Friday, March 20, 2020

Tướng Lê Minh Đảo và cảnh báo con trăn gió Trung Quốc - Nguyễn Hùng


Tướng Lê Minh Đảo và cảnh báo con trăn gió Trung Quốc

Nguyễn Hùng
https://www.voatiengviet.com/a/tuong-le-minh-dao-qua-doi/5337344.html



Vậy là vị Tướng ngồi hát cho tôi nghe vào một ngày hè tháng Năm cách đây ngót năm năm đã ra đi. Hôm đầu tuần thấy có người đưa tin ông qua đời tôi vội hỏi Trung tá Hải quân Hoa Kỳ đã hồi hưu Nguyễn Anh Tuấn, người giới thiệu tôi với Tướng Đảo năm nào, nhưng tôi thở phào vì đó chỉ là tin đồn. Nhưng tối 19/3 giờ London, Trung tá Tuấn báo cho tôi vị Tướng đã rời cõi tạm để tới một thế giới mà tôi tin ông sẽ không bị “mất nước”, chẳng bị cải tạo tới 17 năm và đường tình duyên đâu còn trắc trở.

Những lời hát tiếng Pháp ông dịch lại cho tôi nghe hè năm 2015, tôi cũng đã dịch sang tiếng Anh cho nhiều người nghe. Mỗi khi đi dạy về mạng xã hội tôi lại lấy video đã được gần 4,5 triệu lượt xem ra để làm ví dụ về chuyện những nhân vật lịch sử có sức hút công chúng tới đâu:
Tôi đã xa rời đất nước tôi
Tôi đã xa ngôi nhà của tôi
Cuộc đời tôi, cuộc đời buồn thảm của tôi
Sao tôi vô cớ kéo lê cuộc đời”
Từ chỗ là một ngôi sao trong Quân lực Việt Nam Cộng hoà trong những ngày cuối Cuộc chiến Việt Nam mà nổi bật là vai trò tư lệnh trận cầm chân quân cộng sản ở Xuân Lộc, Tướng Đảo bị đưa đi khắp các trại cải tạo từ nam ra bắc sau tháng Tư năm 1975. Trong khi nhiều vị tướng khác tháo chạy khỏi Sài Gòn trong “tháng Tư đen”, Tướng Đảo quyết ở lại bảo vệ mảnh đất quê hương. Ông cũng không để cho vợ và chín người con rời đi. Sau này khi ông đã vào tù, mười người trong gia đình ông phải tới lần vượt biên thứ hai mới có thể thoát khỏi nơi họ coi là địa ngục.
Khi tôi tới tư gia Tướng Đảo tại tiểu bang Connecticut vào chiều một ngày đầu tháng Năm năm 2015, ông mới từ California trở về sau khi tới đó dự các hoạt động tưởng niệm 40 ngày mất nước. Trung tá Nguyễn Anh Tuấn lái xe đưa tôi và một người thân từ New York xuống xuống thăm vợ chồng Tướng Đảo. Đó là người vợ thứ hai của ông và bà khá kín tiếng. Biết chúng tôi tới, Tướng Đảo thôi đi lễ nhà thờ ngày Chủ Nhật chờ khách. Hai ông bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm tối và nghỉ lại tới hôm sau. Ngôi nhà của hai ông bà ấm cúng, không quá to như nhiều ngôi nhà ở Hoa Kỳ. Tôi không khỏi có cảm giác hơi kỳ kỳ khi là người Bắc duy nhất trong bữa cơm tối hôm đó dù Tướng Đảo nói trong phỏng vấn với tôi rằng ông còn thương người Bắc hơn người Nam:
"Tới bây giờ tôi về nhà vợ tôi hỏi tôi tại sao anh thương dân miền Bắc hơn dân miền Nam, tôi nói 'Dân miền Bắc đáng thương lắm, họ đau khổ lắm, họ đau khổ hơn mình, họ đau khổ nhiều hơn mình hơn 20 năm trong chế độ cộng sản.
"Một người cộng sản đã nói với chúng tôi thế này: 'Các anh biết các anh thua, tại sao các anh thua không? Không phải tại Mỹ bỏ cái gì hết cả. Là tại anh không dám cầm súng anh bắn vô dân anh. Còn tụi tôi có chuyện [cần] làm chúng tôi vẫn phải bắn'...
Tướng Đảo kể trong thời gian cải tạo 17 năm, ông gầy tới mức có thể chui lọt kẽ nhỏ giữa tường và mái nhà tù. Có lần ông đã làm vậy để giấu bức thư ông viết gửi Tổng thống Reagan xin can thiệp để ông thoát khỏi ngục tù và có dịp nhìn thấy mẹ già lần cuối. Ông cũng thường bò sang thăm các cha tuyên uý bị giam kế bên trong ngục tù ở Sài Gòn và ông đã chính thức theo Công giáo trong một lần như thế với tên thánh Louis. Ông nói lời cầu nguyện để mong gặp lại người mẹ cũng thành hiện thực khi ông được trả tự do hồi năm 1992 và có vài tháng bên mẹ trước khi bà mất vài tháng sau đó.
Khi tôi đề nghị ông hát bài gì đó cho chủ đề cuộc nói chuyện bên sông bớt chút nặng nề, tôi đã nghĩ thế nào ông cũng hát bài Nhớ Mẹ mà ông đã sáng tác khi ở tù:
Những chiều buồn trên đất Bắc con hướng về Nam con nhớ mẹ nhiều
"Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi cứ trôi cho bạc mái đầu
"Không gian rưng rưng như sắp đứt
"Gió về nghẹn ngào như tiếng nấc
"Còn đâu quê hương hoa gấm thơm làn tóc."
Tướng Đảo tới Hoa Kỳ năm 1993 và tôi cũng không tiện hỏi ông đi bước nữa khi nào. Người vợ hai của vị Tướng rất ân cần và chu đáo. Bà chuẩn bị đồ ăn cho năm người tối hôm đó và cùng nghe Tướng Đảo kể lại những năm tháng trong ngục tù. Khi đó giọng ông vẫn sang sảng và có trí nhớ siêu phàm.
Cuộc nói chuyện của chúng tôi không thể thiếu vắng liên hệ của kết cục trong Cuộc chiến Việt Nam và vị thế của láng giềng phương bắc. Vị Tướng nói với chúng tôi:
"Tất cả nhân dân hai miền Nam, Bắc chúng ta đều thua cả. Thắng chăng, Tàu cộng nó thắng.
"Tàu cộng nó thắng vì giờ anh thấy đất nước mình... tôi cứ hình dung là một con nai và một con trăn gió.
"Con trăn gió là thằng cộng sản Tàu, còn con nai là Việt Nam mình bây giờ.
"Con trăn gió đã nuốt phân nửa con nai tới cái lưng [hồi] năm 1954.
"Rồi 1975 tới giờ nó nuốt tận cổ con nai rồi.
"Bây giờ con nai chỉ còn ló cái đầu và cái sừng ngáp ngáp thế này thôi.
"Tàu nó bất chiến tự nhiên thành.”
Trong những ngày cả thế giới đang oằn mình chống dịch mà Tổng thống Trump chẳng ngại ngần nói là vi-rút Trung Quốc, câu “Tàu nó bất chiến tự nhiên thành” lại có thêm ý nghĩa mới.
Sau cuộc phỏng vấn với Tướng Đảo, Trung tá Nguyễn Anh Tuấn và tôi cũng có trao đổi chút về chuyện thuyết phục ông viết cuốn sách để lại cho hậu thế. Nhưng rồi cả hai chúng tôi đều bận công việc, cộng thêm khoảng cách giữa London và Connecticut khiến tôi không có dịp gặp lại vị Tướng và ý tưởng về một cuốn sách cũng dừng ở đó. Trung tá Tuấn mới nhắn tin trong lúc tôi đang viết bài rằng những người muốn chia sẻ mất mát với gia đình ông có thể gửi thư về địa chỉ phanuuleminhdao@gmail.com.
Trước khi tới gặp Tướng Đảo tôi đã nhiều lần nghe bài Nhớ Mẹ của ông và giờ tôi vừa viết những dòng này vừa nghe những lời:
Giờ này hoàng hôn sắp tắt, con nghĩ gì đây, con nhớ mẹ nhiều
“Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi, cứ trôi phiêu dạt mái đầu
“Quê hương điêu linh con vẫn khóc
“Trông chờ ngày về con vẫn thắp
“Từng đôi sao đêm như ánh mắt mẹ hiền”
Tướng Đảo nói với tôi ông không hận thù những người cộng sản nhưng ông cũng quyết không trở lại một Việt Nam không có tự do. Giờ ông đã đi xa và ngày Việt Nam có tự do như ông muốn vẫn còn xa. Nhưng ít nhất giờ ông đã về gần với mẹ. Mong ông yên nghỉ sau 87 năm vất vả. Xin cảm ơn và chia buồn cùng gia quyến.




