Thursday, April 9, 2015

'Hạn chế' trong quan hệ Việt - Nga



'Hạn chế' trong quan hệ Việt - Nga
Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev có chuyến thăm Việt Nam từ 5 đến 7/4 nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.
Do quan hệ hữu nghị truyền thống với Liên Xô trước đây, Việt Nam là đối tác đặc biệt của Nga tại châu Á.
Mặt khác, Trung Quốc giữ vai trò quan trọng trong chính sách châu Á của Moscow.
BBC có cuộc phỏng vấn với Tiến sĩ Marcin Kaczmarski, từ Viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Warsaw, Ba Lan, về những tính toán trong chính sách châu Á của Nga.
BBC:Ông từng viết chính sách châu Á của Nga đặt trọng tâm vào Trung Quốc. Điều này còn đúng không, và nó đặt ra vấn đề gì cho Việt Nam nếu xảy ra xung đột với Trung Quốc?
Tiến sĩ Marcin Kaczmarski: Nga đã cố gắng giảm bớt ưu tiên cho Trung Quốc trong chính sách châu Á của họ, nhưng kết quả chỉ hạn chế. Sau khi không thể làm lành với Nhật Bản, đối tác duy nhất của Nga, ngoài Trung Quốc, chỉ còn Việt Nam.
Quan hệ giữa Nga và Việt Nam cũng có những hạn chế rõ rệt. Có lẽ Nga sẽ chỉ giữ lập trường trung lập nếu Việt – Trung có xung đột, giống như họ im lặng khi hai nước căng thẳng trên Biển Đông hồi năm ngoái. Còn Việt Nam, theo tôi hiểu, thì cũng từ chối không cho hải quân Nga được có căn cứ tại Cam Ranh.
BBC:Nga là nhà cung cấp vũ khí chính cho Việt Nam, và đồng thời cũng bán cho Trung Quốc. Liệu có thể nghi ngờ Trung Quốc yêu cầu Nga không bán vũ khí tốt nhất cho Việt Nam?
Nga thường bán vũ khí cho mọi bên như trường hợp Armenia và Azerbaijan. Khu vực công nghiệp-quân sự vận động cho lợi ích kinh tế và quyền lợi của họ bất kể các cân nhắc chiến lược.
Thủ tướng hai nước tỏ ra thân thiết
Tôi dự đoán năm nay Nga sẽ bán cho Trung Quốc máy bay Su-35 và có thể là tàu ngầm hiện đại hơn loại bán cho Việt Nam. Nhưng đồng thời, tôi không cho rằng Nga lại nghe lời Trung Quốc yêu cầu được phép bán cái gì cho ai.
BBC:Trong chuyến thăm Hà Nội tuần này, Thủ tướng Dmitry Medvedev nói Việt Nam sắp sửa gia nhập Liên minh Kinh tế Á Âu (EEU) do Nga dẫn đầu. Theo ông, điều này có tốt cho Việt Nam?
Với Nga, EEU là chính trị, không phải kinh tế. Thỏa thuận thương mại tự do với Việt Nam sẽ nhằm chứng tỏ sáng kiến của Nga không chỉ hạn chế trong khu vực hậu Liên Xô.
Tôi không thấy có lợi ích đặc biệt nào cho Việt Nam. Kinh nghiệm của các đối tác của Nga trong EEU, như Belarus, Kazakhstan và Armenia, cho thấy Moscow sẵn sàng đơn phương thay đổi quy tắc nếu cần. Không có gì bảo đảm cho Việt Nam rằng thỏa thuận trong EEU sẽ khác thói quen này.
BBC:Có những ý kiến ở Việt Nam và Mỹ kêu gọi hai nước xích lại gần hơn do sự “cứng rắn” của Trung Quốc. Theo ông, quan điểm của Nga là thế nào?
Quan hệ Mỹ - Việt là một trong những nguyên do khiến Việt Nam không để Nga lập căn cứ ở Cam Ranh. Quan hệ Mỹ - Việt cũng khiến Nga cảm thấy sự cứng rắn của Trung Quốc không hoàn toàn có lợi cho Nga. Bởi vì nó có thể thúc đẩy sự can dự ngoại giao và quân sự của Mỹ trong khu vực.
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/04/150409_russia_vietnam_relations



Bị ngưng lên sóng vì 'xúc phạm Mao'



