Friday, March 2, 2018

Cựu nữ tù chính trị kể chuyện trại giam



Cựu nữ tù chính trị kể chuyện trại giam
RFA
2018-02-28
Người ta thường nói: “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (một ngày ở tù dài bằng nghìn năm ở ngoài). Đối với những tù nhân nam chuyện ở tù đã khổ cực, thì gian khổ của những phụ nữ đi tù còn gấp bội phần.Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3, chúng tôi trò chuyện cùng hai cựu nữ tù chính trị về trải nghiệm của họ trong thời gian phải chịu cảnh tù đày.
Bà Cấn Thị Thêu, người từng chịu hai án tù, và được nhiều người biết đến về sự kiên quyết trong công cuộc giữ đất tại làng Dương Nội, Hà Đông - Hà Nội, và lên tiếng đấu tranh cho công bằng xã hội.
Bà từng bị giam ở nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội; Trại 5 Yên Định Thanh Hóa và trại giam Gia Trung ở tỉnh Gia Lai vùng ở Tây Nguyên.
Những kỷ niệm đẹp
Bà vừa được trả tự do vào ngày 10 tháng 2 vừa qua và kể lại với chúng tôi về những kỷ niệm mà theo bà là khó quên trong thời gian ở tù:
“Điều ấn tượng nhất tôi không thể quên là những tù nhân chúng tôi đoàn kết với nhau để chống lại chế độ hà khắc trong tù. Có người chịu án rất cao, có người án thấp nhưng chị em chúng tôi cũng bảo nhau tuyệt thực tập thể, đưa ra những yêu sách để trại giam phải đảm bảo quyền lợi cho những người tù.”
Bà Thêu cũng chia sẻ trong suốt 20 tháng tù gần nhất, bà đón nhận được rất nhiều tình cảm, sự sẻ chia, đùm bọc mà những bạn tù dành cho bà:
“Họ cho những người tù khác đe dọa tôi, thì tôi cũng nói cho những người ấy hiểu công cuộc đấu tranh của chúng tôi, tôi nói cho họ nghe những tội ác mà chế độ cộng sản áp dụng với chúng tôi. Tôi cũng kể cho họ nghe nỗi khổ của người dân đang là nạn nhân của chế độ độc tài, cướp bóc, công an trị này. Dần dần những người mà họ cài cắm vào cũng hiểu ra và quay sang bảo vệ chúng tôi, những gì công an nói với họ thì họ lại nói lại với chúng tôi.”
Những cực hình
Trong khi đó nữ cựu tù chính trị khác là bà Mai Thị Dung, 49 tuổi, một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo không theo phái do Nhà nước dựng nên bị kết án hai lần tổng cộng 11 năm tù với cáo buộc ‘gây rối trật tự công cộng’ lại không có những kỷ niệm đẹp như bà Cấn Thị Thêu.
Bà bị bắt vào ngày 5 tháng 8 năm 2005 cùng với chồng là ông Võ Văn Bửu cùng 6 đồng đạo khác. Những người này bị bắt vì tham gia vào cuộc tọa kháng và tuyệt thực tại gia để phản đối việc chính quyền đàn áp tín đồ Phật giáo Hòa Hảo không theo phái Nhà nước.
Bà Dung nhớ lại những nỗi kinh hoàng khi phải chịu án 11 năm tù:
 “Trong thời gian lãnh án tù 11 năm thì điều tôi không thể nào quên được là giam giữ khổ sai, lưu đày ra bắc, bị bệnh thì không được trị bệnh, họ đối xử với mình còn thua một con thú. Khi mà họ chuyển tui ra Trại giam Xuân Lộc thì nhốt chung tui với những tù nhân xì ke ma túy bị nhiễm HIV. Những người này họ bị bệnh giai đoạn cuối nên không kiềm chế được nên đi vệ sinh ra máu trong phòng luôn mà họ nhốt tui nằm chung một phòng.”