Covid-19 có thể lây trong 20 ngày và nhiễm qua đường tiêu hóa


Covid-19 có thể lây trong 20 ngày và nhiễm qua đường tiêu hóa

Nhiều nghiên cứu mới được thực hiện cho thấy Covid-19 có thể lây truyền qua đường phân - miệng và thời gian lây bệnh có thể lên đến 20 ngày.
Một loạt các nghiên cứu mới về virus Covid-19 cho thấy nó có khả năng lây nhiễm trong thời gian dài hơn các loại virus cùng loại, chẳng hạn như virus gây ra SARS, theo South China Morning Post.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng trung bình, những người mắc SARS-CoV-2 (Covid-19) có thể phát tán virus trong thời gian 20 ngày, khiến mầm bệnh lây lan thậm chí trước khi xuất hiện triệu chứng.
Virus này vẫn tồn tại trong phân của một số trẻ em. Điều này cho thấy nó có thể lây truyền qua đường phân - miệng.
Theo một nghiên cứu của nhóm nghiên cứu từ Bệnh viện Hữu nghị Trung Quốc - Nhật Bản, bao gồm chuyên gia của Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc Cao Bin, thời gian cách ly cần phải được kéo dài hơn.


Một nhân viên y tế đeo khẩu trang nói chuyện trên điện thoại di động trong phòng chăm sóc đặc biệt cho bệnh nhân nhiễm Covid-19 của bệnh viện Brescia Poliambulanza, Lombardy, ngày 17/3. Ảnh: CNBC.

“Khoảng thời gian 20 ngày sẽ đảm bảo vượt qua thời gian một người có thể phát tán virus”, ông Cao Cao Bin cho biết trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Caixin vào ngày 11/3.

Các nhà nghiên cứu ước tính rằng 44% việc lây nhiễm có thể xảy ra trước khi người nhiễm bệnh xuất hiện triệu chứng. Nghiên cứu này cho thấy sự tương đồng lớn của Covid-19 và cúm mùa hơn là SARS.
Trong một bài báo khác được xuất bản bởi tạp chí Y học Tự nhiên tuần trước, các nhà nghiên cứu ở Quảng Châu đã nghiên cứu 10 trẻ em từ 2 tháng đến 15 tuổi và thấy rằng 8 trường hợp liên tục dương tính khi lấy mẫu ở trực tràng sau khi mẫu dịch tiết ở mũi có kết quả âm tính.
Điều này cho thấy đường tiêu hóa có thể phát tán virus và đường lây truyền phân - miệng là hoàn toàn có thể xảy ra”, nghiên cứu cho biết.




Virus SARS-CoV-2 tồn tại bao lâu trên từng bề mặt?


Virus SARS-CoV-2 tồn tại bao lâu trên từng bề mặt?

 Thứ Sáu, 20/03/2020

(VTC News) - Theo nghiên cứu mới, virus SARS-CoV-2 tồn tại các khoảng thời gian khác nhau, tùy thuộc vật mà nó tiếp xúc.

Giống như virus gây các bệnh hô hấp khác, virus SARS-CoV-2 lây lan từ các giọt bắn ra từ miệng, mũi của một người nhiễm bệnh. Một cái ho có thể thả vào môi trường 3.000 giọt bắn.
Các giọt này đậu vào quần áo, bề mặt xung quanh chúng ta nhưng một số hạt nhỏ hơn lơ lửng trong không khí.
Nhóm nghiên cứu tới từ Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) mới đây làm một số thử nghiệm để xem chủng virus corona mới có thể tồn tại bao lâu trên các bề mặt khác nhau.
Thời gian tồn tại của virus corona chủng mới phụ thuộc vào bề mặt mà nó tiếp xúc. (Ảnh: NPR)
Nghiên cứu này chỉ ra rằng virus có thể tồn tại ở các giọt lơ lửng trong không khí lên tới 3 tiếng sau khi bắn ra từ một cái ho. Những hạt li ti với đường kính khoảng 1-5 micrometres, nhỏ hơn 30 lần bề ngang sợi tóc có thể tồn tại vài giờ trong không khí tĩnh.
Với hộp giấy, virus SARS-CoV-2 có thể tồn tại tới 24 giờ. Một số bề mặt nhựa và thép không gỉ có thể lưu giữ chủng virus này từ 2-3 ngày.
Nghiên cứu trên cũng lưu ý virus có thể tồn tại lâu hơn ở tay nắm cửa, bàn làm việc bọc nhựa hoặc các bề mặt cứng khác. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng nhận thấy virus sẽ bị tiêu diệt sau 4 giờ đậu trên bề mặt bằng đồng.
"Khắc tinh" của virus được liệt ra trong nghiên cứu này là cồn 62%-71%, thuốc tẩy hydro peroxide 0,5% hoặc thuốc tẩy có chứa 0,1% sodium hypochlorite. Các loại này có thể tiêu diệt virus trong vài phút.
Nhiệt độ và độ ẩm cao hơn cũng có xu hướng khiến các virus corona chủng mới chết nhanh hơn.
Vincent Munster, Trưởng bộ phận sinh thái virus tại Phòng Thí nghiệm Rocky Mountain và là thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết, nhóm của ông đang tiếp tục các thí nghiệm để nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm một cách chi tiết hơn.
"Khả năng tồn tại quá lâu của virus nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rửa tay và vệ sinh các bề mặt", ông Munster nhấn mạnh và nói thêm rằng virus này có thể lây truyền qua nhiều con đường khác nhau.

Thái Thanh – Tiếng Mẹ Sinh Từ Lúc Nằm Nôi


Thái Thanh Tiếng Mẹ Sinh Từ Lúc Nằm Nôi

Chúng tôi có cơ duyên gặp danh ca Thái Thanh nhiều lần, nhưng chỉ gần đây, 2003, 2004 mới có ý định hỏi han đôi điều về cô. Phần phỏng vấn dưới đây có sự đóng góp của Lan Anh (báo Phụ Nữ Gia Đình Người Việt) và Phạm Giao (Nhật báo Người Việt). 

