình báo Nam Hàn nói hai người đã có ba người con.
Trong tình hình ông Kim Jong-un có vẻ như "gặp vấn đề sức khoẻ", sự chú ý của giới quan sát nay dồn vào hai nhân vật, Kim Pyong-il, và Kim Yo-jong.
Đại sứ Kim Pyong-il nay ở đâu?
Theo các nguồn tin từ Hàn Quốc cho BBC biết, giới chức nước này đã chú ý đến ông Kim Pyong-il từ lâu, vì ông là chú cùng ông nội, khác bà của Kim Jong-un.
Là đại sứ CHDCND Triều Tiên ở Ba Lan và CH Czech, có nguồn tin nói ông đã về nước năm 2019.
Vai trò của ông Kim Pyong-il nếu có được trong bộ máy chính trị của gia tộc Kim, đến từ quan hệ dòng máu.
Là em cùng cha khác mẹ của Kim Jong-il, chủ tịch Triều Tiên, ông Pyong-il được đào tạo bài bản và biết ngoại ngữ Anh và Ba Lan.
Theo một tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Wilson Center mà BBC News Tiếng Việt vừa tìm hiểu, ông làm đại sứ tại Ba Lan 17 năm liền.
Một số hình ảnh ông Kim Pyong-il cùng con gái Eun Song và con trai In Kang chụp ở Warsaw năm 2007 đã xuất hiện trên mạng Internet.
Các chuyên trang tại Hoa Kỳ theo dõi tình hình Bắc Hàn nói cả hai con ông Pyong-il đều học đại học ở Warsaw và thạo tiếng Ba Lan.
Nhưng nhiệm kỳ quá dài này gây ra đồn đoán rằng trong khi anh cùng cha khác mẹ làm lãnh tụ tối cao ở Bình Nhưỡng, ông "bị đi đày ở sứ quán" một nước châu Âu không phải quan trọng nhất trong quan hệ của Bắc Hàn.
Cùng lúc, có cách giải thích khác, rằng Bắc Hàn rất e ngại chuyển đổi chế độ kiểu Ba Lan năm 1989, nên phải để một người thân thuộc của lãnh đạo cao nhất làm đại sứ.
Tài liệu tại Wilson Center cũng ghi nhận bình luận của giới chức Ba Lan rằng sau chuyến thăm của Đại tướng Wojciech Jaruzelski sang Bình Nhưỡng trước khi Ba Lan chuyển đổi thể chế, hai nước đồng ý hợp tác về an ninh, tình báo.
Những liên hệ này xem ra khó có thể tiến triển sau khi Ba Lan vào khối NATO, nhưng là chỉ dấu Bình Nhưỡng từng rất muốn có quan hệ nhiều hơn với Warsaw để không chỉ phải dựa hoàn toàn vào Moscow hoặc Bắc Kinh.
Sau khi làm đại sứ ở Ba Lan từ 1998 đến 2015, ông Kim Pyong-il sang làm đại sứ ở CH Czech.
Các nguồn tin không được kiểm chứng nói ông bị gọi về Bình Nhưỡng.
Vai trò gì cho Kim Yo-jong?
Sinh năm 1987, từng cùng anh trai Kim Jong-un học ở Thuỵ Sĩ, người phụ nữ này xuất hiện lần đầu trong cuộc bầu cử vào Quốc hội Bắc Hàn năm 2014.
Sau đó, bà trở thành cánh tay phải của Kim Jong-un trong các sứ vụ ngoại giao quan trọng, với Nam Hàn, và có mặt tại Hà Nội tháng 2/2019, cùng anh dự thượng đỉnh Mỹ - Triều.
Leif-Eric Easley, phó giáo sư ngành quan hệ quốc tế tại Đại học Ewha, Seoul được báo Anh trích lời nói:
"Chế độ Bắc Hàn là công việc của một gia tộc (family business), nên Kim Yo-jong đã chứng tỏ năng lực hiện đại hóa 'thương hiệu' của chế độ, và có vẻ như nắm ngành tuyên giáo. Vai trò quan trọng nhất của bà ta là người được anh trai tin tưởng."
Cũng một nhà quan sát khác, Leonid Petrov, từ Sydney, được trang The Guardian ở Anh trích thuật, nói rằng vì được anh trai tin tưởng, bà Kim Yo-jong "giúp Kim Jong-un xây dựng hình ảnh tích cực khi giải quyết các vấn đề quốc tế.
Nhưng việc bà Kim Yo-jong có thể lên thay khi ông Kim Jong-un "có mệnh hệ nào" hay không là câu hỏi khó trả lời.
Các ý kiến từ Hàn Quốc tin rằng Bắc Hàn là một xã hội trọng nam, bà Kim Yong-jo cùng lắm chỉ có thể làm lãnh đạo tạm quyền chứ không thể lên nắm chức vụ cao nhất nước một khi Kim Jong-un không đủ sức khoẻ hoặc qua đời.
Suk Ho-shin, viết trong bài 'Can Kim Yo Jong become successor of Kim Jong Un?' trên báo Donga-Ilbo ở Seoul (17/04/2020) cho rằng em gái Kim Jong-un đã đảm nhận các trọng trách như là đặc sứ với miền Năm từ 2018, và gần đây là chỉ đạo chống dịch Covid-19.
Bà không chỉ là em gái Kim Jong-un, và có thể đã xây dựng được phe cánh quyền lực trong hệ thống.
Nhưng để một phụ nữ trẻ lên nắm quyền trong cơ chế quyền lực Khổng giáo, trọng nam khinh nữ, xem ra không đơn giản, và mọi việc cũng phải được giới cầm quyền nhiều tướng lĩnh ở Bắc Hàn đồng ý.
Kim Jong-chol cũng 'bệnh tật rồi'?
Một người nữa thuộc dòng máu 'Núi Bạch Đầu' (Paektu) của Kim Il-sung (Kim Nhật Thành) là Kim Jong-chol, anh trai Kim Jong-un.
Người này vốn thích âm nhạc, từng lên kế hoạch mời Eric Clapton tới biểu diễn ở Bình Nhưỡng và ít quan tâm đến chính trị.
Chưa kể, theo Barbara Demick viết trên The New Yorker gần đây, Kim Jong-chol "có vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng", và từng bị cha chê là "giống con gái" (girly). Khả năng một người như vậy lên thống lĩnh quân đội Bắc Triều Tiên có thể khó được các nguyên soái, tướng tá nước này chấp nhận.
Những nhân vật ngoài gia tộc Kim?
Nếu tình hình sức khoẻ của ông Kim Jong-un xấu đi và việc chọn ra người kế vị trong dòng họ Kim không đạt, nguy cơ tranh giành quyền lực nổ ra, theo giới quan sát.
Các vụ thanh trừng kinh khủng đã xảy ra trước khi Kim Jong-un lên nắm toàn quyền năm 2012, sau khi cha ông, Kim Chính Nhất qua đời năm 2011.