Friday, June 12, 2015

Trung Quốc Mạnh Hay Yếu?



Trung Quốc Mạnh Hay Yếu?
Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2015-06-10

NGHE:
http://www.rfa.org/vietnamese/programs/EconomicForum/strength-n-vulnerabili-of-china-06102015055152.html/06102015-strength-n-vulnerabili-of-china.mp3

ĐỌC:
Khi theo dõi tình hình Trung Quốc, người ta thấy một nghịch lý. Từ vài năm nay, giới kinh tế bắt đầu nói đến nỗi khó khăn của lãnh đạo kinh tế Trung Quốc sau giai đoạn tăng trưởng huy hoàng là bình quân 9% một năm trong 34 năm liên tục và nay đến lúc phải cải cách để khỏi rơi vào cái bẫy xập của một nước có lợi tức trung bình. Nhưng ngược lại, nhiều nhà nghiên cứu về chiến lược thì nêu vấn đề về sức bành trướng cả thương mại lẫn quân sự của Bắc Kinh khiến các lân bang đều lo ngại. Như vậy thì Trung Quốc mạnh hay yếu? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện này qua phần trao đổi của Nguyên Lam với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa....
Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, dường như “Con Đường Tơ Lụa Mới” và “Bạch Thư Quốc Phòng” của Bắc Kinh là hai mặt trái ngược của Trung Quốc. Một đằng là hứa hẹn hợp tác toàn cầu, từ Á Châu sang Trung Đông, Âu Châu, Phi Châu qua các dự án xây dựng hạ tầng được các ngân hàng của Bắc Kinh tài trợ. Đằng kia là hành vi bành trướng trên nhiều khu vực có tranh chấp về chủ quyền, lại được bảo vệ bằng sức mạnh quân sự chưa từng có của Trung Quốc. Thuần về kinh tế cũng vậy, giới chuyên gia nói đến khó khăn của lãnh đạo Bắc Kinh sau một giai đoạn tăng trưởng ngoạn mục và nay chất lên một núi nợ có thể sụp đổ, vậy mà từ vài năm nay một số học giả về chiến lược lại nói về mối nguy xuất phát từ Trung Quốc cho an ninh của nhiều nước lân bang tại Đông Á. Nếu như vậy, thưa ông, Trung Quốc mạnh hay yếu?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng để có giải đáp cho câu hỏi ấy ta cần nhớ đến quy luật là mọi mô thức kinh tế đều chỉ có hy vọng dự báo chính xác nếu có sự đóng góp của bộ môn “kinh tế sử”. Thiếu tầm nhìn về lịch sử thì các phương trình kinh tế đều chỉ có giá trị hạn chế.
- Về Trung Quốc thì sau gần 200 năm loạn lạc vì ngoại xâm lẫn nội chiến, một xã hội hơn một tỷ dân đã có ba chục năm yên lành để làm ăn kể từ 1979, thì kinh tế Trung Quốc tất nhiên có một đà tăng trưởng cao chưa từng thấy. Nhiều quốc gia khác cũng từng có cơ hội tương tự mà với dân số thấp hơn nên ít được thiên hạ chú ý. Trong ba thập niên đó, vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn cách nay 26 năm vào ngày bốn Tháng Sáu năm 1989, khởi đi từ phong trào quần chúng phản đối nạn lạm phát và tham nhũng đã bị thế giới lãng quên nhưng vẫn hằn in trong tư duy của lãnh đạo xứ này. Họ rất sợ nguy cơ động loạn và dù biết là sau mấy chục năm tăng trưởng thiếu phẩm chất, họ phải cải cách để chuyển hướng qua một hình thái tăng trưởng khác nhưng vẫn rất thận trọng. Đấy là một đặc tính người ta nên nhớ khi luận bàn về sự mạnh yếu của Trung Quốc.
Nguyên Lam: Ông nêu ra vài ba vấn đề về thời gian lẫn không gian để nhắc đến mô hình kinh tế Trung Quốc trong đó yếu tố chính trị lại giữ ví trí then chốt, tại sao vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãnh đạo Bắc Kinh không phát minh ra điều gì mới, nhưng họ có trí nhớ. Từ kinh nghiệm Đông Á của các nước như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan và cả Singapore, mô hình Trung Quốc có đặc tính riêng là hệ thống chính trị giữ vị trí điều tiết thị trường. Nhà nước dùng quy luật tư bản để củng cố sức mạnh của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của một đảng độc quyền.