Thái Thanh sinh năm 1934, là em út trong gia đình 5 anh em: anh cả là Phạm Đình Sỹ (bà Phạm Đình Sĩ là kịch sĩ Kiều Hạnh sinh ra Mai Hương, Bạch Tuyết), anh thứ là Phạm Đình Viêm tức Hoài Trung, chị là Thái Hằng, anh thứ tư là Phạm Đình Chương tức Hoài Bắc. Quê ngoại Thái Thanh ở Sơn Tây, còn cô ra đời ở làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946 cô theo gia đình tản cư vào vùng Chợ Đại, rồi Thanh Hóa là nơi Thái Hằng kết hôn với nhạc sĩ Phạm Duy. Tháng 5, 1950 gia đình cô cùng Phạm Duy bỏ vùng kháng chiến về Hà Nội, sau đó vào ngay Sài Gòn.
Suốt những năm trường sau đó cho đến khi Miền Nam bị mất, tiếng hát Thái Thanh cùng nhạc Phạm Duy bay bổng khắp nơi. Nhà văn Mai Thảo đã gọi giọng hát cô là “tiếng hát vượt thời gian”. Quả thật cho đến trăm năm nữa, tiếng hát này chắc vẫn còn ngự trị trong tâm tưởng người dân Việt, sẽ còn vang vọng như khúc quan họ giữa trời xuân.
Kết hôn cùng tài tử Lê Quỳnh năm 1956, Thái Thanh và Lê Quỳnh có 5 người: Ý Lan, Lê Việt, Quỳnh Dao tức Quỳnh Hương, Thanh Loan và Lê Đại. Khi nói đến những văn nghệ sĩ, nhất là trường hợp một nữ danh ca, ít ai để ý đến khía cạnh Bà Mẹ trong đời sống những phụ nữ này. Có tác giả đã nói đến tấm lòng Bà Mẹ của Thái Thanh trong việc nuôi dưỡng đàn con. Cô Thái Thanh đã vượt qua biết bao khó khăn, chịu đựng biết bao vất vả để giúp các con, nhất là hai người con bé nhất, có được một cuộc sống tốt đẹp.
Bây giờ chúng tôi muốn nói đến khía cạnh khác trong cuộc sống của cô, một khía cạnh càng làm lớn con người của Thái Thanh: Đó là nghị lực chống chỏi với bất hạnh của cuộc sống. Cách đây 4 năm (2000) cô bị một cơn tai biến mạch máu não (strocke), mất hết trí nhớ. Nằm trong phòng mạch bác sĩ cũng như khi ở bệnh viện cô không còn nhận ra người thân. Đôi khi cô nhận ra Quỳnh Hương, Ý Lan, đôi khi không. Ở bệnh viện về cô đã cố gắng tập luyện rất nhiều để khôi phục trí nhớ. Mấy tháng sau khi rời bệnh viện cô đã nhận biết ra nhiều điều quen thuộc, nhưng bài hát thì lẫn lộn lung tung. Không biết do nghị lực của chính cô, sức sống mãnh liệt của chính cô, hay do phép lạ mà sau đó trí nhớ cô hồi phục dần. Từ chỗ không còn nhận ra người thân, cô đã nhớ lại được từng lời bài hát.
Trong dịp đón Thụy Khuê từ Pháp qua ở nhà Y Sa, độ một năm sau biến cố trên, Thái Thanh đã thấy “ngứa ngáy” muốn giúp cho buổi tối xum họp bạn bè thêm đẹp, nhưng cô đành chỉ hát được vài câu rồi thôi vì quên lời. Vậy mà đến ngày “Lễ Của Mẹ” (Mother’s Day) năm 2004, ngày Thái Thanh và 3 thế hệ ở Majestic, Thái Thanh đã xuất hiện duyên dáng trong vai nữ sinh áo dài trắng, nón lá, cắp sách đến trường mở đầu buổi trình diễn với bài “Ngày Xưa Hoàng Thị”, và hát một loạt bài sau đó.
Chắc chắn Thái Thanh đã có một ý chí mãnh liệt, thứ ý chí giúp cô sống qua những tháng năm ở Sài Gòn đen tối, giúp cô chăm sóc các con trong cơn bệnh hoạn ngặt nghèo, rồi giúp cô hát lại được ở tuổi 70. Dưới đây chúng tôi xin ghi lại đôi lần chuyện trò với cô trước và sau khi cô bị stroke:
Hỏi: Chị bắt đầu hát năm nào, Chị còn nhớ bài hát đầu tiên?
TT.:Không nhớ rõ, nhưng về tuổi thì tôi bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi. Không nhớ rõ bài hát đầu tiên trình diễn là bài nào nhưng chắc chắn là của Phạm Duy. Hồi đó, năm tôi 14 tuổi, anh Phạm Duy cứ phải dùng tôi làm cái cái cớ lấy điểm với chị Thái Hằng, chị ruột của tôi. Năm đó Thái Hằng khoảng 21 tuổi. Không lạ gì mà hồi đó đã có bài “Dòng Sông Xanh” nhạc ngoại quốc, lời Việt. Ông Phạm Duy đã phải đặt lời Việt cho bài “Dòng Sông Xanh” để cho cô Thái Thanh bé xíu hát thì mới lấy điểm được với bà Thái Hằng.
Hỏi: Chị còn nhỏ vậy mà các cụ vẫn cho chị hát?
TT.: Bố mẹ tôi cũng là những nghệ sĩ chơi đàn cổ như đàn tranh chẳng hạn, nên cụ thông cảm. Dù không bị ngăn cấm vì “xướng ca vô loài” nhưng các anh em tôi đều được các cụ hướng dẫn là cần nhất phải học hành trước đã, đàn địch là chuyện phụ thôi, nhưng lúc chạy loạn tôi không có cơ hội học chữ nhiều nên có thể tự học ca hát. 
Hỏi: Hồi xưa kỹ thuật còn thô sơ, phương tiện không có nhiều. Chị có nghĩ là nếu hồi đó có được những phương tiện và kỹ thuật như bây giờ, Thái Thanh sẽ khác hơn không?
TT.: Hồi đó khi tôi hát, lúc tôi mười mấy tuổi, thì kỹ thuật mình đã có gì đâu. Cái micro dài thật dài và to bằng cả cái bàn tay mình. Nếu tôi đứng gần micro để tiếng hát phát ra tốt hơn thì khán giả không nhìn thấy tôi, còn nếu tôi đứng xa để khán giả thấy được khuôn mặt tôi thì tiếng hát lại không còn rõ nữa. Nếu kỹ thuật được như bây giờ thì hẳn là phải khác đi chứ. Nhưng dù sao tôi vẫn có niềm hạnh phúc mà ít ai có được là từ năm 14 tuổi tôi bắt đầu hát với cái micro to như thế cho một nhóm khán giả nghe, đến bây giờ gần 70 tuổi, tôi vẫn còn được hát và thu vào CD để gửi cho thính giả khắp thế giới nghe, nghĩa là hơn 50 năm sau tôi lại được dùng cái technique mới cho giọng hát của mình. Hạnh phúc lắm.
Hỏi: Lần đầu tiên chị xuất hiện trước công chúng là ở đâu, Hà Nội hay làng quê?
TT.: Sure là ở làng quê vì hồi đó là lúc kháng chiến. Khi đó có những ban nhạc hát cho công chúng ở vùng quê nghe. Lần đầu tiên tôi lên sân khấu ở tuổi 14, mình còn bé xíu mà đứng trước đông đảo bà con, nên tôi cũng sợ lắm. Nhưng sau khi cất tiếng hát, thì tiếng hát, âm nhạc làm tôi hết sợ mà còn cảm thấy hứng khởi, hạnh phúc, vì lúc đó tôi được đứng trong ban hợp ca gồm các anh các chị như Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, những người sau này thành ban “Thăng Long”.
Hỏi: Ban hợp ca Thăng Long được thành lập từ hồi đó?
TT.: Nói thế cũng được. Có thể nói “Thăng Long” được thành lập từ hồi kháng chiến, từ khi tôi còn nhỏ.
Hỏi: Sau này chị gia nhập đoàn kịch “Gió Nam”?
TT.: Ban hợp ca Thăng Long ở trong ban Gió Nam, tuy hai mà một. Lấy tên Gió Nam vì chúng tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi trở ra Hà Nội trình diễn, mang cái gió miền Nam ra ngoài Bắc.Hỏi: Chị có thấy là giọng chị hợp với nhạc Phạm Duy, hay là Phạm Duy sáng tác để cho chị hát?
TT.: Anh Duy lớn hơn tôi mười mấy tuổi, có lẽ muốn biết chính xác điều đó phải hỏi anh Phạm Duy. Tôi chỉ biết là kể từ bài “Dòng Sông Xanh” anh Duy đặt lời cho tôi hát, thì anh đã biết giọng hát tôi làm sao, sau đó những bài hát của anh ấy sáng tác ra thường do tôi hát đầu tiên nên chắc là anh phải chọn sao đó cho thích hợp với giọng hát Thái Thanh.Hỏi: Bài “Dòng Sông Xanh” chị hát năm 14 tuổi, như thế chị có phải tập luyện nhiều không?
TT.: Về chuyện tập luyện, lúc đó mình chưa có trường “Quốc Gia Âm Nhạc”, chưa có ai mở khóa huấn luyện hát (thanh nhạc), tôi chỉ có thể nghe đàn bài nhạc, và với tuổi 14 mà tôi hát đước bài đó, tôi nghĩ phần lớn do thiên phú. Ngay cả chuyện phát âm, trước hết tôi đọc lời ca cho đúng, và khi hát tôi phải phát âm như lúc tôi đọc chứ không thể để chữ nọ xọ chữ kia, giọng nọ xọ giọng kia. Tôi nghĩ rằng chuyện phát âm tiếng Việt một phần tôi có được cũng là chút năng khiếu trời cho.Hỏi: Một số bài hát chị có thêm thắt đôi chút mà bây giờ người ta gọi là “feeling”, chị có nghĩ đó là ưu điểm của chị, là sự sáng tạo của chị, và nhạc sĩ liệu có hài lòng không? Thí dụ như bài “Paris Có Gì Lạ Không Em”, ở phần cuối chị thêm vào khúc “Lá La La Là Lá La….”, chúng em cho rằng khúc hát thêm đó thật tuyệt vời, làm sáng hơn cái chất Paris trong bài hát. Thế nhưng liệu nhạc sĩ có đồng ý không?