Bị ngưng lên sóng vì 'xúc phạm Mao'
Ông Tất Phúc Kiếm là một ngôi sao dẫn chương trình tại Trung Quốc
Một người dẫn chương trình nổi tiếng trên truyền hình nhà nước Trung Quốc không được lên sóng sau khi xuất hiện một đoạn video trong đó ông "xúc phạm" Mao Trạch Đông, người sáng lập đất nước Trung Quốc hiện đại.
Video quay cảnh ông Tất Phúc Kiếm hát một bản nhạc chế, trong đó ông nói rằng người Trung Quốc đã phải chịu đựng dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông.
CCTV nói biết bình luận của ông Tất đã có một "tác động xã hội nghiêm trọng", nhưng nhiều người ở Trung Quốc đã biện hộ cho ông.
Mao, người dẫn dắt đất nước Trung Quốc trải qua cuộc Cách mạng Văn hóa và nạn đói khủng khiếp, vốn là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận lịch sử.
Ông Mao nhìn chung vẫn được người dân Trung Quốc nhìn nhận là 70% đúng và 30% sai.
Ông Tất dẫn chương trình giải trí tạp kỹ Năm mới thường niên của kênh CCTV, chương trình được xem nhiều trên thế giới.
Trong video, quay tại một bữa tiệc riêng tư, ông được thấy hát một bài hát từ vở opera thời Mao, "Dùng trí uy hổ sơn".
Nhưng ông đã thay đổi lời bài hát thành "chúng tôi đã phải chịu đựng quá đủ" và gọi Chủ tịch Mao là "chó đẻ", khiến khách khứa bật cười.
Ông Tất đã không được lên sóng trong bốn ngày, theo truyền thông nhà nước.
CCTV đưa ra một tuyên bố nói rằng họ sẽ "xử lý nghiêm vấn đề này theo đúng các quy định có liên quan và dựa trên điều tra cẩn thận".
Tờ The China Digital Times (Thời báo Kỹ thuật số Trung Quốc), chuyên giám sát truyền thông Trung Quốc từ nước ngoài, đưa tin là tất cả các trang web được lệnh phải bỏ video này xuống và "chấm dứt thổi phồng câu chuyện".
Chủ tịch Mao, mà ảnh chân dung được treo tại Quảng trường Thiên An Môn, là đề tài của nhiều cuộc tranh luận.
Chủ tịch Mao Trạch Đông điều hành Trung Quốc từ năm 1945 đến năm 1976, tạo lập một sự sùng bái cá nhân quanh ông ta và gây ra các biến động xã hội đại chúng để tái tạo Trung Quốc.
Ông đưa ra sáng kiến Đại Nhảy Vọt - một cuộc cách mạng công nghiệp, mà kết quả dẫn đến nạn đói lan tràn giết chết hàng chục triệu người - và cuộc Cách mạng Văn hóa, một chiến dịch truy quét các phần tử được xem là có tư tưởng tư sản khiến dẫn đến việc bỏ tù và xử tử hàng loạt, cũng như sự tàn phá trên diện rộng lịch sử văn hóa Trung Quốc.
"Thật thô tục '
Trong khi Trung Quốc chính thức công nhận những lỗi lầm của Mao và tình trạng sùng bái cá nhân đối với ông ta - nhìn chung, ông được xem là 70% tốt và 30% xấu – nhưng ông vẫn hết sức được kính trọng, và xúc phạm ông và các nhà lãnh đạo khác là một điều cấm kỵ.
Di sản của ông cũng đang ngày càng được ưa chuộng trong số những người cảm thấy Trung Quốc đã đi quá xa khỏi các lý tưởng cộng sản của ông.
Các bình luận trên mạng và trên truyền thông được cũng chia rẽ về chuyện liệu ông Tất phải được kỷ luật như thế nào. Một số lập luận rằng ông bị trừng phạt vì ông là người của công chúng và rằng đó là một dấu hiệu của thiếu tự do ngôn luận ở Trung Quốc.
Nhưng nhà văn Thân Nhân Binh của Tờ Nhân dân Nhật báo, thuộc cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản, thì nói bài hát chế của ông Tất là "thật thô tục".
"Nếu những gì ông ta hát thực sự là những gì ông ta nghĩ, thì thật dễ hiểu khi nhiều người đã thất vọng về ông ấy."
Một người dùng mạng xã hội Weibo, theo hãng tin AFP trích dẫn, thì nói: "Ông ấy phải bị trừng phạt, chốt lại là không được xúc phạm người sáng lập Trung Quốc."
Nguồn:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2015/04/150409_china_cctv_presenter_mao_zedong

