Thái
Thanh – Tiếng
Mẹ Sinh Từ Lúc Nằm Nôi
Chúng
tôi có cơ duyên gặp danh ca Thái Thanh nhiều lần, nhưng
chỉ gần đây, 2003, 2004 mới có ý định hỏi han đôi
điều về cô. Phần phỏng vấn dưới đây có sự đóng
góp của Lan Anh (báo Phụ Nữ Gia Đình Người Việt) và
Phạm Giao (Nhật báo Người Việt).
Thái
Thanh sinh năm 1934, là em út trong gia đình 5 anh em: anh cả
là Phạm Đình Sỹ (bà Phạm Đình Sĩ là kịch sĩ Kiều
Hạnh sinh ra Mai Hương, Bạch Tuyết), anh thứ là Phạm
Đình Viêm tức Hoài Trung, chị là Thái Hằng, anh thứ tư
là Phạm Đình Chương tức Hoài Bắc. Quê ngoại Thái
Thanh ở Sơn Tây, còn cô ra đời ở làng Bạch Mai, Hà
Nội. Năm 1946 cô theo gia đình tản cư vào vùng Chợ Đại,
rồi Thanh Hóa là nơi Thái Hằng kết hôn với nhạc sĩ
Phạm Duy. Tháng 5, 1950 gia đình cô cùng Phạm Duy bỏ vùng
kháng chiến về Hà Nội, sau đó vào ngay Sài Gòn.
Suốt
những năm trường sau đó cho đến khi Miền Nam bị mất,
tiếng hát Thái Thanh cùng nhạc Phạm Duy bay bổng khắp
nơi. Nhà văn Mai Thảo đã gọi giọng hát cô là “tiếng
hát vượt thời gian”. Quả thật cho đến trăm năm nữa,
tiếng hát này chắc vẫn còn ngự trị trong tâm tưởng
người dân Việt, sẽ còn vang vọng như khúc quan họ giữa
trời xuân.
Kết hôn cùng tài tử Lê Quỳnh năm
1956, Thái Thanh và Lê Quỳnh có 5 người: Ý Lan, Lê Việt,
Quỳnh Dao tức Quỳnh Hương, Thanh Loan và Lê Đại. Khi nói
đến những văn nghệ sĩ, nhất là trường hợp một nữ
danh ca, ít ai để ý đến khía cạnh Bà Mẹ trong đời
sống những phụ nữ này. Có tác giả đã nói đến tấm
lòng Bà Mẹ của Thái Thanh trong việc nuôi dưỡng đàn
con. Cô Thái Thanh đã vượt qua biết bao khó khăn, chịu
đựng biết bao vất vả để giúp các con, nhất là hai
người con bé nhất, có được một cuộc sống tốt đẹp.
Bây
giờ chúng tôi muốn nói đến khía cạnh khác trong cuộc
sống của cô, một khía cạnh càng làm lớn con người
của Thái Thanh: Đó là nghị lực chống chỏi với bất
hạnh của cuộc sống. Cách đây 4 năm (2000) cô bị một
cơn tai biến mạch máu não (strocke), mất hết trí nhớ.
Nằm trong phòng mạch bác sĩ cũng như khi ở bệnh viện
cô không còn nhận ra người thân. Đôi khi cô nhận ra
Quỳnh Hương, Ý Lan, đôi khi không. Ở bệnh viện về cô
đã cố gắng tập luyện rất nhiều để khôi phục trí
nhớ. Mấy tháng sau khi rời bệnh viện cô đã nhận biết
ra nhiều điều quen thuộc, nhưng bài hát thì lẫn lộn
lung tung. Không biết do nghị lực của chính cô, sức sống
mãnh liệt của chính cô, hay do phép lạ mà sau đó trí
nhớ cô hồi phục dần. Từ chỗ không còn nhận ra người
thân, cô đã nhớ lại được từng lời bài hát.
Trong
dịp đón Thụy Khuê từ Pháp qua ở nhà Y Sa, độ một
năm sau biến cố trên, Thái Thanh đã thấy “ngứa ngáy”
muốn giúp cho buổi tối xum họp bạn bè thêm đẹp, nhưng
cô đành chỉ hát được vài câu rồi thôi vì quên lời.
Vậy mà đến ngày “Lễ Của Mẹ” (Mother’s Day) năm
2004, ngày Thái Thanh và 3 thế hệ ở Majestic, Thái Thanh đã
xuất hiện duyên dáng trong vai nữ sinh áo dài trắng, nón
lá, cắp sách đến trường mở đầu buổi trình diễn
với bài “Ngày Xưa Hoàng Thị”, và hát một loạt bài
sau đó.
Chắc chắn Thái Thanh đã có một ý chí mãnh
liệt, thứ ý chí giúp cô sống qua những tháng năm ở
Sài Gòn đen tối, giúp cô chăm sóc các con trong cơn bệnh
hoạn ngặt nghèo, rồi giúp cô hát lại được ở tuổi
70. Dưới đây chúng tôi xin ghi lại đôi lần chuyện trò
với cô trước và sau khi cô bị stroke:
Hỏi: Chị bắt
đầu hát năm nào, Chị còn nhớ bài hát đầu
tiên?