- Thuần về kinh tế và nhờ định hướng chính trị ấy, tăng trưởng của Trung Quốc xuất phát từ hai lực đẩy là tăng đầu tư và giảm tiêu thụ. Nhà nước giữ vai trò thắt lưng buộc bụng, nhưng thắt ai và buộc ai là quyết định của lãnh đạo. Khi đầu tư nhiều để nâng sản lượng cho một thị trường nội địa không được tiêu thụ như ý thì nhà nước đẩy mạnh xuất cảng và độc quyền thu về ngoại tệ nên có khối dự trữ mấp mé bốn ngàn tỷ đô la để có thể bành trướng ảnh hưởng với thiên hạ.
- Thế giới cứ ngợi ca “phép lạ kinh tế” Trung Quốc mà ít thấy khái niệm "tăng đầu tư" và "giảm tiêu thụ" có nghĩa là nhà nước trưng thu tiết kiệm rất nhiều và rẻ của dân để đưa vào sản xuất. Nếu Tần Thủy Hoàng Đế mà có truyền thông quốc tế ở chung quanh thì Vạn Lý Trường Thành ở miền Bắc hay kinh đào Linh Cư tại miền Nam cũng được coi là sự kỳ diệu vì giải quyết được nạn thất nghiệp cho một dân số qúa đông! Người ta thấy ra cái "được" mà khó đếm được cái "mất" - như ô nhiễm môi sinh, tham nhũng hay bất công xã hội, là các vấn đề đang ám ảnh lãnh đạo xứ này.
Nguyên Lam: Thưa ông, khi nhắc đến yếu tố lịch sử gần xa thì ta có thể nhớ tới biến cố 2008-2009 rất gần đây là khi kinh tế thế giới bị suy trầm, xuất cảng của Trung Quốc sút giảm thì Bắc Kinh bơm tiền kích thích để vẫn duy trì đà sản xuất cũ. Việc bơm tiền qua ngả tín dụng, chủ yếu là qua hệ thống ngân hàng của nhà nước, đã đẩy kinh tế vượt qua Nhật Bản năm 2010, do đó người ta mới có ấn tượng rằng Trung Quốc rất mạnh về kinh tế, nhưng phải chăng mặt trái cùa sức mạnh ấy là một núi nợ được ước lượng vào khoảng 282% của Tổng sản lượng xứ này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta đều có thể hiểu thiên hạ vay tiền để đầu tư, khi thấy đầu tư có lời cao thì vay thêm để đầu cơ, là kiếm lời lớn hơn trong ngắn hạn nhưng với rủi ro cao hơn. Khi dàn máy bơm tiền lại thuộc về nhà nước, do tay chân nhà nước điều tiết theo diện chính sách mà bất chấp quy luật thị trường thì đằng sau nạn đầu cơ chỉ là "lạm dụng tín dụng". Tức là tay chân nhà nước và thân tộc mở canh bạc theo kiểu tháp ảo làm kinh tế bốc như trái bóng bay, hay bọt xà bông. Ngày nay, nạn đầu cơ địa ốc thổi giá đất đai của nhiều tỉnh thành Trung Quốc chả khác gì Nhật Bản trước khi Nhật bị bể bóng năm 1990 và trôi vào hai chục năm suy trầm. Ở bên dưới trái bóng Trung Quốc là bộ máy sản xuất dư dôi ế ẩm, chưa sử dụng hết 60% công xuất, nằm bên núi nợ xấu sẽ sụp khi bóng bể. Lãnh đạo Bắc Kinh có hiểu ra mối nguy ấy nên muốn tránh và tìm cách dồn sức đầu tư ra ngoài. Các dự án họ trù tính thực hiện ở nơi khác nằm trong chiều hướng phân mỏng rủi ro mà gia tăng thế lực trong khi vẫn muốn nắm dao đằng chuôi.
Nguyên Lam: Có lẽ hiểu ra mối nguy ấy nên thế hệ thứ năm lên lãnh đạo sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012 quyết định chuyển hướng. Một năm sau, Tháng 11 năm 2013, Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ ba của khóa 18 đề ra phương hướng cải cách và chấp nhận một đà tăng trưởng thấp hơn. Thay vì 9-10% thì quãng 7,5% cũng là được. Có thể là Bắc Kinh biết rằng phải giảm tốc độ cho cỗ xe khỏi lật khi vào khúc quanh. Nhưng vì sao mà ngày nay họ vẫn đề ra chỉ tiêu tăng trưởng là hơn 7% một năm trong khi giới quan sát kinh tế hay các định chế tài chính quốc tế đều cho rằng Trung Quốc khó đạt mức tăng trưởng như vậy và nếu không khéo thì kinh tế sẽ hạ cánh nặng nề chứ không nhẹ nhàng như lãnh đạo Bắc Kinh mong muốn?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Bắc Kinh tính cải cách với ý thức cao về chính trị và có chuẩn bị về tổ chức. Nhưng sau 30 năm thì phép lạ kinh tế cũng sinh ra nhiều bệnh lạ. Hệ thống tài chánh ngân hàng Trung Quốc có nhiều lệch lạc tích lũy từ lâu, kết tụ thành mạng lưới chằng chịt ở mọi cấp hành chính, từ trung ương tới từng địa phương, với thế lực rất lớn của các đảng viên. Những mắc mứu về quyền lợi, trong đó nạn nhũng lạm, tức là tham nhũng và lạm dụng, không chỉ cản trở mà còn phá hoại chỉ thị của trung ương. Việc bơm tiền hay phân phối tài nguyên qua nhiều ngả mờ ám như ngân hàng chui vẫn tiếp tục chất lên một núi nợ mà chúng ta trình bày trong một kỳ trước. Vì vậy, lãnh đạo xứ này phải tập trung lại quyền lực về trung ương qua chiến dịch diệt trừ tham nhũng và vận động hậu thuẫn của quần chúng lẫn quân đội bằng những động thái mang tính chất bành trướng đối với các nước lân bang.