Cựu Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã: Đồng minh bội ước



Cựu Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã: Đồng minh bội ước
Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-04-09
Cuộc chiến ý thức hệ quốc-cộng ở Việt Nam kết thúc ngày 30/4/1975 với sự chiến thắng của miền bắc cộng sản. Tại sao chế độ VNCH đã đứng vững 21 năm lại nhanh chóng sụp đổ như vậy. Nhân đánh dấu 40 năm ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, Nam Nguyên phỏng vấn ông Hoàng Đức Nhã, cựu tổng trưởng Dân vận Chiêu hồi, cựu bí thư Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để tìm hiểu một số khía cạnh liên quan. Ông Hoàng Đức Nhã 73 tuổi hiện cư trú tại Chicago tiểu bang Illinois Hoa Kỳ.
Nam Nguyên: Cảm ơn ông Hoàng Đức Nhã đồng ý trả lời phỏng vấn  của Đài RFA. Thưa ông sau 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, nhiều tài liệu của Chính phủ Hoa Kỳ đã được giải mật cho thấy Hoa Kỳ đã có ý định không can thiệp vào VNCH nữa từ rất sớm và có mục đích chỉ là để rút lui an toàn. Là người thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ông nhận định gì khi có ý kiến cho là các nhà lãnh đạo và toàn bộ chế độ VNCH bị động, không chuẩn bị việc tự lực cánh sinh hay phải sớm tìm kiếm một con đường khác để VNCH có thể tồn tại.
Ông Hoàng Đức Nhã: Chính quyền của Tổng thống Thiệu lúc đó hiểu rõ mục đích của Tổng thống Nixon, khi ông ta bắt đầu chính sách gọi là “Việt Nam hóa” có nghĩa là Hoa Kỳ rút và hứa sẽ giúp VNCH trên phương diện quân sự và kinh tế để bảo tồn toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng đất nước. Nói chính quyền VNCH lúc đó bị động là hoàn toàn sai, vì mình đã có rất nhiều thành quả. Những người viết sách về Việt Nam không hề đề cập tới khía cạnh này, Đệ nhị Cộng hòa một mặt chống lại xâm lăng Bắc Việt, một mặt xây dựng đất nước, tạo dựng một chế độ pháp trị có quyền tự do cá nhân. Khi tôi đề cập điểm đó cũng là để nói lên là khi chúng ta chống Bắc việt và người đồng minh dần dần rút đi, họ tìm cách thương thuyết và ký kết một hiệp định trên đầu chúng ta, cũng như người Pháp đã làm hồi 1954… lúc đó chính quyền Đệ nhị Cộng hòa quyết định ngồi vào và tìm đủ mọi cách để tạo những điều kiện tối thiểu để chúng ta tiếp tục cuộc tranh đấu để bảo vệ và phát triển đất nước.
Nam Nguyên: Nhưng VNCH không còn nguồn viện trợ nữa, đạn dược vào tháng 3/1975 như Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên có nói là chỉ còn đủ dùng 30 ngày. Tại nhiều bệnh viện vào lúc đó đến bông băng cũng phải giặt đi xài lại…không có viện trợ…người ta nói bị động là không tìm nguồn viện trợ thay thế mà phải chuẩn bị rất là lâu dài mới có thể đương cự được với làn sóng quân cộng sản được Liên Xô, Trung Cộng hỗ trợ rất nhiều và họ đã đánh xuống. Họ nói bị động là như vậy, xin ông có thể làm rõ chỗ này?
Tôi muốn nhấn mạnh rằng Hiệp định Paris 27/1/1973 không phải là tiền đề đưa tới sự sụp đổ của VNCH. Đó là một căn bản để cho người Mỹ rút quân và VNCH với sự giúp đỡ của người Mỹ tiếp tục công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước
Ông Hoàng Đức Nhã: Khi mà chúng ta biết Hoa Kỳ đã rút lui, người đồng minh chính đã tài trợ cho chúng ta và giúp chúng ta rất nhiều. Khi VNCH thấy cần thêm, mình đã gởi mấy phái đoàn đi cầu viện ở mấy quốc gia khác, nhưng không có quốc gia nào thậm chí đến mấy quốc gia đông nam á chỉ nói mồm thôi không bao giờ cho viện trợ quân sự, viện trợ kinh tế không có bao nhiêu, trong khi Liên Xô Trung Cộng giúp đỡ Bắc Việt tích cực. Đó là một thực trạng mà chính quyền VNCH phải đối phó. Ngay cả đối với Hoa Kỳ lúc đó mình biết là không còn sự viện trợ như mấy năm trước. Chúng ta cũng đã đề nghị xin vay, nhưng lúc đó người Hoa Kỳ nhất là chính quyền Nixon bị bối rối và Quốc Hội dưới quyền kiểm soát của Đảng Dân Chủ muốn tránh, muốn chấm dứt các đợt viện trợ.
Nam Nguyên: Hiệp định Paris 27/1/1973 được cho là một tiền đề dẫn tới việc sụp đổ của Nam Việt Nam. Theo ông và trong vai trò của mình là người thân cận của Tổng thống, Bí thư Tổng thống và cựu Tổng trưởng nữa thì ông nghĩ là VNCH sẽ phải đối phó như thế nào, chúng ta đã rút được bài học vừa qua. Tổng thống cũng có nói vào năm 1990 là vì bị lệ thuộc viện trợ mà cuối cùng phải ngồi vào bàn hội đàm. Giả dụ bây giờ lịch sử lập lại, ông nghĩ là VNCH có thể làm gì khác?