Bà Dung cũng cho biết, trong thời gian bị tạm giam ở Vĩnh Long, gia đình gởi đồ ăn vô bao nhiêu thì trại giam nhận nhưng bỏ hết, không cho ăn, xin một miếng muối cũng không cho. Trại giam bắt bà nhận tội thì mới cho nhận đồ ăn từ bên ngoài, bà nói tiếp:
“Tui ăn uống không đầy đủ nên bị bệnh xuất huyết dạ dày, tui nôn ra máu nhưng họ không cho đi bệnh viện, họ nói là tui móc họng móc hầu để nôn ra máu. Nhưng mà đến khi tui không còn nói chuyện ra tiếng nữa, thở hết muốn nổi nữa, sắp chết rồi, thì họ mới đưa tui đi bệnh viện.”
Mong ước
Bà Mai Thị Dung chia sẻ trong thời gian ở tù 11 năm thì bà thấy những người tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị như bà ở trong tù luôn bị phân biệt đối xử. Và điều mà bà mong ước là có sự quan tâm từ bên ngoài:
“Tui mong mỏi cả cộng đồng thế giới, những người yêu chuộng tự do hãy quan tâm nhiều hơn đến những người còn mắc kẹt trong tù để họ có thêm sự ấm áp. Tui cũng tha thiết gởi lời đến các bạn tù nhân lương tâm, chính trị hiện vẫn còn bị giam giữ hãy cố gắng, hãy nỗ lực đấu tranh, những chí hướng nào mình nghĩ là đúng thì cứ giữ lập trường của mình, đừng bị cuốn theo giới cường quyền.”
Tương tự như bà Dung, chị Cấn Thị Thêu cũng mong những người đang thụ án tiếp tục giữ vững tinh thần đấu tranh:
“Tôi mong những người đang thụ án tiếp tục giữ vững tinh thần đấu tranh, để phía trại giam không vi phạm mà đảm bảo đủ các quyền lợi cho những người tù. Tôi cũng mong các chị em trong đấy phát huy tinh thần đoàn kết, đấy là sức mạnh để các chị em không bị đàn áp, không bị đánh đập, không bị ngược đãi.”
Mục đích của nhà cầm quyền?
Phía chính quyền Việt Nam luôn cho rằng, khi đưa vào tù những người mà cơ quan chức năng cho rằng vi phạm pháp luật, là để cải tạo họ sau đó tái hòa nhập xã hội, tạo nên nên một xã hội tốt đẹp. Nhận xét về điều này Bà Mai Thị Dung cho biết:
“Khi ở tù thì mình thấy sự bất công rất là nhiều, sự áp bức, phân biệt đối xử thì vô số. Tui đi ở tù từ nam chí bắc thì có thấy (họ) cải tạo được gì đâu. Chỉ thấy họ bắt lao động và nói với những người tù hình sự là anh chi về nhớ đừng tái phạm nhe. Chứ tui thấy ít tổ chức thuyết giảng cho người ta nghe để cải tạo.”
Bà Cấn Thị Thêu cũng nêu lên ý kiến của mình:
“Đối với những người đấu tranh để đòi lại quyền lợi chính đáng như chúng tôi, thì tôi nghĩ họ dùng súng ép chúng tôi vào tù, dùng bạo lực nhà tù cũng không khuất phục được ý chí đấu tranh của chúng tôi. Bước chân vào trại giam thì họ nói với tôi là cải tạo tốt thì họ sẽ giảm án cho. Tôi trả lời tôi không cải tạo, những người dùng súng bắt tôi thì mới phải cải tạo. Tôi tuyên bố thẳng với giám thị trại giam Gia Trung là tôi chống lại tất cả các quy định mà nền tư pháp thối nát của Việt Nam áp dụng đối với tôi.”
Quyết tâm đó của bà Cấn Thị Thêu cũng là ý chí của hầu hết các nữ cựu tù nhân như Đỗ thị Minh Hạnh, bà Bùi Thị Minh Hằng, cô Đặng Thị Ngọc Minh…