TT.: Ở đây phải nói nhạc sĩ là tác giả chứ không phải người chơi đàn. Tôi vẫn nghĩ là tôi “feel” được cái bài đó phải được phát âm thế này, phải có cái đoạn mà tôi tự thêm vào. Thường thường tôi vẫn lo rằng tác giả bài nhạc không bằng lòng với lối phát âm của tôi ở khúc đó, không bằng lòng với đoạn thêm thắt của tôi, nên tôi hay phone hỏi tác giả. Tôi nói rằng bài mà tôi sắp hát của ông đây nếu tôi trình diễn thêm như thế này thì ông thấy thế nào. Hầu hết tôi nhận được lời khen của tác giả và họ đồng ý cái kiểu hát của tôi khiến bài hát hay hơn.Hỏi: Về phía người chơi đàn, ban nhạc đệm cho chị, có khi nào đang hát chị chợt thấy có cảm hứng và thêm vào, hay thay đổi cách diễn đạt, mà ban nhạc không biết trước không?
TT.: Cái đó thì chưa xẩy ra bởi vì bao giờ cũng phải tập với ban nhạc hoặc dặn dò nhau đôi chút. Muốn thêm hay bớt điều gì đó đều phải được dự trù trước, vì chính mình cũng phải nghe thử xem sự thêm bớt đó có hay không. Chưa bao giờ đứng trên sân khấu mà tôi làm chuyện đó. Nhân nói về chuyện đứng trên sân khấu, có một lần tôi đứng hát trước khán giả, người đệm piano cho tôi hát hôm đó là nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Ông đã chọn đệm cho tôi với ton Ré majeur, mà nếu hát Do majeur thì vừa với giọng tôi hơn. Khi tôi nghe intro, tức là khúc mở đầu mới có độ 3, 4 nốt của ông, tôi vẫn đứng yên tại chỗ và dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ làm thành hình chữ C ra hiệu cho ông, ông đã hiểu ý tôi ngay và chuyển từ Re xuống Do. Sau đó ông khen tôi: Tai của Thái Thanh thính quá, mới nghe mấy nốt mà đã nhận ra là Ré, không phải Do để ra hiệu cho tôi. Thái Thanh giỏi lắm.
Hỏi: Thế chị học nhạc lý ở đâu? Đọc đâu đó có viết là chị phải chui đầu vào trong cái chum để tập phát âm?
TT.: Nhạc lý cũng như là xướng âm tôi đã phải đặt mua sách từ bên Pháp, theo đó tự học, có gì khó thì hỏi anh Phạm Đình Chương. Anh Chương là thầy dậy tôi. Anh có lần nói: “Cô có cái đặc biệt là trước khi tôi dậy thì cô đã biết rồi”. Còn chuyện chui đầu vào chum thì không có đâu. Có lẽ ai đó đã đoán thôi vì thấy giọng tôi, cách phát âm của tôi khá mạnh nên họ nghĩ vậy. Cái giọng mạnh này chắc cũng là do trời cho tôi.Hỏi: Có thể nói 70% tài năng của chị là do thiên phú?
TT.: Vâng, tôi cũng nghĩ như vậy. Trời cho tôi giọng, Trời còn cho tôi hai lá phổi rất rộng. Ý Lan có lần đã nói với tôi: “Mỗi lần con nghe Mẹ hát, nghe Mẹ xướng âm, con có cảm tưởng như tất cả buồng phổi của Mẹ đã mở ra.” Đó cũng là một điều thiên phú. Nhưng có điều tôi vẫn tâm niệm rằng trời cho mình cái gì thì mình phải ôm lấy nó, trân trọng cái đó, nghĩa là phải tập luyện để giữ được nó, để làm lớn, làm mạnh nó lên. Chứ không thể cứ nghĩ thiên phú là không cần tập dượt, và còn phải yêu nó nữa thì mới có những thành tựu.Hỏi: Chị đang nói về thiên phú, vậy chị có nghĩ rằng một điều khác trời cũng cho chị là đầu óc chị, tâm hồn chị dễ dàng cảm nhận được những gì tác giả các bài nhạc muốn gửi gấm, và chị đã dùng cái thiên phú đó để truyền đạt được tâm tình tác giả đến người nghe? Nhiều người có thể xướng âm những dòng nhạc, những lời ca của nhiều tác giả, nhất là của Phạm Duy, nhưng họ không có cùng cái cảm xúc như chị, họ không “cảm” được như chị.
TT.: Tôi không biết chuyện tôi cảm thông được với các tác giả có phải là thiên phú không. Nhưng điều đầu tiên tôi muốn nói về chuyện này là người ca sĩ phải biết yêu tiếng nói của nước mình, phải yêu tiếng Việt của mình. Người ca sĩ còn phải yêu đất nước mình nữa. Khi trong bài hát có nói đến những xứ sở, những vùng nào đó trên đất nước mình, thì mình cũng phải cảm thấy yêu cả những địa danh đó nữa, Miền Trung, Miền Nam, Miền Bắc. Đặc biệt tôi sinh ra ở Hà Nội thì khi đọc đến hai chữ Hà Nội tôi cảm thấy một tình cảm yêu mến vô bờ. Nếu mình không yêu chữ của nước mình thì giống như mình hát một bài hát ngoại quốc vậy. Thí dụ đọc đến chữ “em bé quê” là mình cảm thấy dào dạt tình thương yêu các em nhỏ sống ở những vùng quê nghèo nàn, tôi nói yêu chữ nước mình là vậy. Còn một chuyện nữa là tôi yêu người nghe, luôn luôn tôn trọng khán thính giả. Tôi rất thận trọng khi hát.Hỏi: Thưa chị, về một trường hợp cá biệt, khi nghe chị hát bài “Hương Ca Vô Tận” của Trầm Tử Thiêng, khán thính giả thấy chị hầu như đã diễn đạt được hết cái tâm tình của nhạc sĩ, trong đó có cả phần tâm tình của chị. Có phải chị đã được tác giả chia sẻ chút ít về bài hát đó?
TT.: Tôi đã hát bài đó của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cách đây nhiều năm, khi chúng tôi còn ở Việt Nam. Với ca sĩ được làm thân, được nói chuyện với các nhạc sĩ là điều rất thú vị vì mình hiểu biết hoàn cảnh các bài hát hơn. Khi nói chuyện với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tôi mới biết ý của ông trong những lời ca. Trong bài có những câu như “Hát nữa đi hương…”, nhiều khán thính giả tưởng “hương” là tên một người con gái, nhưng có nói chuyện với ông mới biết chữ “hương” là ông muốn nói đến “quê hương.”Hỏi: Chúng ta qua một chuyện khác. Người đời thường hay dè bỉu những bài nhạc đại chúng, được đông đảo quần chúng ưa thích vì giai điệu, cấu kết giản dị, dễ dãi. Họ gọi đó là loại nhạc “sến”. Chị có nghĩ là nên gọi như vậy không, nên phân biệt như vậy không, và chị có hát những bài hát đó không? Chị có thích đặc biệt một nhạc sĩ nào không?
TT.: Dùng chữ “sến” để chỉ nhưng bài nhạc đó là thiếu lịch sự, và chắc chắn là tôi có hát những bài loại đó. Ngày xưa, có một ông nhạc sĩ nay đã mất rồi, tôi không nhớ rõ tác giả nào, nói với tôi thế này: “Thái Thanh ạ, nếu có một loại nhạc gọi là nhạc sến thì tôi xin làm sến, vì Thái Thanh mới trình bày một bài hát với hình ảnh đẹp đẽ quá, tươi tắn quá, và nếu tôi là sến tôi sẽ may cái áo thật đẹp để mặc.” Còn bảo rằng thích đặc biệt một nhạc sĩ nào thì câu trả lời là không. Thích một bài hát nào thì tôi hát bài đó với tất cả tâm hồn, không cứ bài đó là của ai. Thực ra cũng có thể nói là những bài của Phạm Duy, Phạm Đình Chương, vì là những người trong gia đình, nên khi chúng chưa ra ngoài thính giả thì tôi đã được nghe trong gia đình, tôi đã được các ông ấy gọi ra để hát thử từng đoạn trước khi tác phẩm hoàn thành, đương nhiên những bài của hai ông ấy tôi hát nhiều.