Nguyên Lam: Theo cách đánh giá của ông thì phải chăng việc Bắc Kinh xây đảo nhân tạo tại vùng biển Đông Nam Á và công bố Sách Trắng về Quốc Phòng cũng còn có chủ đích trấn an hay tranh thủ dư luận ở ngay bên trong Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi lãnh đạo Bắc Kinh nói đến yêu cầu chuyển hướng quân sự theo tinh thần gọi là “chủ động phòng thủ” thì khái niệm phòng thủ đó bao trùm lên chính trường nội địa! Khi các quốc gia khác báo động về mối nguy của Trung Quốc thì Bắc Kinh càng yên tâm rằng thần dân bên trong thêm hãnh diện về thế lực của quốc gia trên trường quốc tế mà bớt phàn nàn về chuyện kinh tế. Ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh lấy nhiều rủi ro về đối ngoại và gây vấn đề cho lân bang khiến các đề nghị hợp tác và xây dựng của họ trong kế hoạch Con Đường Tơ Lụa, họ gọi là “Nhất Đai Nhất Lộ” lại mất dần sự hấp dẫn về kinh tế khi cân nhắc với rủi ro về an ninh. Đấy cũng là khía cạnh khác về chuyện mạnh yếu của Trung Quốc khi ta đối chiếu với nỗ lực đầu tư và viện trợ tương tự của Nhật Bản tại Đông Á. Nhiều nước Đông Nam Á không sợ Nhật Bản mà e ngại Trung Quốc và đấy không là một thế mạnh của Bắc Kinh.
Nguyên Lam: Nếu tổng kết lại, thưa ông có phải Trung Quốc đang gặp nhiều vấn đề kinh tế ở bên trong mà lãnh đạo muốn khỏa lấp bằng kế hoạch quy mô với bên ngoài và vì vậy lại gây cảm giác bất an cho các nước?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng về kinh tế, lãnh đạo Bắc Kinh cần đạp thắng để đổi hướng, rồi sợ tăng trưởng giảm làm thất nghiệp tăng và bị động loạn nên lại ngầm bơm tiền kích thích qua nhiều kênh mà họ biết là thiếu an toàn. Năm ngoái, họ thử nghiệm biện pháp bơm tiền tinh tế hơn, không qua ngả tín dụng ngân hàng đầy rủi ro mà qua việc ngân hàng trung ương mua lại trái phiếu của một số khu vực nhất định, như công khố phiếu ở các địa phương miền Tây, miền Trung, hay trái phiếu hỏa xa, gia cư hay ngân hàng. Năm nay thì họ vừa cho phép đảo nợ tại một số tỉnh, tức là cũng thi hành biện pháp bất thường các nước Tây phương đã áp dụng, là "quantitative easing", là tăng mức lưu hoạt có định lượng. Đâm ra Trung Quốc chưa thể hãm đà tăng trưởng để tìm ra thế quân bình bền vững hơn, với tiêu thụ nội địa mới là lực đẩy.
- Vì chưa thể cải cách được, lãnh đạo Bắc Kinh phô diễn sức mạnh quân sự với bên ngoài và nghĩ là vì các nước e ngại rủi ro đụng độ nên sẽ nhượng bộ yêu sách của họ. Chúng ta có thể gọi đó là “Hội chứng Vương An Thạch” là khi Tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch tiến hành việc cải cách mà thời đó gọi là “biến pháp”. Vì sự cưỡng chống của phe bảo thủ bên trong, họ Vương đi tìm thắng lợi quân sự ở bên ngoài qua quyết định tấn công Việt Nam vào năm 1075. Nào ngờ quân Tống đại bại dưới tay Thái úy Lý Thường Kiệt, Vương An Thạch mất chức và chuyện biến pháp cũng thành nước lã ra sông. Việt Nam ngày nay không được như đời Lý ngày xưa nhưng thế giới ngày nay không chỉ có Trung Quốc với Việt Nam - và rủi ro cho Trung Quốc là chuyện có thật vì họ chưa hùng mà đã đòi hung.
Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phỏng vấn lý thú này.
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/EconomicForum/strength-n-vulnerabili-of-china-06102015055152.html