Phần "Con" và phần "Người"-Ngô Trung Du



 
Phn "Con" và phn "Người"
Ngo Du Trung (FB)                                                                        
  
 Một cặp trai gái Việt du lịch ở Mỹ, đi thăm nhiều nơi. Một bữa đang ngồi uống cà phê trong một khu mua sắm nổi tiếng ở New York, trao đổi với nhau những nhận xét về nước Mỹ thì bất ngờ một người Mỹ ngồi bàn bên cạnh lên tiếng bằng tiếng Việt thật chuẩn:
"Chào mừng hai bạn đến thăm nước Mỹ!"
Cặp trai gái người Việt hơi bất ngờ, nhưng cùng đáp lại:
"Chào ông!..."
Người đàn ông Mỹ cười, nói tiếp:
"Tôi có thể ngồi chung bàn trò chuyện với hai bạn được không?"
Cặp trai gái Việt vẻ lúng túng, rồi gật đầu:
"Ok. Ông nói tiếng Việt giỏi quá!"
Người đàn ông Mỹ bưng tách cà phê của mình sang kéo ghế ngồi xong cười đáp:
"Cảm ơn hai bạn. Trước năm 75 tôi có ở miền Nam VN khoảng 10 năm.. Tôi yêu đất nước và con người ở đó nên đã bỏ công ra học tiếng Việt! Cũng may là tôi không đến nỗi dốt lắm nên dù tiếng Việt rất khó cũng học nói được chút chút..."
Người đàn ông Mỹ nói xong cười lớn rất thoải mái. Còn cặp trai gái Việt thì có vẻ bẽn lẽn, chắc lo lắng không biết mình đã có nói gì không tốt trước đó. Người đàn ông Mỹ gợi chuyện:
"Hai bạn thấy nước Mỹ thế nào?"
Anh trai Việt đáp:
"Dĩ nhiên là giàu có rồi."
Người đàn ông Mỹ quay sang nhìn cô gái:
"Còn cô?"
Cô gái Việt ngập ngừng:
"Tôi cũng thấy nước Mỹ thật là giàu!"
Người đàn ông Mỹ cười lớn rồi hỏi tiếp:
"So với nước bạn thì thế nào?"
Cô gái Việt nhanh nhẩu đáp:
"Dĩ nhiên đất nước chúng tôi không giàu bằng Mỹ, vì mới thoát ra khỏi chiến tranh.

Chúng tôi đang phấn đấu để tiến lên. Và trên thực tế thì đất nước tôi cũng đã tiến bộ vượt bực. Thành phố, khu đô thị được xây dựng nguy nga; đường sá được mở rộng; nhiều khu nghỉ dưỡng, ăn chơi; nhiều người có xe hơi nhà lầu. Ở Việt Nam bây giờ không thiếu thứ gì... "
Cô gái vừa nói vừa quơ quơ cái điện thoại iphone x cố ý cho người đàn ông Mỹ nhìn thấy.
Người đàn ông Mỹ khen:
"Cái điện thoại của bạn... hiện đại thật! Mà công nhận hai bạn giàu thật. Trên người hai bạn toàn hàng hiệu. Chuyện đó cũng không có gì lạ. Theo tôi biết thì nhiều quốc gia trên thế giới, cộng với ngân hàng thế giới mấy chục năm nay, vừa cho không, vừa cho vay nhẹ lãi cho VN mấy trăm tỷ đô la; còn cộng đồng người Việt mỗi năm gởi về trên dưới chục tỷ đô la, và liên tục mấy chục năm như vậy rồi. Với số tiền khổng lồ đó, nếu phần lớn không chạy vào túi lãnh đạo của các vị thì chắc đủ để mua cho mỗi gia đình ở Việt Nam một chiếc xe hơi..."