Hỏi: Vậy thì cũng xin chia sẻ với chị kinh nghiệm này, hồi còn trẻ, còn sinh viên, quả thực bọn em có thái độ phân biệt với những bài hát giai điệu dễ dãi. Phải đợi đến khi nằm tù ở Thanh Hóa 7, 8 năm trời, lúc đó em mới thấy hết giá trị của những bài bị gọi là sến kia. Lúc đó, giai điệu, lời ca những bài đó sao thấm thía đến thế. Lúc đó nghe “Nghìn Trùng Xa Cách” em không khóc như khi nghe “Xuân Này Con Không Về”, hoặc nghe “Phố Buồn” em cũng chỉ thấy sao xuyến như nghe bài gì của Trúc Phương có câu “đèn khuya mắt đỏ…” Lúc đó em mới nhận ra những bài hát đó thực sự là tiếng nói, tâm tình của đa số người dân miền Nam, của mọi người.
 Bây giờ xin đi đến một câu hỏi khác: Sau 1975, chị còn ở trong nước, chị có hát không, chị sống như thế nào?
TT.: Nói đúng ra thì tôi không hát. Lý do là vì khi người Cộng Sản vào miền Nam, tôi thấy họ khác mình quá, cái gì cũng khác. Khác hay hay khác dở thì tôi không bàn, nhưng tôi thấy không có gì giống tôi, giống trước đây, thì tôi không hát. Sau khi mời tôi không được thì tôi “được” họ cấm hát, thế thì tốt quá. Họ nói tiếng hát Thái Thanh là của “Ngụy”, chứ không phải của họ. Tôi kể câu chuyện nhỏ này: Cô Kim Cương mấy lần đến nhà tôi ở đường Cống Quỳnh, nói rằng “chị ở căn nhà này chật hẹp, nóng nảy quá”, ngỏ ý muốn mời tôi đến ở cùng nhà với cô ấy, vì tôi chỉ có một thân một mình, và cô ấy cho rằng tôi sống trong hoàn cảnh khổ quá. Kim Cương ở một ngôi nhà lớn, có máy lạnh, nước nóng nước lạnh. Cô ấy khéo lắm, nói rằng “Không phải em mời chị đến để rồi yêu cầu chị hát đâu, từ ngày xưa em đã tự bảo rằng chỉ cho tôi hát một ngày được như Thái Thanh thì sau đó có phải chết tôi cũng bằng lòng.” Cô ấy khéo thế đấy. Nhưng tôi từ chối viện lý do là tôi ở đâu quen đó, lại gần chợ nữa, và tôi không làm việc nổi vì các con tôi đều ở xa, tôi nhớ chúng lắm chẳng bụng dạ nào đi hát cả. Còn về đời sống, tôi cứ bán dần đồ đạc, nữ trang đi để mà sống qua ngày vì tôi có làm gì ra tiền. Đến bây giờ tôi rất hài lòng vì tránh được mọi điều ép buộc của nhiều người lúc đó.
Hỏi:
 Bây giờ thì đến một câu hỏi khá riêng tư không biết chị có vui lòng trả lời không. Thực ra chị là người của công chúng, chị có thể chia sẻ mọi điều với công chúng. Câu hỏi thế này: Chị là người duyên dáng, khả ái, có đôi tay đẹp, nhất là đôi mắt vô cùng thu hút, vậy không biết các chàng trai trẻ từ xưa đến giờ bị chị thu hút đến thế nào, chị tiết lộ được không?
TT.: Cô ca sĩ hay hát Trịnh Công Sơn, cô Khánh Ly, trước ngày mất nước, tức là cách đây hơn hai chục năm, có lần nói với tôi thế này: “Nếu cháu là chồng của cô, cháu đành phải để cô đi hát trước khán giả, nhưng cháu sẽ giữ hai bàn tay cô ở lại nhà, cháu không cho ai được nhìn hai bàn tay ấy khi cô hát.” Còn chuyện các chàng trai trẻ, thì trong cuộc sống chúng ta mấy chuyện đó cũng như nhau thôi.Hỏi: Thí dụ trong ban Gió Nam có anh Trần Văn Trạch, một người trình diễn thành công rất mê chị?
TT.: Anh Trạch là một người kín đáo, trước khi mất anh ấy mới nói cho mọi người biết anh ấy mê Thái Thanh. Tôi chỉ nhận thấy là anh ấy hay đến nhà chơi với các anh các chị, và hay nhìn tôi. Lúc đó mình còn trẻ quá. Thực ra cho đến bây giờ chuyện tình cảm của Thái Thanh cũng kỳ cục lắm, phải nói thẳng ra là “này cô Thái Thanh, tôi thế này, tôi thế nọ” thì Thái Thanh mới biết, mới tin, vì khán giả yêu mình cũng biểu lộ như vậy, làm sao mình biết được ai yêu mình thật, ai mê tiếng hát của mình thôi. Có nói ra tận miệng thì tôi mới biết: “ủa, vậy hở!”Hỏi: Còn với những văn nghệ sĩ miền Bắc gặp chị sau 75 thì sao, có cán bộ nào “nói thẳng” với chị không?
TT.: Ai cũng thấy thái độ bất hợp tác của tôi thì còn cán bộ nào tìm đến nữa. Mà có “nói thẳng” thì câu trả lời cũng không là “Me too” đâu đấy nhé. Với các anh chị văn nghệ sĩ như Văn Cao, Hoàng Cầm,… đều đến gặp tôi, đôi khi cũng nói để cho mình vui lòng ấy mà, như anh Văn Cao nói thế này: Nếu tôi còn trẻ thì thế nào cũng xin cưới Thái Thanh. Anh ấy bông đùa như vậy nhưng tôi cũng không dám trả lời “Me too!”Hỏi: Nhưng rõ ràng sau khi chị ly dị với anh Lê Quỳnh, chị có một khuôn mặt mới trong cuộc đời là ông chủ khách sạn Catinat?
TT.: Anh Phạm Đình Chương mở phòng trà “Đêm Màu Hồng” trong khách sạn Catinat, nên biết anh Trần Quý Phong. Mới cách đây mấy hôm (Tháng Hai, 2004), trong khi nói chuyện điện thoại với anh Phong, tôi có hỏi anh ấy rằng “Thế thì anh mê Thái Thanh từ khi biết ở Đêm Màu Hồng hay là mê từ khi nghe Thái Thanh hát”, anh ấy trả lời lâu rồi chứ, đâu phải đợi đến Đêm Màu Hồng. Thực ra sau đó anh Phong đã ly dị, và tôi cũng đã ly dị một thời gian rồi, anh ấy đang tìm chỗ để tổ chức đám cưới thì xẩy ra 30 Tháng 4, 1975.Hỏi: Sau 1975 thì sao và bây giờ anh ấy ở đâu?
TT.: Tôi đi Mỹ khi anh Phong còn ở tù. Sau 14 năm anh được thả nhưng không đi Mỹ vì anh còn mẹ. Sau khi cụ mất anh ấy mới xin đi Mỹ và hiện ở Atlanta.Hỏi: Nếu bọn em mua vé máy bay mời chị đi Atlanta thì sao?
TT.: Xin cám ơn cô chú nhưng không đi được vì chúng tôi chưa cưới hỏi, phải không? Mà nếu chỉ là bạn bè thì đâu cần đi xa đến thế.Hỏi: Chị nhớ một kỷ niệm nào ở Đêm Màu Hồng?
TT.: Kỷ niệm thì nhiều, nhưng có một chuyện tôi nhớ mãi đến bây giờ: Một hôm tôi hát bài “Kỷ Vật Cho Em” xong thì thấy mấy bà khóc. Các bà ấy đều có chồng, có anh em tử trận. Điều đó thật là day dứt.Hỏi: Năm 1985 chị qua đến Hoa Kỳ, mọi người vui mừng đón tiếp chị trong đêm tái ngộ Thái Thanh ở hải ngoại, sau đó chị không có hoạt động gì nhiều về văn nghệ?
TT.: Sau đêm đó, một số “bầu sô” mời tôi hợp tác. Tôi không dám nhận lời nhiều vì lý do còn phải đi học ESL, thời gian học này kéo dài mấy năm. Về sau tôi chỉ ghi đĩa với cô Thái Xuân (Trung tâm Diễm Xưa) vì Thái Xuân chịu chiều theo ý tôi. Thí dụ mỗi CD thỉ có một mình tôi hát chứ không xen lẫn nhiều người. Tôi rất cảm ơn Thái Xuân vì cô ấy đã cố gắng làm mọi điều theo yêu cầu của tôi, như có bài hát tôi cần tiếng đàn tay chứ không phải đàn điện thì dù tốn kém mấy cô ấy cũng mua, khi thu băng đôi khi tôi cần tiếng đàn harp, cô ấy cũng chiều dù cho tiền thuê loại đàn đó cũng như tiền trả cho người chơi rất đắt. Trong một bài hát nhiều khi cần cả mấy thứ đàn đó, nhưng đàn tay vẫn là thứ tôi thích nhất, tiếng đàn đó “có lòng nhất”. Hồi xưa tôi thường thích ban nhạc Nghiêm Phú Phi đệm, sau này cô Thái Xuân đã chọn ban nhạc toàn người Mỹ để đệm cho tôi.
Chúng ta vừa mới đọc qua đôi điều thú vị về Thái Thanh, người ca sĩ lớn lao của đất nước Việt Nam. Gia đình cô còn sinh ra những người con nổi tiếng: Ý Lan, Quỳnh Hương, Thanh Loan đã nổi tiếng trong giới nghệ thuật, truyền thanh, Lê Việt đã tốt nghiệp kỹ sư còn nhất định lấy thêm bằng bác sĩ y khoa, và đặc biệt Lê Đại từ một thanh niên bị tê liệt vẫn kiên trì học để tốt nghiệp đại học, đi làm trong dòng chính của Mỹ. Tất cả những ý chí, tài hoa đó hẳn phần nào được Thái Thanh truyền cho. Trong đêm Thái Thanh và 3 thế hệ, đàn con cháu xum vầy chung quanh, tất cả đều cất lên tiếng hát ngợi ca Mẹ và Bà, ngay chàng bác sĩ Lê Việt cũng đã chứng tỏ là có một giọng ca truyền cảm, và một cung cách thật chân chất, khiêm nhường.