Wednesday, June 10, 2015

Chuyện về một cô gái



Chuyện về một cô gái
Trần Đặng
Tôi vẫn thường lân la đến các trụ sở Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh, chỉ để xem lịch xét xử trong tuần, trong tháng. Mục đích của tôi là tìm một vài để tài để viết cho một tờ báo tỉnh lẻ. Một lần, tôi trông thấy một thanh niên. Nhìn sơ qua là biết anh đã bị viêm màng não từ thuở nhỏ. Cặp mắt anh vô hồn, miệng mấp máy những câu vô nghĩa và tay chân cứ động đậy vô thức. Anh ngồi trên chiếc xe lăn, do một người đàn bà có đôi mắt ti hí đẩy đi. Hỏi người thư ký phiên tòa mới biết. Anh là người Đài Loan, đến Tòa để tham dự phiên xét xử vụ ly hôn giữa anh và vợ, một cô gái Việt Nam.
Tôi thắc mắc:
- Luật pháp Việt Nam đâu cho phép người tâm thần kết hôn. Hơn nữa, đây là một vụ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, phải do Chủ tịch UBND tỉnh ký giấy kết hôn mới hợp pháp. Vậy mà tại sao...
Bà thư ký phiên tòa lườm tôi một cái sắc lẻm để ngắt ngang câu hỏi, rồi buông ra một câu nói rất lạnh lùng.
- Chuyện đó là do cấp trên quyết, ông là nhà báo nên giữ mồm giữ miệng.
Tôi chợt nhớ tới câu nói của ông Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách Ban Tuyên Giáo: "Không phải sự thật nào cũng viết báo". Nên tôi biết phải làm gì để không làm cho "bầu trời chính trị ở Việt Nam không trở nên xám xịt". Nhưng tôi vẫn tò mò vì sao họ phải ly hôn, nên bước vào phòng xử án để dự khán.
Cô vợ tên là Mai (tôi đã đổi tên thật của cô ta, để tôn trọng vong hồn của một người đã khuất). Số phận Mai giống như nàng Kiều của thời đại năm 2000. Nhà nghèo, Mai phải đi lấy một người chồng nước ngoài, để cho gia đình được đổi đời. Cho dù biết rất rõ, người chồng tương lai đang sống như một người điên dại và hoàn toàn bất lực về sinh lý. Vai trò của Mai ở xứ người không khác gì một bảo mẫu chăm sóc người bệnh tâm thần.
Tôi nhìn Mai đang đứng gần người chồng cứ lắc lư cái đầu, hai bàn tay cà kheo của anh ta hết giơ tên trời, rồi lại chỉ xuống đất. Hai con ngươi trong đôi mắt vô thần mắt hết lác (lé) ra ngoài, sau đó chụm vào gần nhau một cách tài tình đến mức người bình thường không thể nào bắt chước được. Trong khi đó, Mai - một cô gái có thân hình nhỏ nhắn, một gương mặt trái xoan, nước da bánh mật. Đó là vẻ đẹp "hương đồng gió nội" của các cô gái vùng sông nước Miền Tây Nam bộ.
Hồi nhỏ, tôi vẫn thường hay nghe mẹ tôi hát ru cho em tôi ngủ:
Ầu ơ... má ơi đừng gả con xa.
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?!
Còn đối với cụ Nguyễn Du trong câu chuyện Đoạn Trường Tân Thanh, ngay từ những câu dạo đầu cũng phải thốt lên.
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Nét đẹp của Mai không qua nổi cặp mắt tinh đời của cha chồng. Ông biết rằng đứa con tật nguyền của mình không thể nào thực hiện chức năng của người chồng. Vì thế, ông lén lút vào phòng con dâu để không hoài của. Còn Mai phải âm thầm chịu đựng để cứu cái gia đình túng thiếu ở quê nhà xa tít.