TT.:Không nhớ rõ, nhưng về tuổi thì tôi bắt
đầu hát từ năm 13, 14 tuổi. Không nhớ rõ bài hát đầu
tiên trình diễn là bài nào nhưng chắc chắn là của Phạm
Duy. Hồi đó, năm tôi 14 tuổi, anh Phạm Duy cứ phải dùng
tôi làm cái cái cớ lấy điểm với chị Thái Hằng, chị
ruột của tôi. Năm đó Thái Hằng khoảng 21 tuổi. Không
lạ gì mà hồi đó đã có bài “Dòng Sông Xanh” nhạc
ngoại quốc, lời Việt. Ông Phạm Duy đã phải đặt lời
Việt cho bài “Dòng Sông Xanh” để cho cô Thái Thanh bé
xíu hát thì mới lấy điểm được với bà Thái
Hằng.
Hỏi: Chị còn nhỏ vậy mà các cụ vẫn cho chị
hát?
TT.: Bố mẹ tôi cũng là những nghệ sĩ
chơi đàn cổ như đàn tranh chẳng hạn, nên cụ thông
cảm. Dù không bị ngăn cấm vì “xướng ca vô loài”
nhưng các anh em tôi đều được các cụ hướng dẫn là
cần nhất phải học hành trước đã, đàn địch là
chuyện phụ thôi, nhưng lúc chạy loạn tôi không có cơ
hội học chữ nhiều nên có thể tự học ca hát.
Hỏi:
Hồi xưa kỹ thuật còn thô sơ, phương tiện không có
nhiều. Chị có nghĩ là nếu hồi đó có được những
phương tiện và kỹ thuật như bây giờ, Thái Thanh sẽ
khác hơn không?
TT.: Hồi đó khi tôi hát, lúc tôi
mười mấy tuổi, thì kỹ thuật mình đã có gì đâu. Cái
micro dài thật dài và to bằng cả cái bàn tay mình. Nếu
tôi đứng gần micro để tiếng hát phát ra tốt hơn thì
khán giả không nhìn thấy tôi, còn nếu tôi đứng xa để
khán giả thấy được khuôn mặt tôi thì tiếng hát lại
không còn rõ nữa. Nếu kỹ thuật được như bây giờ
thì hẳn là phải khác đi chứ. Nhưng dù sao tôi vẫn có
niềm hạnh phúc mà ít ai có được là từ năm 14 tuổi
tôi bắt đầu hát với cái micro to như thế cho một nhóm
khán giả nghe, đến bây giờ gần 70 tuổi, tôi vẫn còn
được hát và thu vào CD để gửi cho thính giả khắp thế
giới nghe, nghĩa là hơn 50 năm sau tôi lại được dùng
cái technique mới cho giọng hát của mình. Hạnh phúc
lắm.
Hỏi: Lần đầu tiên chị xuất hiện trước
công chúng là ở đâu, Hà Nội hay làng quê?
TT.: Sure
là ở làng quê vì hồi đó là lúc kháng chiến. Khi đó
có những ban nhạc hát cho công chúng ở vùng quê nghe. Lần
đầu tiên tôi lên sân khấu ở tuổi 14, mình còn bé xíu
mà đứng trước đông đảo bà con, nên tôi cũng sợ lắm.
Nhưng sau khi cất tiếng hát, thì tiếng hát, âm nhạc làm
tôi hết sợ mà còn cảm thấy hứng khởi, hạnh phúc, vì
lúc đó tôi được đứng trong ban hợp ca gồm các anh các
chị như Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, những người
sau này thành ban “Thăng Long”.
Hỏi: Ban hợp ca
Thăng Long được thành lập từ hồi đó?
TT.: Nói
thế cũng được. Có thể nói “Thăng Long” được thành
lập từ hồi kháng chiến, từ khi tôi còn nhỏ.
Hỏi:
Sau này chị gia nhập đoàn kịch “Gió Nam”?
TT.: Ban
hợp ca Thăng Long ở trong ban Gió Nam, tuy hai mà một. Lấy
tên Gió Nam vì chúng tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi trở
ra Hà Nội trình diễn, mang cái gió miền Nam ra ngoài
Bắc.Hỏi: Chị có thấy là giọng chị hợp với
nhạc Phạm Duy, hay là Phạm Duy sáng tác để cho chị
hát?
TT.: Anh Duy lớn hơn tôi mười mấy tuổi,
có lẽ muốn biết chính xác điều đó phải hỏi anh Phạm
Duy. Tôi chỉ biết là kể từ bài “Dòng Sông Xanh” anh
Duy đặt lời cho tôi hát, thì anh đã biết giọng hát tôi
làm sao, sau đó những bài hát của anh ấy sáng tác ra
thường do tôi hát đầu tiên nên chắc là anh phải chọn
sao đó cho thích hợp với giọng hát Thái Thanh.Hỏi:
Bài “Dòng Sông Xanh” chị hát năm 14 tuổi, như thế chị
có phải tập luyện nhiều không?