***
Chiếc xe van chạy trên đường Magnolia, hướng về phía Bắc. Lan Anh quay lại hỏi: “Chị ơi, bây giờ mình đi ăn ở đâu?” Thái Thanh trả lời: “Ði ăn cơm ở Nguyễn Huệ đi. Ở đấy cơm gà ngon lắm.” Ngừng vài giây, cô nói tiếp: “Nhưng mà này, lát nữa đưa chị về, cô nhớ nhắc chị đưa cho thịt đông và dưa chua đấy nhé. Chị gói sẵn rồi.”
Xe quẹo yên ổn vào đường Bolsa rồi Lan Anh mới quay lại hỏi tiếp:
–          Chị cũng mua thịt đông và dưa chua ở Nguyễn Huệ à?
–          Không, ở đó ăn cũng được nhưng chị làm lấy. Làm lấy được cái bảo đảm là sạch, lành mạnh, và đúng ý mình muốn. Chị làm món ăn khéo lắm, cô không ngờ được đâu.
Quả thực đó là một trong nhiều điều bất ngờ về Thái Thanh. Chúng ta quen hình dung cô trên sàn diễn, khi đang hát, hoặc qua những đĩa, băng nhạc. Chúng ta thường nhớ đến Thái Thanh như một đệ  nhất danh ca và quên mất Thái Thanh trong đời thường như  một bà mẹ, một người nội trợ thích nấu ăn, một phụ nữ thích mặc đẹp, ăn ngon, kể cả ăn quà vặt. Năm nay (2004), ở tuổi 70, Thái Thanh vẫn cần mẫn làm các món dưa chua, củ cải ngâm nước mắm, kho cá thu, làm thịt đông, và nhiều món nữa. Cô vẫn say sưa kể về cách làm các món ăn “Bắc Kỳ chính cống”, nào là ở quê mình cây cải trước khi đưa vào muối phải phơi cho heo héo một chút, rồi nước muối phải pha làm sao, bây giờ ở Mỹ, có lò nướng, có microwave, mình phải cắt củ cải làm sao, sấy làm sao, pha nước mắm thế nào.
 Thực tình những món cô làm đều rất ngon, hương vị giống như hồi xưa tôi vẫn được Mẹ tôi nấu cho ăn, như món cá thu kho riềng chẳng hạn. Hồi còn sinh tiền khi làm món cá kho này, Mẹ tôi thường nướng cá thu cho xem xém, thịt hơi săn lại một chút, rồi Bà nhét mấy miếng thịt ba chỉ sắt khúc vào giữa con cá. Khi kho, ngoài chuyện thêm nước mắm, lót những lát riềng, Bà còn lót một lớp trà mạn không ướp hương hoa gì cả xuống đáy nồi. Trong “căn hộ” một phòng, có bếp gas, có lò nướng, có microwave, tủ lạnh, tôi không biết Thái Thanh xoay sở làm sao để kho được nồi cá  thu, chỉ biết rằng bà rất thích thú nói về món ăn, về nghệ thuật  nấu món ăn với những phương cách cầu kỳ như vậy. Tôi tưởng tượng khi bà đang nấu nướng, chắc toàn bộ con người bà, thân, trí và tâm bà đều chú tâm vào chuyện nấu nướng y như khi hát vậy. Trong một lần cùng bà đi mua “thức ăn” cho hoa lan, bà nói: “Cư xử với cây khó lắm, nhất là hoa lan, không như cư xử với người đâu. Nếu mình không chăm xóc tử tế, không khéo, không làm đúng những gì mình phải làm, thì cây nó bỏ đi. Còn với người, người ta sẵn sàng chịu đựng nhau, đôi khi người ta giả dối để vẫn liên lạc với nhau vì những điều gì đó. Còn với cây, mình có yêu cây thì cây mới ở lại.” Thái Thanh đời thường là thế.
Từ đó đến nay, hơn nửa thế kỷ trôi qua, tiếng hát Thái Thanh vẫn triền miên chuyên chở đến mọi người Việt Nam biết bao niềm xúc cảm của một kiếp người. Tiếng hát đó như gắn liền với định mệnh của cả dân tộc ta, đất nước ta. Trong một buổi hội thoại với thính giả của đài phát thanh Văn Nghệ Truyền Thanh qua chương trình giới thiệu buổi trình diễn của Thái Thanh và các con năm 1996, một thính giả gọi vào đài để nói với Thái Thanh, đại ý như thế này: Vợ chồng chúng tôi xin cảm ơn chị Thái Thanh, bởi vì chúng tôi đã lớn lên, trưởng thành theo tiếng hát của chị. Chúng tôi yêu nhau, lấy nhau qua tiếng hát của chị. Chúng tôi yêu nước nồng nàn, mãnh liệt cũng vì tiếng hát của chị đã gieo cho chúng tôi lòng yêu nước như vậy. Chúng tôi yêu con người, yêu Mẹ chúng tôi, yêu Cha chúng tôi, cũng do tiếng hát của chị. Tiếng hát của chị đã truyền đạt tất cả những gì cao quí nhất của dân tộc này, của con người này cho tất cả chúng tôi. Xin cảm ơn…
Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đều muốn ngỏ lời cảm ơn như vậy. Ngay cả nhạc sĩ Phạm Duy cũng phải gửi lời cảm ơn như vậy vì nếu không có giọng hát đó nhạc của ông chưa chắc đã đi xa, đi cao, đi sâu đến thế. Thái Thanh đã khiến những bản nhạc của ông sáng tỏ hơn, phong phú hơn, gần gụi hơn với người nghe. Tiếng hát Thái Thanh không chỉ chuyên chở tình yêu đất nước, tình yêu con người, tình đôi lứa, tiếng hát đó còn mang cả “Ðạo” đi rao giảng.  Nhà văn Thụy Khuê trong bài “Phạm Duy trên đăng trình đến vô cực”, khi nói về tập “Ðạo Ca” do Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư, đã viết như thế này:”… giọng hát thiên sứ Thái Thanh hướng dẫn chúng sinh –từ cõi vô minh- lắng nghe số kiếp trầm luân của chính mình mà vượt trùng luân hồi, tìm về bến giác.” Quả thực nếu không phải giọng ca Thái Thanh, cái chất Ðạo trong thơ Phạm Thiên Thư, trong nhạc Phạm Duy chưa chắc đã được truyền đạt trọn vẹn. Cách truyền đạt Thái Thanh rất “người”, rất “chúng ta”. Nghe giọng hát đó chúng ta tưởng như chính là tiếng hát từ đáy lòng mình, rất thật, rất quen, rất trọn vẹn. Cái thật, cái quen, cái trọn vẹn đó đã khiến những bà Mẹ, bà vợ, các chị em của những người lính gục ngã nơi chiến trận òa lên khóc sau khi nghe Thái Thanh hát như Thái Thanh kể về kỷ niệm của “Ðêm Màu Hồng”: “Kỷ niệm thì nhiều, nhưng có một chuyện tôi nhớ mãi đến bây giờ: Một hôm tôi hát bài “Kỷ Vật Cho Em” xong thì thấy mấy bà khóc. Các bà ấy đều có chồng,có con,  có anh em tử trận. Ðiều đó thật là day dứt.” Nói đến đây, Thái Thanh lẩm nhẩm ôn lại: “Anh trở về, chiều hoang trốn nắng. Poncho buồn liệm kín hồn anh. Anh trở về bờ tóc em xanh. Chiếc khăn sô trên đầu vội vã. Em ơi…”
Hơn 50 năm Thái Thanh đã cống hiến tiếng hát cho người, cho đời. Hơn 50 năm tiếng hát này nổi trôi theo vận nước, trong đó 10 năm tiếng hát câm nín vì Sài Gòn câm nín, vì “… khi người Cộng Sản vào miền Nam, tôi thấy họ khác mình quá, cái gì cũng khác. Khác hay hay khác dở thì tôi không bàn, nhưng tôi thấy không có gì giống tôi, giống trước đây, thì tôi không hát….” 