Một hôm, người mẹ chồng của Mai bất ngờ vào phòng con trai và tận mắt chứng kiến cái cảnh cha chồng nàng dâu trên giường trong tư thế không một mảnh vải che thân. Bà đã nổi điên.
Phiên tòa xử vụ ly hôn lần đó là theo kế hoạch của bà mẹ chồng. Một là để cắt đứt mối quan hệ loạn luân của cha chồng nàng dâu, hai là đuổi cổ con đĩ về Việt Nam mà không phải phân chia tài sản.
* * *
Như thường lệ, tôi vẫn lân la đến các trụ sở Tòa án để săn tin. Được biết tại xã X, một xã giáp biên với Canpuchia sắp đưa ra xét xử một vụ án "Lây truyền HIV cho người khác" theo Điều 117 của Bộ Luật hình sự.
Đến nơi, tôi tá hỏa vì người đứng trước vành móng ngựa lại là Mai.
Sau khi ly dị chồng, cô không dám về nhà vì sợ tai tiếng. Cô đành phải lên vùng biên giới để hành nghề bán bia ôm, kiêm luôn nghề bán dâm. Người mua dâm thường là những người bên kia biên giới. Nghề này đôi khi cũng túng thiếu, nên thỉnh thoảng Mai về tỉnh, vào bệnh viện để bán máu.
Một ngày kia, sau khi xét nghiệm máu, người ta đã thông báo cho Mai biết: Cô đã bị nhiễm HIV. Chán đời, cô sử dụng cái vốn trời cho của mình một cách hợt, buông thả: Một chầu nhậu cũng cho, một bát phở cũng cho, thậm chí cho không chỉ vì ông ấy có chức có quyền ở địa phương.
Tại phiên tòa, trong phần thẩm vấn, vị Hội thẩm nhân dân đặt ra một câu hỏi hết sức ngu ngốc:
- Tại sao bị cáo biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn có tình lây nhiễm cho người khác, trong đó có cả đảng viên, cán bộ xã ấp?
Thế là Mai bị tuyên án 5 năm tù. Có lẽ cô cũng không buồn vì án này vẫn còn nhẹ so với án tử đang treo lơ lửng trên đầu cô bởi triệu chứng căn bệnh SIDA ngày càng rõ dần.
* * *
Mấy năm sau.
Tôi về Bạc Liêu và được mấy anh bạn đồng nghiệp thết đãi ở Nhà hàng công tử Bạc Liêu.
Một đám ma buồn ngang qua. Mấy ông bạn nhanh nhảu, chứng tỏ thạo tin.
- Chết vì SIDA đó! Hồi trước gia đình, giòng họ bà này giàu lắm, địa chủ mà! Cháu ba đời của công tử Bạc Liêu. Sau giải phóng, ông già của bà này là trung úy lính Sài Gòn, phải đi học tập cải tạo, rồi chết trong rừng. Mấy chục mẫu ruộng bị nhà nước tịch thu trong đợt cải tạo nông nghiệp ở Miền Nam. Thành ra, đang giàu trở thành nghèo rớt mùng tơi. Nghe lời thiên hạ! Bả lấy một thằng khùng ở Đài Loan để có ba ngàn đô cứu cái gia cảnh đang lâm vô cảnh bần cùng.
Tôi chợt bán tín, bán nghi lao ra xem cái cảnh đưa đám ma. Di ảnh người chết rõ ràng là Mai.
Tôi lặng người một lát. Sau đó tôi quay vô đám nhậu và uống nhiều đến mức mấy thằng bạn đồng nghiệp phải bái sư.
* * *
Tổng Biên tập mời tôi lên phòng ông và trả lại bản thảo. Mắt ông đo đỏ, ươn ướt:
- Bài này không đăng được, anh hiểu rồi đó!
Tôi vác bản thảo về nhà để lên bàn, rồi thắp một nén hương. Đợi cho nhang tàn, tôi đốt bản thảo và lầm thầm mấy câu:
- Mai ơi! Đây chỉ là một chút lòng thành với em. Ở suối vàng, mong em thảnh thơi. Mai mốt có đầu thai, em nên chọn những gia đình có công với cách mạng để mà sinh ra. Còn anh, chỉ làm bổn phận của một người cầm bút.
Một thời gian sau, tôi trả Thẻ nhà báo, trả thẻ hội viên Hội nhà báo để cho lòng được thanh thản.
TRẦN ĐẶNG
https://www.danluan.org/tin-tuc/20150514/ky