TT.: Về chuyện
tập luyện, lúc đó mình chưa có trường “Quốc Gia Âm
Nhạc”, chưa có ai mở khóa huấn luyện hát (thanh nhạc),
tôi chỉ có thể nghe đàn bài nhạc, và với tuổi 14 mà
tôi hát đước bài đó, tôi nghĩ phần lớn do thiên phú.
Ngay cả chuyện phát âm, trước hết tôi đọc lời ca cho
đúng, và khi hát tôi phải phát âm như lúc tôi đọc chứ
không thể để chữ nọ xọ chữ kia, giọng nọ xọ giọng
kia. Tôi nghĩ rằng chuyện phát âm tiếng Việt một phần
tôi có được cũng là chút năng khiếu trời cho.Hỏi:
Một số bài hát chị có thêm thắt đôi chút mà bây giờ
người ta gọi là “feeling”, chị có nghĩ đó là ưu
điểm của chị, là sự sáng tạo của chị, và nhạc sĩ
liệu có hài lòng không? Thí dụ như bài “Paris Có Gì Lạ
Không Em”, ở phần cuối chị thêm vào khúc “Lá La La
Là Lá La….”, chúng em cho rằng khúc hát thêm đó thật
tuyệt vời, làm sáng hơn cái chất Paris trong bài hát. Thế
nhưng liệu nhạc sĩ có đồng ý không?
TT.: Ở
đây phải nói nhạc sĩ là tác giả chứ không phải người
chơi đàn. Tôi vẫn nghĩ là tôi “feel” được cái bài
đó phải được phát âm thế này, phải có cái đoạn mà
tôi tự thêm vào. Thường thường tôi vẫn lo rằng tác
giả bài nhạc không bằng lòng với lối phát âm của tôi
ở khúc đó, không bằng lòng với đoạn thêm thắt của
tôi, nên tôi hay phone hỏi tác giả. Tôi nói rằng bài mà
tôi sắp hát của ông đây nếu tôi trình diễn thêm như
thế này thì ông thấy thế nào. Hầu hết tôi nhận được
lời khen của tác giả và họ đồng ý cái kiểu hát của
tôi khiến bài hát hay hơn.Hỏi: Về phía người
chơi đàn, ban nhạc đệm cho chị, có khi nào đang hát chị
chợt thấy có cảm hứng và thêm vào, hay thay đổi cách
diễn đạt, mà ban nhạc không biết trước không?
TT.: Cái
đó thì chưa xẩy ra bởi vì bao giờ cũng phải tập với
ban nhạc hoặc dặn dò nhau đôi chút. Muốn thêm hay bớt
điều gì đó đều phải được dự trù trước, vì chính
mình cũng phải nghe thử xem sự thêm bớt đó có hay
không. Chưa bao giờ đứng trên sân khấu mà tôi làm
chuyện đó. Nhân nói về chuyện đứng trên sân khấu, có
một lần tôi đứng hát trước khán giả, người đệm
piano cho tôi hát hôm đó là nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Ông
đã chọn đệm cho tôi với ton Ré majeur, mà nếu hát Do
majeur thì vừa với giọng tôi hơn. Khi tôi nghe intro, tức
là khúc mở đầu mới có độ 3, 4 nốt của ông, tôi vẫn
đứng yên tại chỗ và dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ
làm thành hình chữ C ra hiệu cho ông, ông đã hiểu ý tôi
ngay và chuyển từ Re xuống Do. Sau đó ông khen tôi: Tai
của Thái Thanh thính quá, mới nghe mấy nốt mà đã nhận
ra là Ré, không phải Do để ra hiệu cho tôi. Thái Thanh
giỏi lắm.
Hỏi: Thế chị học nhạc lý ở đâu?
Đọc đâu đó có viết là chị phải chui đầu vào trong
cái chum để tập phát âm?
TT.: Nhạc lý cũng như
là xướng âm tôi đã phải đặt mua sách từ bên Pháp,
theo đó tự học, có gì khó thì hỏi anh Phạm Đình
Chương. Anh Chương là thầy dậy tôi. Anh có lần nói: “Cô
có cái đặc biệt là trước khi tôi dậy thì cô đã biết
rồi”. Còn chuyện chui đầu vào chum thì không có đâu.
Có lẽ ai đó đã đoán thôi vì thấy giọng tôi, cách
phát âm của tôi khá mạnh nên họ nghĩ vậy. Cái giọng
mạnh này chắc cũng là do trời cho tôi.Hỏi: Có
thể nói 70% tài năng của chị là do thiên phú?