Ông Hoàng Đức Nhã: Câu hỏi này rất quan trọng đấy, tôi muốn nhấn mạnh rằng Hiệp định Paris 27/1/1973 không phải là tiền đề đưa tới sự sụp đổ của VNCH. Đó là một căn bản để cho người Mỹ rút quân và VNCH với sự giúp đỡ của người Mỹ tiếp tục công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Giả sử mình trong hoàn cảnh lúc đó từ 69 đến 73 và phải ký Hiệp định, thì sẽ phải làm như thế nào? lúc đó mình đâu có thể nào nói với đồng minh là ông tìm cách thương thuyết trên đầu của chúng tôi. Mình đâu thể nói vậy, cũng như anh ra trận đá banh rồi anh nói thôi tôi không chơi nữa vì không thích cái luật lệ, rồi mình lấy trái banh và đi về. Mình phải tiếp tục ngồi vào và tranh đấu để đừng có những điều kiện quá xấu cho tương lai đất nước.  Thành thử lúc đó hành động của chính phủ VNCH, với sự hỗ trợ của tất cả cơ quan lập pháp hiến định, đã tìm mọi cách để đừng có chấp nhận một hiệp định coi như là đầu hàng.
Nói rằng mình sẽ phải làm như thế nào khác. Lúc đó mình biết rằng phải tự lực cánh sinh, phải củng cố. Lúc đó biết rằng tới giai đoạn phải đấu tranh chính trị với cộng sản để thực thi hiệp định, nó có những điều khoản là hai bên phải gặp nhau để nói về tương lai chính trị. Lúc đó VNCH cũng đã cho tất cả các đảng phái quốc gia biết thực trạng đó để chuẩn bị. Đó là điểm thứ hai riêng về chính trị. Điểm thứ ba về xây dựng kinh tế và xây dựng đất nước, mình có rất nhiều chương trình phát triển nông thôn có nhiều thành quả dân trí ấm no phồn thịnh. Nhưng mà những điều đó không ai nói đến, người ta cứ nhìn vấn đề Việt Nam và cho là mình không có làm gì cả, theo tôi đó là sự sai lầm lớn.
Có thể nói là nỗi lòng của mình là quá tin tưởng người đồng minh; thật sự trên phương diện chính trị khi một người Tổng thống của một cường quốc hứa thì sao lại không tin
Ông Hoàng Đức Nhã
Nam Nguyên: Nhưng thưa ông thực trạng lúc đó là không có tiền nữa, không có tiềm lực kinh tế, quân sự súng đạn không có nữa. Ngay Tổng thống lúc đó cũng nhìn nhận là viện trợ giảm đi rất nhanh và rồi thì những mật ước của Tổng thống Nixon… nó chỉ là mật ước trên phương diện pháp lý không có giá trị, có thể nói cũng chỉ là để đánh lừa thôi?
Ông Hoàng Đức Nhã: Cái thực trạng lúc đó là một người đồng minh sau khi hứa mà bội hứa, mình không thể thay đổi thực trạng đó được. Như tôi đã nói mình đã gởi các phái đoàn đi cầu viện các quốc gia khác, thậm chí đến các nước Trung Đông như là vương quốc Saudi Arabia chẳng hạn. Tuy nhiên cái việc có thể nói là nỗi lòng của mình là quá tin tưởng người đồng minh; thật sự trên phương diện chính trị khi một người Tổng thống của một cường quốc hứa thì sao lại không tin. Nhưng mà sau này các tài liệu giải mật cho thấy là vì Hiệp định Paris không được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn nên Quốc hội không bị ràng buộc theo điều khoản của Hiệp định. Đó là thực trạng mà mình không thay đổi được và VNCH tiếp tục chiến đấu đến khi không còn súng đạn.
Nam Nguyên: 40 năm sau khi chấm dứt chiến tranh, ông nghĩ gì về nước Việt Nam hiện tại và khả năng về con đường dân chủ sắp tới?
Ông Hoàng Đức Nhã: Tôi không có hy vọng chế độ cộng sản ở Việt Nam thực thi nền dân chủ đúng như ý nghĩa của chữ dân chủ. Thứ nhất khi mà độc đảng thì làm sao mà có dân chủ được. Điểm thứ nhì, tự do căn bản của con người không được tôn trọng và điểm thứ ba, hố sâu giữa người giàu giữa con ông cháu cha của chế độ và người nghèo nó quá sâu.  Từ 1975 tới giờ tôi chưa về Việt Nam nên không có những dữ kiện chính xác. Tuy nhiên bao nhiêu thống kê của ngân hàng quốc tế, những cơ quan quốc tế cho thấy rõ sự xung đột giữa mức sống và sự phát triển cần thiết của nhân dân mà theo tôi là chưa có được. Dĩ nhiên khi chưa có dân chủ thì không thể san bằng hố sâu giàu nghèo. Cá nhân tôi không thấy dân chủ trong tương lai, ít nhất trong cuộc đời của tôi.
Nam Nguyên: Thưa ông nhiều người đã viết hồi ký, thí dụ ông Nguyễn Tiến Hưng. Về phần ông cũng là một nhân vật của lịch sử, đóng góp rất nhiều vào Đệ nhị Cộng hòa, xin hỏi là ông có định xuất bản hồi ký của mình hay không?
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/exclu-interw-vn-formr-minis-04092015061915.html