Bán Thân Mua Phiếu



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày150608
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"

Nền Dân Chủ Của Hoa Kỳ Có Vấn Đề

Trong năm tới, Hoa Kỳ có bầu cử tổng thống và cuộc tranh cử khởi sự rất sớm trong cả hai đảng chính là Dân Chủ và Cộng Hòa.

Bên đảng Dân Chủ, cựu Ngoại trưởng Hillay Clinton là ngôi sao sáng nhất mà lu mờ dần vì những tai tiếng về chuyện hối mại quyền thế. Nôm na là để tiền bạc chi phối quyết định chính trị khi Hillary cầm đầu ngành ngoại giao của quốc gia. Chúng ta sẽ có dịp theo dõi xem truyền thông xử lý chuyện này ra sao, có ráo riết và triệt để như với một ứng cử viên Cộng Hòa hay chăng? Cũng bên đảng Dân Chủ, chi tiết đáng chú ý lần này là trường hợp Nghị sĩ Bernie Sanders, một ứng cử viên công khai xác nhận chủ trương xây dựng “xã hội chủ nghĩa”, là danh hiệu trước đây ai cũng tránh vì gây liên tưởng đến chủ nghĩa cộng sản. Bây giờ, nước Mỹ có vẻ chấp nhận tinh thần ấy vì ngoài ông Sanders, Nghị sĩ Elizabeth Warren cũng trình bày nhiều lý luận cực tả tưởng như đã trở thành lỗi thời từ nửa thế kỷ về trước.