TT.: Vâng,
tôi cũng nghĩ như vậy. Trời cho tôi giọng, Trời còn cho
tôi hai lá phổi rất rộng. Ý Lan có lần đã nói với
tôi: “Mỗi lần con nghe Mẹ hát, nghe Mẹ xướng âm, con
có cảm tưởng như tất cả buồng phổi của Mẹ đã mở
ra.” Đó cũng là một điều thiên phú. Nhưng có điều
tôi vẫn tâm niệm rằng trời cho mình cái gì thì mình
phải ôm lấy nó, trân trọng cái đó, nghĩa là phải tập
luyện để giữ được nó, để làm lớn, làm mạnh nó
lên. Chứ không thể cứ nghĩ thiên phú là không cần tập
dượt, và còn phải yêu nó nữa thì mới có những thành
tựu.Hỏi: Chị đang nói về thiên phú, vậy chị
có nghĩ rằng một điều khác trời cũng cho chị là đầu
óc chị, tâm hồn chị dễ dàng cảm nhận được những
gì tác giả các bài nhạc muốn gửi gấm, và chị đã
dùng cái thiên phú đó để truyền đạt được tâm tình
tác giả đến người nghe? Nhiều người có thể xướng
âm những dòng nhạc, những lời ca của nhiều tác giả,
nhất là của Phạm Duy, nhưng họ không có cùng cái cảm
xúc như chị, họ không “cảm” được như chị.
TT.: Tôi
không biết chuyện tôi cảm thông được với các tác giả
có phải là thiên phú không. Nhưng điều đầu tiên tôi
muốn nói về chuyện này là người ca sĩ phải biết yêu
tiếng nói của nước mình, phải yêu tiếng Việt của
mình. Người ca sĩ còn phải yêu đất nước mình nữa.
Khi trong bài hát có nói đến những xứ sở, những vùng
nào đó trên đất nước mình, thì mình cũng phải cảm
thấy yêu cả những địa danh đó nữa, Miền Trung, Miền
Nam, Miền Bắc. Đặc biệt tôi sinh ra ở Hà Nội thì khi
đọc đến hai chữ Hà Nội tôi cảm thấy một tình cảm
yêu mến vô bờ. Nếu mình không yêu chữ của nước mình
thì giống như mình hát một bài hát ngoại quốc vậy.
Thí dụ đọc đến chữ “em bé quê” là mình cảm thấy
dào dạt tình thương yêu các em nhỏ sống ở những vùng
quê nghèo nàn, tôi nói yêu chữ nước mình là vậy. Còn
một chuyện nữa là tôi yêu người nghe, luôn luôn tôn
trọng khán thính giả. Tôi rất thận trọng khi hát.Hỏi:
Thưa chị, về một trường hợp cá biệt, khi nghe chị
hát bài “Hương Ca Vô Tận” của Trầm Tử Thiêng, khán
thính giả thấy chị hầu như đã diễn đạt được hết
cái tâm tình của nhạc sĩ, trong đó có cả phần tâm
tình của chị. Có phải chị đã được tác giả chia sẻ
chút ít về bài hát đó?
TT.: Tôi đã hát bài đó
của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cách đây nhiều năm, khi
chúng tôi còn ở Việt Nam. Với ca sĩ được làm thân,
được nói chuyện với các nhạc sĩ là điều rất thú
vị vì mình hiểu biết hoàn cảnh các bài hát hơn. Khi
nói chuyện với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tôi mới biết
ý của ông trong những lời ca. Trong bài có những câu như
“Hát nữa đi hương…”, nhiều khán thính giả tưởng
“hương” là tên một người con gái, nhưng có nói
chuyện với ông mới biết chữ “hương” là ông muốn
nói đến “quê hương.”Hỏi: Chúng ta qua một
chuyện khác. Người đời thường hay dè bỉu những bài
nhạc đại chúng, được đông đảo quần chúng ưa thích
vì giai điệu, cấu kết giản dị, dễ dãi. Họ gọi đó
là loại nhạc “sến”. Chị có nghĩ là nên gọi như
vậy không, nên phân biệt như vậy không, và chị có hát
những bài hát đó không? Chị có thích đặc biệt một
nhạc sĩ nào không?
TT.: Dùng chữ “sến” để
chỉ nhưng bài nhạc đó là thiếu lịch sự, và chắc
chắn là tôi có hát những bài loại đó. Ngày xưa, có
một ông nhạc sĩ nay đã mất rồi, tôi không nhớ rõ tác
giả nào, nói với tôi thế này: “Thái Thanh ạ, nếu có
một loại nhạc gọi là nhạc sến thì tôi xin làm sến,
vì Thái Thanh mới trình bày một bài hát với hình ảnh
đẹp đẽ quá, tươi tắn quá, và nếu tôi là sến tôi
sẽ may cái áo thật đẹp để mặc.” Còn bảo rằng
thích đặc biệt một nhạc sĩ nào thì câu trả lời là
không. Thích một bài hát nào thì tôi hát bài đó với
tất cả tâm hồn, không cứ bài đó là của ai. Thực ra
cũng có thể nói là những bài của Phạm Duy, Phạm Đình
Chương, vì là những người trong gia đình, nên khi chúng
chưa ra ngoài thính giả thì tôi đã được nghe trong gia
đình, tôi đã được các ông ấy gọi ra để hát thử
từng đoạn trước khi tác phẩm hoàn thành, đương nhiên
những bài của hai ông ấy tôi hát nhiều.