Tuesday, April 7, 2015

Sáng Kiến AIIB Của Trung Quốc-Nguyễn Xuân Nghĩa




RFI Ngày 150307
Thanh Hà & Nguyễn-Xuân Nghĩa

Tẩy chay AIIB của Trung Quốc, một sai lầm của Mỹ?
 RFI: Bắc Kinh thành công trong việc thuyết phục quốc tế tham gia Ngân Hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng AIIB. Phương Tây hấp tấp đăng ký xin gia nhập định chế tài chính trong tầm kiểm soát của Trung Quốc trước khi có được một chiến lược rõ ràng. AIIB là gì, vận hành ra sao và liệu có đe dọa sự độc quyền của Âu, Mỹ, Nhật trong hệ thống tài chính thế giới hay không?

Tính đến ngày 31/03/2015 bộ Tài chính Trung Quốc thông báo đã có 45 quốc gia nhận lời tham gia vào Ngân Hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng AIIB, 31 nước trong số đó đòi được hưởng quy chế thành viên sáng lập.

Anh Quốc là đồng minh đầu tiên của Hoa Kỳ tuyên bố nhập cuộc, với hy vọng, thị trường tài chính Luân Đôn sẽ được hưởng lợi nhiều hơn các đối thủ khác một khi đồng nhân dân tệ của Trung Quốc trở thành một đơn vị tiền tệ quốc tế. Tại châu Âu, từ Pháp đến Đức, từ Nga đến Bồ Đào Nha đều đã hưởng ứng sáng kiến của Bắc Kinh.

Có 31 nước tại châu Á đòi được tham gia AIIB, kể cả 26 đồng minh thân thiết nhất của Washington như Hàn Quốc. Riêng Nhật Bản sẽ chỉ quyết định có tham dự hay không vào cuối tháng 6/2015. Về phần mình, Canberra không thể đứng ngoài khi Trung Quốc là một khách hàng lớn trong, nhập quặng mỏ, nhiên liệu của Úc.