Đỗ Tăng Bí,
viết năm 2004,
rongchoicuoingay.com




Sai Một Ly Đi Một Dậm


 Sai Một Ly Đi Một Dậm

Hôm qua, đứa em gởi cho mình hai bức hình và hỏi tại sao cùng một thông điệp nhưng bức ảnh của Unesco được đón nhận, còn bức ảnh theo trend của Việt Nam thì lại bị cộng đồng ném đá? Việc ném đá ấy có sai không? Sự đúng sai nằm ở đâu? Có phải vì những người ném đá ấy ghét chế độ nên người của chế độ, kể cả công nhân viên chức, làm gì người ta cũng thấy sai, thấy ghét?

Vừa đọc câu tiếng Anh và câu tiếng Việt trong hai bức ảnh, mình lập tức hiểu vấn đề:

1. Dịch không thoát ý.
Câu tiếng Anh: We stayed at work for you. Please stay at home for us.

Đây là một lời nhắn gởi của đội ngũ y bác sĩ Châu Âu, nơi đang bùng phát dịch bệnh với số người nhiễm rất cao và công dân được khuyến cáo không nên tụ tập đông người, không nên đi ra đường nếu không thực sự cần thiết để tránh lây nhiễm thêm và làm cho tình hình không còn có thể kiểm soát cũng như không còn đủ phương tiện, nhân lực để chữa trị. Những y bác sĩ tại những nơi đó đang túc trực tại bệnh viện, nơi họ làm việc, để chữa trị cho người bệnh hoặc nghiên cứu vacxin. Họ đưa ra thông điệp trên là điều đúng đắn và rất nhân văn, như một lời kêu gọi mỗi người hãy vì nhau, vì cộng đồng một chút.

Câu dịch sang tiếng Việt của những y bác sĩ trong hình 2 (bệnh viên Nhi Đồng) là một câu dịch không thoát ý và do đó làm sai nghĩa của thông điệp. Thay vì nói, "Chúng tôi ở lại nơi làm việc vì bạn. Xin bạn hãy ở nhà vì chúng ta" thì mới sát nghĩa của thông điệp thì các anh chị lại nói, "Chúng tôi phải ĐI LÀM vì bạn. Xin bạn Ở NHÀ vì CHÚNG TÔI." Nhấn mạnh cái ý "phải ĐI LÀM" trong trường hợp này là cực dở, nếu không nói là tệ. Các bác sĩ Châu Âu phải đi làm, nhưng họ không nói họ phải đi làm. Họ chỉ nói họ ở lại nơi làm việc, một cách khiêm tốn, rất đúng đắn theo tinh thần chủ nghĩa nhân bản. Còn anh chị Việt Nam ta thì lại đề cao sự hi sinh lợi ích cá nhân của mình, đọc thông điệp thấy rõ họ bắt buộc phải thực hiện việc đi làm, không hề tôn vinh giá trị tự nguyện như trong thông điệp của câu tiếng Anh. Thái độ rất kể cả, dường như chỉ mỗi mình họ là đang hi sinh!

Đấy!

2. Ngôn ngữ là lớp vỏ của tư duy. Tư duy như thế nào thì ngôn ngữ như thế ấy.

3. Họ bị ném đá có oan không? Tôi chưa đọc hết những lập luận của những người ném đá nên không thể nói. Nhưng, thay vì ném đá họ, hãy phân tích để họ hiểu và sửa lại tư duy cũng như sửa lại câu thông điệp cho đúng giá trị và tinh thần của y bác sĩ.



Thursday, March 19, 2020

Địa Điểm Xét Nghiệm Corona Virus Miễn Phí Theo Từng Khu Vực Trên Toàn Nước Mỹ


Địa Điểm Xét Nghiệm Corona Virus Miễn Phí Theo Từng Khu Vực 

Trên Toàn Nước Mỹ



Tài trợ chuỗi cung ứng châu Á - Nguyễn Xuân Nghĩa


Tài trợ chuỗi cung ứng châu Á


Từ 10 ngày qua, thế giới bị hoảng loạn về hậu quả của dịch bệnh xuất phát từ Trung Quốc và Á Châu rồi lan ra hơn 100 quốc gia và khu vực trên thế giới. Nền kinh tế tương đối khả quan nhất là Hoa Kỳ cũng có triệu chứng hốt hoảng trong mấy ngày liền. Nhưng Châu Á còn là tâm điểm của chuỗi cung ứng vây quanh Trung Quốc. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về một khía cạnh bất ngờ, đó là các nước tài trợ chuỗi cung ứng đó bằng gì?
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, ngoài hậu quả đột ngột từ trận chiến về giá dầu thô giữa Á Rập Xaođi với Liên bang Nga, thế giới vẫn chưa biết đại dịch từ vi khuẩn Covid-19 sẽ còn hoành hành bao lâu, với hiệu ứng gì cho các nền kinh tế Á Châu. Ông nghĩ sao về vấn đề này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ngoài khía cạnh nhân sinh khi toàn cầu có hơn 10 vạn người nhiễm bệnh, hơn bốn nghìn tử vong, mà ba phần tư là tại Trung Quốc, ta thấy dịch bệnh này đang thật sự là đại dịch vì lan ra 105 quốc gia và khu vực trên thế giới. Vì vậy, nếu các nước có hốt hỏang thì cũng là điều có thể hiểu được.
Châu Á không chỉ là tâm điểm của dịch bệnh từ đó lan ra toàn cầu. Khu vực này còn là tâm điểm của chuỗi cung ứng toàn cầu, hay “global supply-chain” vây quanh Trung Quốc, có sản lượng thứ nhì thế giới.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
- Nói về kinh tế - vốn là chủ điểm của tiết mục chuyên đề này – Châu Á không chỉ là tâm điểm của dịch bệnh từ đó lan ra toàn cầu. Khu vực này còn là tâm điểm của chuỗi cung ứng toàn cầu, hay “global supply-chain” vây quanh Trung Quốc, có sản lượng thứ nhì thế giới. Ngày nay, kinh tế Trung Quốc thật sự bị đình đọng mà mọi nơi khác cũng đang bị ảnh hưởng, từ Á sang Âu. Các kỹ nghệ du dịch, vận tải, hàng không, v.v. bị tạm ngưng, mọi sinh hoạt có đông người đều bị tạm hoãn. Quan trọng nhất, việc sản xuất hàng hóa cơ phận cho chuỗi cung ứng toàn cầu cũng bị gián đoạn. Khi số cung lẫn cầu  đều giảm thì khu vực trung gian ở giữa là ngành tài trợ cung ứng phải hốt hoảng và thị trường tài chính bị dao động.