Hỏi: Vậy
thì cũng xin chia sẻ với chị kinh nghiệm này, hồi còn
trẻ, còn sinh viên, quả thực bọn em có thái độ phân
biệt với những bài hát giai điệu dễ dãi. Phải đợi
đến khi nằm tù ở Thanh Hóa 7, 8 năm trời, lúc đó em
mới thấy hết giá trị của những bài bị gọi là sến
kia. Lúc đó, giai điệu, lời ca những bài đó sao thấm
thía đến thế. Lúc đó nghe “Nghìn Trùng Xa Cách” em
không khóc như khi nghe “Xuân Này Con Không Về”, hoặc
nghe “Phố Buồn” em cũng chỉ thấy sao xuyến như nghe
bài gì của Trúc Phương có câu “đèn khuya mắt đỏ…”
Lúc đó em mới nhận ra những bài hát đó thực sự là
tiếng nói, tâm tình của đa số người dân miền Nam, của
mọi người.
Bây
giờ xin đi đến một câu hỏi khác: Sau 1975, chị còn ở
trong nước, chị có hát không, chị sống như thế
nào?
TT.: Nói đúng ra thì tôi không hát. Lý do là
vì khi người Cộng Sản vào miền Nam, tôi thấy họ khác
mình quá, cái gì cũng khác. Khác hay hay khác dở thì tôi
không bàn, nhưng tôi thấy không có gì giống tôi, giống
trước đây, thì tôi không hát. Sau khi mời tôi không được
thì tôi “được” họ cấm hát, thế thì tốt quá. Họ
nói tiếng hát Thái Thanh là của “Ngụy”, chứ không
phải của họ. Tôi kể câu chuyện nhỏ này: Cô Kim Cương
mấy lần đến nhà tôi ở đường Cống Quỳnh, nói rằng
“chị ở căn nhà này chật hẹp, nóng nảy quá”, ngỏ
ý muốn mời tôi đến ở cùng nhà với cô ấy, vì tôi
chỉ có một thân một mình, và cô ấy cho rằng tôi sống
trong hoàn cảnh khổ quá. Kim Cương ở một ngôi nhà lớn,
có máy lạnh, nước nóng nước lạnh. Cô ấy khéo lắm,
nói rằng “Không phải em mời chị đến để rồi yêu
cầu chị hát đâu, từ ngày xưa em đã tự bảo rằng chỉ
cho tôi hát một ngày được như Thái Thanh thì sau đó có
phải chết tôi cũng bằng lòng.” Cô ấy khéo thế đấy.
Nhưng tôi từ chối viện lý do là tôi ở đâu quen đó,
lại gần chợ nữa, và tôi không làm việc nổi vì các
con tôi đều ở xa, tôi nhớ chúng lắm chẳng bụng dạ
nào đi hát cả. Còn về đời sống, tôi cứ bán dần đồ
đạc, nữ trang đi để mà sống qua ngày vì tôi có làm
gì ra tiền. Đến bây giờ tôi rất hài lòng vì tránh
được mọi điều ép buộc của nhiều người lúc
đó.
Hỏi: Bây giờ thì đến một câu hỏi khá
riêng tư không biết chị có vui lòng trả lời không. Thực
ra chị là người của công chúng, chị có thể chia sẻ
mọi điều với công chúng. Câu hỏi thế này: Chị là
người duyên dáng, khả ái, có đôi tay đẹp, nhất là
đôi mắt vô cùng thu hút, vậy không biết các chàng trai
trẻ từ xưa đến giờ bị chị thu hút đến thế nào,
chị tiết lộ được không?
TT.: Cô ca sĩ hay hát
Trịnh Công Sơn, cô Khánh Ly, trước ngày mất nước, tức
là cách đây hơn hai chục năm, có lần nói với tôi thế
này: “Nếu cháu là chồng của cô, cháu đành phải để
cô đi hát trước khán giả, nhưng cháu sẽ giữ hai bàn
tay cô ở lại nhà, cháu không cho ai được nhìn hai bàn
tay ấy khi cô hát.” Còn chuyện các chàng trai trẻ, thì
trong cuộc sống chúng ta mấy chuyện đó cũng như nhau
thôi.Hỏi: Thí dụ trong ban Gió Nam có anh Trần Văn
Trạch, một người trình diễn thành công rất mê
chị?