Mỹ trông thấy các đồng minh then chốt của hưởng ứng sáng kiến của Trung Quốc. Washington một mặt xem AIIB là một công cụ để Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng ngoại giao, kinh tế, tài chính của mình. Mặt khác kêu gọi AIIB hợp tác với Ngân Hàng Thế Giới, một định chế đa quốc gia đặt dưới sự kiểm soát của Hoa Kỳ.

Ngân Hàng Đầu Tư Cơ sở Hạ Tầng AIIB là gì, cơ chế hoạt động của nó trong tương lai ra sao? Đâu là những ý đồ thực sự của Bắc Kinh với công cụ tài chính mới đó ? Có thực sự định chế tài chính này là một mối đe dọa trực tiếp đối với những Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế hay Ngân Hàng Phát Triển Á Châu? Mỹ có đang tự cô lập mình hay không?

Từ Hoa Kỳ, chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa lần lượt trả lời các câu hỏi trên.  


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Được Bắc Kinh đưa ra lần đầu vào tháng10/2013 và đẩy mạnh từ tháng 6/2014, dự án thành lập một ngân hàng đầu tư để xây cất hạ tầng cơ sở cho các nước Châu Á chỉ là một sáng kiến nữa sau nhiều nỗ lực bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc và thu hẹp khả năng chi phối của Hoa Kỳ cùng các nước dân chủ Tây phương. Mọi sự có thể đã bắt đầu từ năm năm trước, năm 2010, khi sản lượng kinh tế Trung Quốc vượt Nhật Bản lên hạng nhì mà Hoa Kỳ và Âu Châu chưa ra khỏi những khó khăn kinh tế khởi đi từ vụ khủng hoảng năm 2008.

- Thời đó, trước biến động của khối euro, Bắc Kinh đề nghị tung tiền cấp cứu các nước mắc nợ và lâm khủng hoảng mà ngày nay nhiều người đã quên rồi. Sau đó, từ giữa năm 2012, Ngân hàng Trung ương Mỹ tuyên bố là sẽ “vuốt nhọn” chính sách bơm tiền để trở lại bình thường thì có một nguy cơ đặt ra là tiền Mỹ sẽ hết tuột giá mà còn tăng nếu Mỹ nâng lãi suất. Điều ấy có thể gây biến động hối đoái cho các nước đang phát triển đã vay tiền Mỹ quá nhiều. Bắc Kinh liền đề nghị lập ra một Quỹ Cấp cứu Tài chính “Contingent Reserve Arrangement - CRA” trị giá 100 tỷ đô để xứ nào bị khó khăn về hối đoái vì tiền Mỹ lên giá thì có thể được trợ giúp. Sáng kiến này mới trực tiếp cạnh tranh với chức năng cấp cứu tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

Người ta sở dĩ quên sáng kiến CRA đó vì đồng thời Bắc Kinh còn đề nghị thành lập một ngân hàng phát triển giữa năm nước của nhóm BRICS là Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi với số vốn là 100 trăm tỷ mà phần đóng góp nhiều nhất của Trung Quốc là 41 tỷ. Về sau, ngân hàng đó được cải danh là “Tân Khai Triển Ngân Hàng” hay Ngân hàng Phát triển mới, với mục tiêu cạnh tranh với Ngân Hàng Thế Giới là định chế vẫn do Mỹ chi phối.

RFI: Nhiều nhà quan sát cho là đề nghị thành lập Ngân Hàng Đầu Tư Có Sở Hạ Tầng Châu Á của Bắc Kinh là nhằm cạnh tranh với Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân Hàng Thế Giới và cả Ngân Hàng Phát Triển Á châu. Anh nghĩ thế nào về ý kiến này?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Người ta lười suy nghĩ hoặc quan sát bậy nên mới gây lầm lạc. Ngân hàng gọi tắt là AIIB này không có khả năng cùng lúc cạnh tranh với ba định chế quốc tế ở ba lĩnh vực khác nhau.

- Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế là định chế cấp cứu các nước nhất thời thiếu thanh khoản và bị khủng hoảng tài chính. Điều kiện cấp cứu là các nước lâm nạn phải tiến hành cải cách tài chính và ngân sách theo các tiêu chuẩn khắt khe mà ai cũng biết. Quỹ này vẫn do Hoa Kỳ chi phối thật nhưng không hoạt động trong các lãnh vực tài trợ phát triển hay đầu tư như các ngân hàng kia. Sáng kiến của Bắc Kinh khi lập ra quỹ cấp cứu CRA với 100 tỷ đô la mới trực tiếp cạnh tranh với Quỹ Tiền Tệ, nhưng thật ra chưa đủ sức nếu so với khả năng huy động của IMF là hơn 800 tỷ đô la. Vả lại, một trong những nước có thể bị khủng hoảng tài chính trong vài năm tới lại chính là Trung Quốc!