Một cuộc thăm dò dân ý gần đây của tờ Wall Street Journal tiến hành cùng hệ thống truyền hình NBC có thể giải thích xu hướng thiên về cánh tả của xã hội Hoa Kỳ.

Qua ba cuộc khảo sát ý kiến của người ghi danh bầu cử, số người tự xưng là thiên tả có tăng từ 23% lên 26% so với năm ngoái. Dù không nhiều vì chỉ ở khoảng một phần tư thì cũng đáng lưu ý. Trong khi đó, số người xưng danh bảo thủ thì giảm từ 37% xuống 33%.

Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra sự chuyển dịch qua cánh tả xuất phát từ năm thành phần sau đây. Trước hết là phụ nữ, mạnh nhất trong lứa tuổi 18-49, kế đó thành phần thanh niên ở lớp tuổi 18-34, rồi tới thành phần thiểu số Latino và đặc biệt là trong thành phần có học của xã hội, tại các tiểu bang miền Tây và các thành phố. Ngoại trừ giới Latino, sự chuyển dịch quan điểm qua cánh tả chủ yếu xuất hiện từ những người sẽ có ảnh hưởng đến tương lai vì trẻ tuổi và có học.

Đây là tin mừng cho đảng Dân Chủ, mà là bài toán cho đảng Cộng Hòa.

Bên Cộng Hòa, các chuẩn ứng cử viên theo nhau xuất hiện tới hơn một tá, và có thói quen tự sát cao độ: ráo riết đả kích nhau về nhiều chuyện phụ mà chưa đề nghị chương trình hành động gì cụ thể cho nước Mỹ trong tương lai. Có lẽ chúng ta phải đợi tới sang năm sau khi vòng sơ bộ loại bớt một số ứng viên chỉ đáng ngồi chầu rìa.

Từ nay đến đó người ta có thể nhìn ra nhiều nhược điểm của nền dân chủ Hoa Kỳ.


*


Trước hết, ngược với quan điểm của nhiều người ở xa, Tổng thống Mỹ không có toàn quyền hành động trong lãnh vực nội chính. Lãnh đạo Hành pháp bị Tối cao Pháp viện chi phối và phải chia quyền với lưỡng viện Quốc hội cùng Thống đốc các tiểu bang.

Lãnh vực tương đối thoải mái cho tổng thống là đối ngoại, tương đối thôi, như ta có thể thấy nỗi gian lao của Tổng thống Barack Oabama khi vận động Quốc hội biểu duyết dự luật TPA về thủ tục thương thuyết các hiệp ước ngoại thương như TPP hay T-TIP. Trước những sáng kiến dồn dập của Trung Quốc và mối nguy gia tăng ngoài Đông hải, những cản trở của Quốc hội Mỹ về Hiệp ước Xuyên Thái Bình dương TPP là một món quà cho Bắc Kinh.

Nhìn từ bên ngoài, ta sẽ có dịp kiểm chứng chuyện này qua kỳ họp vào cuối Tháng Sáu giữa Ngoại trưởng John Kerry và Tổng trưởng Ngân khố Jack Lew với hai người tương nhiệm của Bắc Kinh là Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì và Phó Thủ tướng Uông Dương, rồi qua Thượng đỉnh vào Tháng Chín tới đây giữa Tổng thống Obama với Chủ tịch Tập Cận Bình.

Nhưng năm tới, Hoa Kỳ cũng có bầu cử Quốc hội và đây là điều còn đáng chú ý hơn vì 1) Lập pháp có nhiều quyền hạn về nội chính hơn Hành pháp, 2) vì sự chuyển dịch tư tưởng qua cánh tả và 3) nhất là vì ưu tiên của các ứng viên tranh cử chức Dân biểu và Nghị sĩ là được tái đắc cử.

Vì cần tái đắc cử, các dân biểu nghị sĩ ít khi hướng dẫn công luận về những điều hệ trọng cho nước Mỹ trong trường kỳ mà chỉ bọc xuôi theo dư luận tại địa phương để tìm thành tích ngắn hạn. Tình trạng này kéo dài quá lâu đã biến các chính khách Mỹ thành người bán thân mua phiếu.