TT.: Anh Trạch là một người kín đáo,
trước khi mất anh ấy mới nói cho mọi người biết anh
ấy mê Thái Thanh. Tôi chỉ nhận thấy là anh ấy hay đến
nhà chơi với các anh các chị, và hay nhìn tôi. Lúc đó
mình còn trẻ quá. Thực ra cho đến bây giờ chuyện tình
cảm của Thái Thanh cũng kỳ cục lắm, phải nói thẳng
ra là “này cô Thái Thanh, tôi thế này, tôi thế nọ”
thì Thái Thanh mới biết, mới tin, vì khán giả yêu mình
cũng biểu lộ như vậy, làm sao mình biết được ai yêu
mình thật, ai mê tiếng hát của mình thôi. Có nói ra tận
miệng thì tôi mới biết: “ủa, vậy hở!”Hỏi:
Còn với những văn nghệ sĩ miền Bắc gặp chị sau 75
thì sao, có cán bộ nào “nói thẳng” với chị
không?
TT.: Ai cũng thấy thái độ bất hợp tác
của tôi thì còn cán bộ nào tìm đến nữa. Mà có “nói
thẳng” thì câu trả lời cũng không là “Me too” đâu
đấy nhé. Với các anh chị văn nghệ sĩ như Văn Cao,
Hoàng Cầm,… đều đến gặp tôi, đôi khi cũng nói để
cho mình vui lòng ấy mà, như anh Văn Cao nói thế này: Nếu
tôi còn trẻ thì thế nào cũng xin cưới Thái Thanh. Anh ấy
bông đùa như vậy nhưng tôi cũng không dám trả lời “Me
too!”Hỏi: Nhưng rõ ràng sau khi chị ly dị với
anh Lê Quỳnh, chị có một khuôn mặt mới trong cuộc đời
là ông chủ khách sạn Catinat?
TT.: Anh Phạm Đình
Chương mở phòng trà “Đêm Màu Hồng” trong khách sạn
Catinat, nên biết anh Trần Quý Phong. Mới cách đây mấy
hôm (Tháng Hai, 2004), trong khi nói chuyện điện thoại với
anh Phong, tôi có hỏi anh ấy rằng “Thế thì anh mê Thái
Thanh từ khi biết ở Đêm Màu Hồng hay là mê từ khi nghe
Thái Thanh hát”, anh ấy trả lời lâu rồi chứ, đâu
phải đợi đến Đêm Màu Hồng. Thực ra sau đó anh Phong
đã ly dị, và tôi cũng đã ly dị một thời gian rồi,
anh ấy đang tìm chỗ để tổ chức đám cưới thì xẩy
ra 30 Tháng 4, 1975.Hỏi: Sau 1975 thì sao và bây giờ
anh ấy ở đâu?
TT.: Tôi đi Mỹ khi anh Phong còn
ở tù. Sau 14 năm anh được thả nhưng không đi Mỹ vì
anh còn mẹ. Sau khi cụ mất anh ấy mới xin đi Mỹ và
hiện ở Atlanta.Hỏi: Nếu bọn em mua vé máy bay mời
chị đi Atlanta thì sao?
TT.: Xin cám ơn cô chú
nhưng không đi được vì chúng tôi chưa cưới hỏi, phải
không? Mà nếu chỉ là bạn bè thì đâu cần đi xa đến
thế.Hỏi: Chị nhớ một kỷ niệm nào ở Đêm Màu
Hồng?
TT.: Kỷ niệm thì nhiều, nhưng có một
chuyện tôi nhớ mãi đến bây giờ: Một hôm tôi hát bài
“Kỷ Vật Cho Em” xong thì thấy mấy bà khóc. Các bà ấy
đều có chồng, có anh em tử trận. Điều đó thật là
day dứt.Hỏi: Năm 1985 chị qua đến Hoa Kỳ, mọi
người vui mừng đón tiếp chị trong đêm tái ngộ Thái
Thanh ở hải ngoại, sau đó chị không có hoạt động gì
nhiều về văn nghệ?
TT.: Sau đêm đó, một số
“bầu sô” mời tôi hợp tác. Tôi không dám nhận lời
nhiều vì lý do còn phải đi học ESL, thời gian học này
kéo dài mấy năm. Về sau tôi chỉ ghi đĩa với cô Thái
Xuân (Trung tâm Diễm Xưa) vì Thái Xuân chịu chiều theo ý
tôi. Thí dụ mỗi CD thỉ có một mình tôi hát chứ không
xen lẫn nhiều người. Tôi rất cảm ơn Thái Xuân vì cô
ấy đã cố gắng làm mọi điều theo yêu cầu của tôi,
như có bài hát tôi cần tiếng đàn tay chứ không phải
đàn điện thì dù tốn kém mấy cô ấy cũng mua, khi thu
băng đôi khi tôi cần tiếng đàn harp, cô ấy cũng chiều
dù cho tiền thuê loại đàn đó cũng như tiền trả cho
người chơi rất đắt. Trong một bài hát nhiều khi cần
cả mấy thứ đàn đó, nhưng đàn tay vẫn là thứ tôi
thích nhất, tiếng đàn đó “có lòng nhất”. Hồi xưa
tôi thường thích ban nhạc Nghiêm Phú Phi đệm, sau này cô
Thái Xuân đã chọn ban nhạc toàn người Mỹ để đệm
cho tôi.