Người đàn ông Mỹ ngừng lại nhìn hai người VN thăm dò, rồi tiếp:
"Nhưng thôi, vì cách nào mà đất nước bạn "giàu có" lên thì cũng không nên "moi móc" ra làm chi, đúng không?; miễn sự "giàu sang" đó làm cho các bạn hãnh diện là được rồi, đúng vậy không?..."
Người đàn ông Mỹ ngừng lại chờ đợi vì thấy anh thanh niên Việt mấp máy môi như định nói gì đó. Nhưng chờ một lúc không thấy gì nên người đàn ông Mỹ nói tiếp:
"Tiếng Việt thật thâm thuý. Cái chữhuman being của chúng tôi thì tiếng Việt gọi là "con người". Tức là trong cái "con người" có hai phần. Một phần "con" và một phần "người". Một đất nước văn minh tốt đẹp, một thể chế văn minh tốt đẹp là một đất nước, một thể chế trong đó con người được phát triển cân bằng, đầy đủ về cả hai phần: phần "con" và phần "người".

Đất nước của các bạn hiện nay chỉ mới có phát triển phần "con", dù vẫn còn nhiều người nghèo đói, nhưng có vẻ như các bạn đã cảm thẩy đầy đủ, thoả mãn rồi, tự thấy mình văn minh tiến bộ ngang ngang với thế giới rồi... Chính vì cái suy nghĩ đó mà khi các bạn đi du lịch sang nước tôi, các bạn chỉ trầm trồ sự giàu sang, sung túc, tức là các bạn chỉ thấy cái phần "con"...."

Người đàn ông Mỹ nhìn thấy vẻ ngượng ngùng trên hai khuôn mặt người Việt, mỉm cười tiếp:
"Vì tôi thích VN nên thích kết bạn với người Việt. Tôi có mấy người bạn là Người Việt tỵ nạn cs ở đây. Các bạn ấy cho tôi xem nhiều cmts của người Việt trong nước trên các trang mạng facebook. Người Việt trong nước bảo rằng họ không cần nhân quyền, không cần đa nguyên đa đảng; họ bảo mỗi ngày họ được ăn nhậu phủ phê; họ nói mỗi sớm mai thức dậy họ thấy mặt trời vẫn mọc trên quê hương... v.v... . Ha ha... thoả mãn được cái phần "con" là họ thấy thoả mãn rồi, thấy hạnh phúc rồi... Hai bạn có thấy như vậy không?"

Nói xong người đàn ông Mỹ đứng dậy đưa tay bắt tay hai người Việt Nam, cười cười nói:
"Tôi có việc không ngồi được lâu hơn. Chúc hai bạn một chuyến du lịch thật vui vẻ và học hỏi được nhiều điều mới mẻ. Hy vọng khi các bạn về nước sẽ nói cho bạn bè của bạn trong nước hiểu về cái phần "người" của nước Mỹ, chứ không phải chỉ cái phần "con"..."
Ngô Trung Du