Trước hết, họ mua phiếu và thanh toán bằng công quỹ nên ngân sách liên bang bị bội chi ngày một nhiều, số người lãnh an sinh xã hội ngày một cao và hiện tượng bao cấp làm suy giảm sức mạnh kinh tế. Khi dư luận chuyển sang cánh tả và khoảng cách giàu nghèo gia tăng thì xã hội Mỹ càng trôi vào nạn bao cấp, với nhà nước đảm nhiệm vai trò vú em bằng tiền thuế của người khác.

Hậu quả thứ hai của nạn bán thân mua phiếu là nền dân chủ làm các chính khách chỉ lo chuyện ngắn hạn, khó có viễn kiến trường kỳ và càng không dám lấy quyết định khắc khổ là hy sinh trong  ngắn hạn để có sự thịnh vượng trong lâu dài. Các ứng cử viên đều xin phiếu bằng cách chứng minh cho cử tri những gì cử tri “được” ngay trước mắt và khỏi nhắc đến cái “mất” trong dài hạn cho cử tri hay cho thành phần khác.

Hậu quả thứ ba là gây phân hóa trong xã hội do tinh thần tranh giành quyền lợi. Dựa trên lý luận nhuốm mùi đấu tranh giai cấp hoặc theo khẩu hiệu “lấy của người giàu cho người nghèo”, các chính khách tạo ra phản ứng tâm lý trong đa số quần chúng là “lấy cho bõ ghét”. Phản ứng này khiến nhiều người cho rằng việc được hưởng phúc lợi xã hội là điều khôn ngoan và chính đáng, hơn là tự cố gắng cho tương lai. Thay vì nghĩ đến việc sản xuất ra một cái bánh to hơn, người ta giành nhau phần hơn của một cái bánh ngày càng nhỏ đi.

Bất ngờ hơn cả là nạn bán thân mua phiếu lại gây tác dụng ngược là làm đa số bị thiệt hại. Khi tranh thủ lá phiếu của một thành phần cử tri của mình tại địa phương, các dân biểu nghị sĩ thường  lấy tài nguyên ngân sách để tái phân lợi tức mà bất kể tới hậu quả cho các thành phần khác. Cho dù các thành phần kia có thấy là bị thiệt hại thì kết quả cũng không nhiều, gần như không đáng để ráo riết phản đối. Nhưng hậu quả tích lũy thật ra lại trầm trọng hơn vậy. Một thí dụ là đạo luật về nông sản, Farm Bill, đem lại lợi ích cho thiểu số nông gia nhưng cái giá phải trả thì tỏa rộng cho đa số còn lại, trong đó cũng có dân nghèo.

Nhân loại đã bị hai tai họa trong thế kỷ 20 là chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít, cả hai đều xuất phát từ xã hội chủ nghĩa và dẫn tới ách độc tài. Khi chủ nghĩa cộng sản phá sản cùng sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào năm 1991, người ta lạc quan kết luận là kinh tế thị trường và chính trị dân chủ đã thắng thế, và gọi đó là “sự cáo chung của lịch sử”. Nào ngờ là một thế hệ sau, tư tưởng xã hội chủ nghĩa lại tái xuất hiện và đang trở thành thời thượng, ăn khách.

Hiện tượng “bán thân mua phiếu” trên chính trường sẽ dẫn Hoa Kỳ tới con dốc nguy hiểm của Âu Châu trong thế kỷ trước.

_______

Chuyện chỉ xảy ra tại nước Mỹ


Tờ Washington Free Beacon vừa tiết lộ rằng năm 2008 sáng viện “Clinton Family Foundation” đã tặng một trăm ngàn đô la cho quỹ từ thiện “Neediest Cases Fund” của nhật báo The New York Times. Năm đó tờ Times bèn bỏ rơi Nghị sĩ Barack Obama mà ủng hộ Nghị sĩ Hillary Clinton trong cuộc tranh cử tổng thống bên đảng Dân Chủ. Phải chăng, đấy là một biểu hiện của nạn bán thân mua phiếu?

Nguồn: http://dainamaxtribune.blogspot.com/