Chuỗi cung ứng toàn cầu

Nguyên Lam: Nguyên Lam xin đề nghị ông đi từng bước để giải thích lại cho thính giả của chúng ta, trước hết, thế nào là chuỗi cung ứng toàn cầu?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi các nền kinh tế hợp tác với nhau để tùy theo lợi thế tương đối của từng nơi về nhập lượng như nguyên liệu, kỹ thuật, hay phí tổn mà chế biến ra một sản phẩm hoàn tất rẻ nhất và tốt nhất hầu có thể bán ra toàn cầu, họ đã lập ra một chuỗi cung ứng. Thí dụ là nền kinh tế này bán nguyên nhiên vật liệu, nền kinh tế kia cung cấp nhân công có tay nghề, nền kinh tế khác thì có công nghệ hay thuật lý cao để cung cấp sản phẩm công nghiệp hay bán chế phẩm, rồi ráp thành một sản phẩm hoàn tất cho một nền kinh tế khác phân phối ra toàn cầu.
- Hãy ngĩ tới xe hơi Toyota hay Honda của Nhật, điện thoại Samsung của Hàn Quốc có nhiều cơ phận ráp chế tại Trung Quốc để bán ra ngoài. Châu Á tập trung hiện tượng hợp tác quốc tế đó quanh Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, v.v. Điều đáng nói là đa số các nghiệp vụ sản xuất và thanh toán đó đều sử dụng Mỹ kim, dù sao vẫn là ngoại tệ phổ biến nhất.
Nguyên Lam: Tức là ông bước qua mặt bên kia, là đối giá tài chính của chuỗi cung ứng, có phải không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, và đấy mới là khía cạnh khó hiểu nhất mà lại có ảnh hưởng quốc tế bất ngờ vì liên hệ đến chính sách tiền tệ của nước Mỹ.
- Ngân hàng của các nước Á Châu kể trên tài trợ chuỗi cung ứng của họ chủ yếu bằng đô la Mỹ mà lại không dễ gì tìm ra. Khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn và thiếu thanh khoản thì vấn đề của họ dội ngược về Hoa Kỳ, về các ngân hàng Mỹ và về định chế tài trợ sau cùng là Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ.
- Như chúng ta thấy khi Ngân hàng Trung ương Mỹ hạ lãi suất tới 50 điểm cơ bản vào hôm Thứ Ba mùng ba tuần trước mà lại gây hốt hoảng thì có lẽ thế giới có ba tâm điểm như ba vòng xoáy. Ở trong là tâm điểm của đại dịch từ Châu Á đang làm toàn cầu náo động mà chưa biết bao giờ dứt. Ở vòng ngoài là tâm điểm của chuỗi cung ứng cũng từ Châu Á đang bị đình trệ và gây ra suy trầm. Ngoài cùng là chuỗi cung ứng tài chính Á châu lại thiếu thanh khoản bằng đô la Mỹ.
Nguyên Lam: Như ông vừa nói, chuyện này khó hiểu thật! Nếu vậy, ta sẽ đi ngược từ vòng ngoài vào trong, từ tình hình kinh tế của Hoa Kỳ, Chúng ta hãy nhìn trên toàn cảnh như thế này. Trong các nền kinh tế tiên tiến thì Hoa Kỳ và Vương quốc Anh thống nhất đã có giai đoạn tăng trưởng lâu dài và khả quan nhất. Các nước trong khối Euro như Đức, Pháp, Ý, và nhất là Ý, lại không được như vậy và đang ở mé bờ khủng hoảng tài chính vì dịch bệnh. Vậy mà hôm Thứ Tư 11, nước Anh bất ngờ thông báo là cắt lãi suất 50 điểm tới 0,25% vì hiệu ứng đại dịch trên chuỗi cung ứng của họ.
- Khi so sánh thì kinh tế Hoa Kỳ vẫn có sức chịu đựng cao nhất, với nền kế toán tài chính an toàn hơn cả nên sẽ vượt qua khó khăn. Nhưng, đại dịch vẫn gây ra hốt hoảng như chúng ta đã thấy tuần qua khiến các cơ chế của Mỹ tranh luận về hai loại biện pháp tiền tệ và ngân sách để ứng phó. Tiền tệ là hạ lãi suất và bơm tiền, ngân sách là tăng chi và giảm thuế nhằm cấp cứu các thành phần bị nạn.

Dựa lưng nỗi chết”

Nguyên Lam: Bây giờ các ngân hàng Á Châu lại trông chờ vào Hoa Kỳ để có thanh khoản cho chuỗi cung ứng của họ thì Ngân hàng Trung ương Mỹ nghĩ sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đến chữ “dựa lưng nỗi chết”!
- Sau vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 rồi nạn Tổng suy trầm 2008-2009, các nền kinh tế Tây phương như Âu-Mỹ đều theo Nhật mà hạ lãi suất tới gần số không, thậm chí số âm, và gây lệch lạc cho kinh tế. Ngày nay, mức lãi suất đó vẫn còn quá thấp nên khó cắt thêm được, nếu kinh tế bị sa sút vì đại dịch.
- Vì vậy, chúng ta chứng kiến một nghịch lý ngay tại Hoa Kỳ. Chính quyền của Tổng thống Donald Trump phàn nàn Ngân hàng Trung ương Mỹ là chậm hạ lãi suất để kích cầu, nhưng định chế này thật ra gần hết đất lùi với lãi suất quá thấp. Hậu quả là tuần qua, họ nói về biện pháp ngân sách là giảm thuế và tăng chi cho các đối tượng bị thiệt hại trong một thời gian nhất định. Mà ta đừng quên rằng các nước Tây phương theo chế độ dân chủ nên biện pháp ngân sách phải có sự phối hợp giữa Hành pháp với Lập pháp và đòi hỏi thời gian với sự đổi chác. Đấy là lúc các ngân hàng Á Châu gõ cửa vì thiếu thanh khoản bằng đô la.
Nguyên Lam: Thưa ông, nếu vậy thì mọi sự đều bế tắc hay sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hơn 10 năm qua, các Ngân hàng Trung ương Tây phương đều theo nhau hạ lãi suất tới số không nên gây lệch lạc như tôi vừa nói: Tiền nhiều mà rẻ chưa chắc đã giải quyết được nhu cầu kinh tế mà còn tạo ra lợi thế cho giới đầu tư cổ phiếu làm giới đầu tư trái phiếu bị thiệt vì phân lời thấp.
Sự hoảng loạn của viêc chen lấn mua hàng hóa còn nguy hơn dịch bệnh! Lý do là các hệ thống phân phối đó, như Costco, WalMart, Kroger, v.v… bán hàng tiêu dùng hay nhu yếu phẩm và “cái được” của họ không thể bù cho “cái mất” của quá nhiều ngành khá. Cứ xem lợi nhuận hay trị giá cổ phiếu của họ trong tháng qua thì rõ. Nhưng chính là sự hốt hoảng ấy mới càng gây thêm tổn thất kinh tế.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
- Trong khi chờ đợi biện pháp ngân sách đạt sự đồng thuận chính trị tại Hoa Kỳ, Ngân hàng Trung ương Mỹ có thể trở lại bài toán tài chính căn bản với các ngân hàng Á Châu để chuỗi cung ứng ở đây khỏi sụp đổ. Ấy là “nếu quý vị cần thanh khoản thì chúng tôi có nhiều cách bơm tiền cho vay với hai điều kiện dễ hiểu, 1/ là trả tiền lời cho cao chứ không là gần tới số không để rồi lại ỷ thế rẻ mà làm liều; 2/ phải có tài sản thế chấp thỏa đáng”.

Kết luận

Nguyên Lam: Câu chuyện này quả là phức tạp, nhưng Nguyên Lam vẫn phái xin ông nêu ra vài kết luận ở đây.
- Thứ nhất, chúng ta đang chứng kiến sự hốt hoảng của các nước vì đại dịch toàn cầu, lồng trong sự hốt hoảng về hậu quả kinh tế tài chính. Thứ hai, tâm điểm của đại dịch cũng là tâm điểm của chuỗi cung ứng kinh tế tại Á Châu. Nếu không khéo xử thì Châu Á sẽ bị khủng hoảng và thế giới càng bị lây. Thứ ba, các nước Tây phương theo chế độ dân chủ nên làm gì cũng phải có sự đồng thuận chính trị nên có thể gây ấn tượng sai là không dám triệt để như chế độ độc tài tại Bắc Kinh. Thứ tư, sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009, lãnh đạo Trung Quốc cũng đã ào ạt bơm tiền bù cho sự hao hụt của các thị trường xuất khẩu mà rốt cuộc lại gây ra hiện tượng “ỷ thế làm liều” của các doanh nghiệp.
- Thứ năm, tôi xin nói tới sự hốt hoảng trong một quốc gia tiên tiến và có nền kinh tế vững mạnh nhất là Hoa Kỳ. Sau chương trình tuần trước, có một thính giả hỏi tôi là khi dân Mỹ chen nhau mua đồ tại hệ thống bách hóa Costco thì điều ấy có lợi gì không cho kinh tế Mỹ? Câu trả lời của tôi là sự hoảng loạn này còn nguy hơn dịch bệnh! Lý do là các hệ thống phân phối đó, như Costco, WalMart, Kroger, v.v… bán hàng tiêu dùng hay nhu yếu phẩm và “cái được” của họ không thể bù cho “cái mất” của quá nhiều ngành khác. Cứ xem lợi nhuận hay trị giá cổ phiếu của họ trong tháng qua thì rõ. Nhưng chính là sự hốt hoảng ấy mới càng gây thêm tổn thất kinh tế.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích vô cùng rắc rối của tuần này.
Tin, Bài Liên Quan