Một hoàng đế Cộng sản?-Nguyễn Xuân Nghĩa


Một hoàng đế Cộng sản?
Nguyễn Xuân Nghĩa
2018-02-27 - 02-28-2018
Tuần này, Hội nghị Kỳ Ba của Ban Chấp hành Trung ương Khóa 19 của Đảng Cộng Sản Trung Quốc có phiên họp bất thường từ ngày 26 tới 28 để lập tức thông báo từ hôm Chủ Nhật 25 việc tu chỉnh Điều lệ Đảng và Hiến pháp nhằm mở rộng hạn kỳ lãnh đạo của Chủ tịch và Phó Chủ tịch quá hai nhiệm kỳ 10 năm. lãnh đạo kéo dài có thể gây quan ngại cho nhiều quốc. Sau Đại hội đảng của Khóa 19 vào Tháng 10 năm ngoái, người ta không ngạc nhiên về việc Tổng Bí Thư Tập Cận Bình ra sức thâu tóm quyền lực, nhưng sự kiện mới công bố về kỳ hạn lãnh đạo kéo dài có thể gây quan ngại cho nhiều quốc gia khác. Mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về biến cố này.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa trong chương trình Diễn đàn Kinh tế. Thưa ông, quý thính giả của chúng ta cùng Nguyên Lam mong là ông đã bình phục sau nhiều tuần chuẩn bị Hội Xuân Mậu Tuất cho Quận Cam tại miền Nam California và kỳ này xin đề nghị ông phân tích cho biến cố vừa xảy ra tại Bắc Kinh khi ông Tập Cận Bình có thể làm Chủ tịch Trung Quốc sau hai nhiệm kỳ 10 năm như các vị tiền nhiệm trước đây. Thưa ông, chuyện ấy là gì vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta khởi sự từ bối cảnh trước. Thông thường, đảng Cộng Sản Trung Quốc có khóa họp năm năm tổ chức một lần vào mùa Thu và mất cả năm chuẩn bị để hơn hai ngàn đại biểu thay mặt gần 90 triệu đảng viên trên toàn quốc bầu lên một Ban Chấp Hành Trung Ương có hơn 200 Ủy viên chính thức và chừng 170 ủy viên dự khuyết. Tới cuối khóa họp thì Ban Chấp Hành Trung Ương có kỳ họp đầu tiên để thông báo kết quả họp hành thật ra được Bộ Chính Trị gồm mấy chục Ủy viên soạn trước theo nguyên tắc gọi là “dân chủ tập trung”. Nôm na là một đảng độc quyền có thể bầu lên một Ban Chấp Hành Trung Ương vài trăm người và Ban Chấp Hành đề cử 25 Uỷ viên Bộ Chính Trị và bảy hay chín người trong cơ chế tối cao là Thường vụ Bộ Chính Trị để quyết định thay cho gần một tỷ 400 triệu người dân. Trên cùng là Tổng Bí Thư đảng sẽ lãnh đạo Nhà nước, Quân đội và các cơ chế kỷ luật nhuốm mùi pháp luật.
- Thứ nữa, đầu năm sau Đại hội đảng Khóa 19, Ban Chấp Hành Trung Ương họp kỳ hai vào hai ngày 18-19 Tháng Giêng vừa qua để khai triển quyết định của đảng cho bộ máy nhà nước thi hành qua hai hội nghị hay “lưỡng hội” là Đại hội Nhân dân Toàn quốc, là Quốc hội, và một cơ chế tư vấn là Hội nghị Hiệp thương Chính trị hay Chính Hiệp sẽ họp vào đầu Tháng Ba này. Điều bất thường là sau đó một tháng, Ban Chấp Hành Trung Ương khóa 19 lại họp kỳ thứ ba để thông báo việc nới rộng thời hạn lãnh đạo của ông Tập Cận Bình qua hai nhiệm kỳ năm năm.
Văn hóa chính trị Trung Quốc có thật sự bí hiểm?
Nguyên Lam: Thưa ông, đấy là một bối cảnh mà ông gọi là bất thường. Theo ông nghĩ thì chuyện gì đã xảy ra trong nội tình lãnh đạo của Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Văn hóa chính trị Trung Quốc là sự bí hiểm gói kín trong bí mật nhưng thật ra vẫn chỉ là chuyện tranh đoạt quyền lực thôi. Thông thường thì Ban Chấp Hành Trung Ương của một khóa có nhiều kỳ họp nhưng hai kỳ họp cách nhau một tháng là triệu chứng bất tường.