- Sang đến Ngân Hàng Thế Giới thì đây là ngân hàng phát triển, có khác với ngân hàng đầu tư mà ta sẽ nói sau. Ngân hàng phát triển có chức năng giúp đỡ về tín dụng nhẹ lãi và về kỹ thuật cho các nước đang phát triển, chủ yếu là thực hiện các dự án phát triển của nhà nước. Ngân hàng ấy có thể huy động vốn trên thị trường tài chính tư nhân để tài trợ hoạt động nhưng không vì mục tiêu kiếm lời. Cho nên không phải là Ngân hàng AIIB mà sáng kiến thành lập Ngân hàng BRICS hay Ngân hàng Phát triển Mới của Bắc Kinh mới cạnh tranh với Ngân Hàng Thế Giới và đấy là điều khôi hài cho thấy sự ngớ ngẩn của Hoa Kỳ.

RFI: Xin anh giải thích rõ hơn về nhận định này.

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Cho đến nay, Trung Quốc vẫn được Ngân Hàng Thế Giới tài trợ, đấy mới là chuyện lạ. Trong nhiều thập niên, định chế này lại triệt để nâng đỡ Trung Quốc, kể cả thực hiện các dự án gây tai tiếng và tai họa môi sinh, và thường đưa ra nhận định quá lạc quan về kinh tế Trung Quốc.

- Một chuyên gia kinh tế của Trung Quốc là hay Lâm Nghị Phu (Justin Yfu Lin), từ Đài Loan đào thoát qua Hoa lục, đã là kinh tế trưởng và Phó Chủ tịch Điều hành của Ngân Hàng Thế Giới cho đến giữa năm 2012. Định chế này rất được việc cho Bắc Kinh mà chẳng lẽ người Mỹ không biết?

- Dù có thể chỉ định người làm Chủ tịch, thật ra Hoa Ky không ráo riết chi phối hoạt động của định chế này và việc cải tổ Ngân Hàng Thế Giới vẫn là nhu cầu chính đáng. Nhưng dù sao, với số vốn dự trù là 100 tỷ thì Ngân hàng BRICS cũng chưa thể sánh với hơn 200 tỷ của Ngân Hàng Thế Giới hay hơn 330 tỷ của Ngân hàng Đầu tư Âu châu. Chưa kể là bên trong, năm nước thành viên của Ngân hàng BRICS lại có nhiều dị biệt về quan điểm và quyền lợi cho nên sáng kiến này chỉ hấp dẫn cho các nhà báo mà thôi.

RFI: Trở về với AIIB, thưa anh, đấy là một ngân hàng phát triển như anh vừa trình bày hay là một ngân hàng đầu tư như tên gọi, và nó sẽ vận hành ra sao?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Câu hỏi này cho thấy sự nhập nhằng của ngôn ngữ. Các quốc gia đều có ngân hàng đầu tư của tư nhân với mục tiêu kiếm lời, có khác với các ngân hàng phát triển của quốc tế.

- Bắc Kinh đặt tên ngân hàng này là “đầu tư” để có vẻ khác với Ngân hàng Phát triển mới của nhóm BRICS cũng do họ đề nghị trước đấy. Nhưng có khi ngân hàng AIIB cũng sẽ hoạt động khác. Bắc Kinh trù tính là sau khi mời các nước tham dự với tư cách “sáng lập viên”, và còn nói thêm rằng họ sẽ không giữ quyền phủ quyết, thì cuối năm 2015 ngân hàng AIIB mới bắt đầu hoạt động. Từ nay đến đó, các nước tham dự phải góp phần soạn thảo điều lệ, thể thức quyết định và tiêu chuẩn nghiệp vụ. Đến lúc bấy giờ người ta mới có cơ sở thẩm định về sự vận hành của ngân hàng này. Nhưng ta có thể nêu vài trường hợp sau đây để suy ngẫm về sáng kiến đó của Trung Quốc.