Chúng ta vừa mới đọc qua đôi điều
thú vị về Thái Thanh, người ca sĩ lớn lao của đất
nước Việt Nam. Gia đình cô còn sinh ra những người con
nổi tiếng: Ý Lan, Quỳnh Hương, Thanh Loan đã nổi tiếng
trong giới nghệ thuật, truyền thanh, Lê Việt đã tốt
nghiệp kỹ sư còn nhất định lấy thêm bằng bác sĩ y
khoa, và đặc biệt Lê Đại từ một thanh niên bị tê
liệt vẫn kiên trì học để tốt nghiệp đại học, đi
làm trong dòng chính của Mỹ. Tất cả những ý chí, tài
hoa đó hẳn phần nào được Thái Thanh truyền cho. Trong
đêm Thái Thanh và 3 thế hệ, đàn con cháu xum vầy chung
quanh, tất cả đều cất lên tiếng hát ngợi ca Mẹ
và Bà, ngay chàng bác sĩ Lê Việt cũng đã chứng tỏ là
có một giọng ca truyền cảm, và một cung cách thật chân
chất, khiêm nhường.
***
Chiếc
xe van chạy trên đường Magnolia, hướng về phía Bắc.
Lan Anh quay lại hỏi: “Chị ơi, bây giờ mình đi ăn ở
đâu?” Thái Thanh trả lời: “Ði ăn cơm ở Nguyễn Huệ
đi. Ở đấy cơm gà ngon lắm.” Ngừng vài giây, cô nói
tiếp: “Nhưng mà này, lát nữa đưa chị về, cô nhớ
nhắc chị đưa cho thịt đông và dưa chua đấy nhé. Chị
gói sẵn rồi.”
Xe
quẹo yên ổn vào đường Bolsa rồi Lan Anh mới quay lại
hỏi tiếp:
– Chị
cũng mua thịt đông và dưa chua ở Nguyễn Huệ à?
– Không,
ở đó ăn cũng được nhưng chị làm lấy. Làm lấy được
cái bảo đảm là sạch, lành mạnh, và đúng ý mình muốn.
Chị làm món ăn khéo lắm, cô không ngờ được đâu.
Quả
thực đó là một trong nhiều điều bất ngờ về Thái
Thanh. Chúng ta quen hình dung cô trên sàn diễn, khi đang
hát, hoặc qua những đĩa, băng nhạc. Chúng ta thường nhớ
đến Thái Thanh như một đệ nhất danh ca và
quên mất Thái Thanh trong đời thường như một
bà mẹ, một người nội trợ thích nấu ăn, một phụ nữ
thích mặc đẹp, ăn ngon, kể cả ăn quà vặt. Năm nay
(2004), ở tuổi 70, Thái Thanh vẫn cần mẫn làm các món
dưa chua, củ cải ngâm nước mắm, kho cá thu, làm thịt
đông, và nhiều món nữa. Cô vẫn say sưa kể về cách
làm các món ăn “Bắc Kỳ chính cống”, nào là ở quê
mình cây cải trước khi đưa vào muối phải phơi cho heo
héo một chút, rồi nước muối phải pha làm sao, bây giờ
ở Mỹ, có lò nướng, có microwave, mình phải cắt củ
cải làm sao, sấy làm sao, pha nước mắm thế nào.
Thực
tình những món cô làm đều rất ngon, hương vị giống
như hồi xưa tôi vẫn được Mẹ tôi nấu cho ăn, như món
cá thu kho riềng chẳng hạn. Hồi còn sinh tiền khi làm
món cá kho này, Mẹ tôi thường nướng cá thu cho xem xém,
thịt hơi săn lại một chút, rồi Bà nhét mấy miếng
thịt ba chỉ sắt khúc vào giữa con cá. Khi kho, ngoài
chuyện thêm nước mắm, lót những lát riềng, Bà còn lót
một lớp trà mạn không ướp hương hoa gì cả xuống đáy
nồi. Trong “căn hộ” một phòng, có bếp gas, có lò
nướng, có microwave, tủ lạnh, tôi không biết Thái Thanh
xoay sở làm sao để kho được nồi cá thu, chỉ
biết rằng bà rất thích thú nói về món ăn, về nghệ
thuật nấu món ăn với những phương cách cầu
kỳ như vậy. Tôi tưởng tượng khi bà đang nấu nướng,
chắc toàn bộ con người bà, thân, trí và tâm bà đều
chú tâm vào chuyện nấu nướng y như khi hát vậy. Trong
một lần cùng bà đi mua “thức ăn” cho hoa lan, bà nói:
“Cư xử với cây khó lắm, nhất là hoa lan, không như cư
xử với người đâu. Nếu mình không chăm xóc tử tế,
không khéo, không làm đúng những gì mình phải làm, thì
cây nó bỏ đi. Còn với người, người ta sẵn sàng chịu
đựng nhau, đôi khi người ta giả dối để vẫn liên lạc
với nhau vì những điều gì đó. Còn với cây, mình có
yêu cây thì cây mới ở lại.” Thái Thanh đời thường
là thế.