- Từ lâu rồi, Trung Quốc đưa nhiều tập đoàn quốc doanh ra ngoài thực hiện các dự án năng lượng và hạ tầng như cầu đường, hỏa xa hay bến cảng cho xứ khác. Với ngân hàng AIIB có 100 tỷ đô la thì các tập đoàn quốc doanh của họ có ưu thế gì nếu so với các công ty xây cất của xứ khác? Thí dụ Indonesia muốn thực hiện một dự án xa lộ hay hàng hải nối liền các đảo của mình theo thể thức BOT, là xây dựng, khai thác rồi chuyển giao cho chính quyền làm chủ sau một thời gian điều hành để kiếm lời. Sau khi gọi thầu thì một tổ hợp Hàn Quốc trúng thầu cho dự án đó. Tới khi Jakarta xin ngân hàng AIIB tài trợ dự án này vì những lợi ích kinh tế rõ rệt, liệu tổ hợp Hàn Quốc có thể bị gạt ra ngoài để nhường cho một doanh nghiệp Trung Quốc không?

- Và nói đến hạ tầng thì cũng có chuyện bảo vệ môi sinh, các doanh nghiệp Trung Quốc có thể bị thẩm tra lại về khả năng bảo vệ môi sinh hay không sau khi đã gây quá nhiều tai nạn chết người ở trong nước? Khi soạn thảo dự án thành lập, chuyên gia của các nước có quyền và rất nên nhìn vào đó.

RFI: Theo Ngân Hàng Phát Triển Á Châu ADB thì trong vòng 10 năm, từ 2010 đến 2020, các nước Châu Á cần đến 8000 tỷ đô la để xây dựng hạ tầng, tức là một năm thì cần tới 800 tỷ đô la. Với Ngân hàng Hạ tầng AIIB chỉ có 100 tỷ thì liệu họ có khả năng gì? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Phúc trình của Ngân hàng Phát triển Á châu ADB thật ra cũng đã cũ vì năm nay là 2015, là phân nửa thời gian đó! Dù sao, chi tiết ấy cũng có ích vì đặt ra một vấn đề thật, đó là tiền đâu? Xứ nào huy động được tiền, từ lãnh vực công quyền hay tư nhân, từ tín dụng đầu tư hay phát triển của quốc tế, thì giải quyết được nhu cầu của mình.

- Nhìn ngược lại, Trung Quốc hay bất cứ nước nào mà có nhiều tiền trên thị trường thì sẽ có ảnh hưởng và xét như vậy thì dự án ngân hàng AIIB này chẳng phải là lớn để thiên hạ cứ tri hô về thế lực của Bắc Kinh, chưa nói đến núi nợ quá lớn của Trung Quốc, có thể đã lên tới 26 hay 28 ngàn tỷ đô la.

RFI: Quan điểm của Hoa Kỳ là gì? Tại sao chính quyền Obama vẫn chống dự án này của Bắc Kinh? Phải chăng AIIB xuất phát từ một sai lầm của phương Tây mà đứng đầu là Mỹ không cho Trung Quốc tham gia rộng rãi vào Ngân Hàng Thế Giới? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chính quyền Barack Obama nói rất giỏi và chỉ giỏi nói mà thôi. Chính quyền này đưa ra khái niệm “quyền lực mềm” nhằm gia tăng ảnh hưởng của nước Mỹ mà khỏi dùng tới sức mạnh. Nào ngờ là chính Trung Quốc mới tận dụng cả quyền lực cứng lẫn mềm, trong khi Hoa Kỳ chỉ phô ra quyền lực mềm oặt trước những vận động liên tục và sáng kiến tới tấp của Bắc Kinh.

- Rốt cuộc thì chính các nước đồng minh của Hoa Kỳ đều hợp tác với Trung Quốc trong dự án AIIB này mặc dù các nước đó đều chia sẻ ảnh hưởng rất lớn trong cấu trúc tài chính quốc tế là Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân Hàng Thế Giới.

- Về chính trị thì tôi cho rằng vụ AIIB là điều hay vì là hồi chuông cảnh báo dân Mỹ về uy tín và khả năng tác động rất tồi tệ và không đáng tin của nước Mỹ. Về kinh tế thì dự án ngân hàng này cũng giới hạn thôi trong khi Trung Quốc lại gặp nhiều khó khăn nan giải khác. Còn lại, việc cải tổ hay mở rộng cấu trúc tài chính của Quỹ Tiền Tệ và Ngân Hàng Thế Giới thì xin để một kỳ khác.

RFI xin cảm ơn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Nguồn: http://dainamaxtribune.blogspot.com/