Từ
đó đến nay, hơn nửa thế kỷ trôi qua, tiếng hát Thái
Thanh vẫn triền miên chuyên chở đến mọi người
Việt Nam biết bao niềm xúc cảm của một kiếp
người. Tiếng hát đó như gắn liền với định mệnh
của cả dân tộc ta, đất nước ta. Trong một buổi hội
thoại với thính giả của đài phát thanh Văn Nghệ Truyền
Thanh qua chương trình giới thiệu buổi trình diễn của
Thái Thanh và các con năm 1996, một thính giả gọi vào đài
để nói với Thái Thanh, đại ý như thế này: Vợ chồng
chúng tôi xin cảm ơn chị Thái Thanh, bởi vì chúng tôi đã
lớn lên, trưởng thành theo tiếng hát của chị. Chúng
tôi yêu nhau, lấy nhau qua tiếng hát của chị. Chúng tôi
yêu nước nồng nàn, mãnh liệt cũng vì tiếng hát của
chị đã gieo cho chúng tôi lòng yêu nước như vậy. Chúng
tôi yêu con người, yêu Mẹ chúng tôi, yêu Cha chúng tôi,
cũng do tiếng hát của chị. Tiếng hát của chị đã
truyền đạt tất cả những gì cao quí nhất của dân tộc
này, của con người này cho tất cả chúng tôi. Xin cảm
ơn…
Chắc
hẳn nhiều người trong chúng ta đều muốn ngỏ lời cảm
ơn như vậy. Ngay cả nhạc sĩ Phạm Duy cũng phải gửi
lời cảm ơn như vậy vì nếu không có giọng hát đó
nhạc của ông chưa chắc đã đi xa, đi cao, đi sâu đến
thế. Thái Thanh đã khiến những bản nhạc của ông sáng
tỏ hơn, phong phú hơn, gần gụi hơn với người nghe.
Tiếng hát Thái Thanh không chỉ chuyên chở tình yêu đất
nước, tình yêu con người, tình đôi lứa, tiếng hát đó
còn mang cả “Ðạo” đi rao giảng. Nhà văn
Thụy Khuê trong bài “Phạm Duy trên đăng trình đến
vô cực”, khi nói về tập “Ðạo Ca” do Phạm Duy phổ
thơ Phạm Thiên Thư, đã viết như thế này:”… giọng
hát thiên sứ Thái Thanh hướng dẫn chúng sinh –từ cõi
vô minh- lắng nghe số kiếp trầm luân của chính mình mà
vượt trùng luân hồi, tìm về bến giác.” Quả
thực nếu không phải giọng ca Thái Thanh, cái chất Ðạo
trong thơ Phạm Thiên Thư, trong nhạc Phạm Duy chưa chắc
đã được truyền đạt trọn vẹn. Cách truyền đạt
Thái Thanh rất “người”, rất “chúng ta”. Nghe giọng
hát đó chúng ta tưởng như chính là tiếng hát từ đáy
lòng mình, rất thật, rất quen, rất trọn vẹn. Cái thật,
cái quen, cái trọn vẹn đó đã khiến những bà Mẹ, bà
vợ, các chị em của những người lính gục ngã nơi
chiến trận òa lên khóc sau khi nghe Thái Thanh hát như Thái
Thanh kể về kỷ niệm của “Ðêm Màu Hồng”: “Kỷ
niệm thì nhiều, nhưng có một chuyện tôi nhớ mãi đến
bây giờ: Một hôm tôi hát bài “Kỷ Vật Cho Em” xong
thì thấy mấy bà khóc. Các bà ấy đều có chồng,có
con, có anh em tử trận. Ðiều đó thật là day
dứt.” Nói đến đây, Thái Thanh lẩm nhẩm ôn
lại: “Anh trở về, chiều hoang trốn nắng. Poncho buồn
liệm kín hồn anh. Anh trở về bờ tóc em xanh. Chiếc khăn
sô trên đầu vội vã. Em ơi…”
Hơn
50 năm Thái Thanh đã cống hiến tiếng hát cho người, cho
đời. Hơn 50 năm tiếng hát này nổi trôi theo vận nước,
trong đó 10 năm tiếng hát câm nín vì Sài Gòn câm nín, vì
“… khi người Cộng Sản vào miền Nam, tôi
thấy họ khác mình quá, cái gì cũng khác. Khác hay hay
khác dở thì tôi không bàn, nhưng tôi thấy không có gì
giống tôi, giống trước đây, thì tôi không hát….”
Đỗ
Tăng Bí,
viết
năm 2004,
rongchoicuoingay.com