- Giới quan sát quốc tế cho là sau Hội nghị Kỳ Hai vào tháng trước thì từ hôm 26 Tháng Giêng đã có việc tu chỉnh Hiến pháp để nới rộng nhiệm kỳ cho họ Tập. Nhưng khi Hội nghị Kỳ Ba lại được đột ngột triệu tập trong ba ngày 26 tới 28 tháng này, với quyết định tu chỉnh Hiến pháp được công bố hôm Chủ Nhật 25 mà Tân Hoa Xã lại cho ghi ngày là 26 Tháng Giêng thì nhiều người tin là Tập Cận Bình dùng Ban Chấp Hành Trung Ương thay vì Bộ Chính Trị hay Thường Vụ Bộ Chính Trị để nới rộng quyền lực của mình. Lý do là trong hai cơ chế tập trung nói trên, ông ta không được đa số Ủy viên ủng hộ nên mới dùng Ban Chấp Hành Trung Ương là nơi ông có hậu thuẫn cao hơn. Nếu đúng như vậy thì ta nên kết luận ngược, rằng lãnh đạo Trung Quốc đang thiếu ổn định và thống nhấy ý kiến.
Nguyên Lam: Thưa ông, ngay sau Đại hội Khóa 19 vào Tháng 10 vừa qua, người ta đã thấy hai sự lạ. Thứ nhất là Điều lệ đảng và Hiến pháp chính thức công nhận “Tư tưởng Tập Cận Bình về Xã hội Chủ nghĩa với Màu sắc Trung Hoa”. Thứ hai là Đảng không đề cử một người làm Phó Chủ tịch nước, là nhân vật sẽ kế tục ông Tập Cận Bình sau khi nhiệm kỳ hai chấm dứt vào năm 2023. Phải chăng hai sự kiện ấy đã báo trước việc Tập Cận Bình thâu tóm quyền lực ngang tầm Chủ tịch Mao Trạch Đông và còn hơn cả lãnh tụ Đặng Tiểu Bình, ông nghĩ sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi còn thấy sự lạ thứ ba là trong báo cáo chính trị dài hơn ba tiếng của Đại hội 19, Tập Cận Bình nhiều lần nói đến “các mâu thuẫn cơ bản của kỷ nguyên mới”. Ông ta thấy ra nhiều vấn đề khá nguy ngập và muốn tập trung quyền lực để giải quyết sau năm năm lãnh đạo từ Đại hội Khóa 18 vào cuối năm 2012 mà không xong. Điều ấy cũng có nghĩa là cùng với việc chuyển hướng cải cách chưa thành và chiến dịch diệt trừ tham nhũng lên tới cấp cao nhất, các phe phái bên trong đã đồng ý với việc tập quyền thay vì duy trì tinh thần thỏa hiệp theo nguyên tắc đồng thuận do Đặng Tiểu Bình đề ra. Bây giờ, sau khi củng cố quyền hành trong không gian và mở rộng hơn nữa vào thời gian, Tập Cận Bình đang lấy rất nhiều rủi ro cho bản thân nếu ông ta thất bại. Nhưng trái ngược, đấy lại là cơ hội cho các nước cảnh tỉnh, vì vậy, tôi cho rằng đây là một tin vui!
Nguyên Lam: Có lẽ thính giả của chúng ta đã quen với cách nhìn trái ngược của ông, nhưng thưa ông, tại sao ông lại coi đây là một tin vui?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin có hai phần giải thích, về đối ngoại và nội chính. Thế giới và truyền thông cứ ngợi ca phép lạ kinh tế Trung Quốc mà không thấy sự thật là lãnh đạo Bắc Kinh coi dư luận và luật lệ quốc tế tựa cái dép rách. Năm ngoái, tại thượng đỉnh kinh tế Davos và Đại hội đồng Liên hiệp Quốc, Tập Cận Bình thủ vai vô địch về hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa dù vẫn trực tiếp can thiệp vào kinh tế quốc dân và coi thường các xứ khác. Thí dụ là cấm vận kinh tế Nam Hàn vì tội dám trang bị hệ thống võ khí phòng thủ, hoặc xen lấn vào nội tình chính trị của Úc. Trước đó thì phủ nhận phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực trong vụ tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo với xứ Philippines. Mới Tháng Bảy năm ngoái thì xóa bỏ các cam kết từ năm 1985 với Vương quốc Anh về quyền tự trị của Hong Kong trong khi quân sự hóa nhiều cụm đá nổi đã cưỡng chiếm của các lân bang như Việt Nam hay Philippines. Người ta lầm tưởng Bắc Kinh tận dụng “quyền lực mềm” là lợi ích kinh tế để tranh thủ thiên hạ chứ cứng mềm, âm thầm hay ngang ngược là động thái họ vẫn làm từ nhiều năm qua, để nhắm vào mục tiêu bá quyền tại Đông Á trong vài chục năm tới.
Quyền lực tuyệt đối lại dễ đưa tới tệ sùng bái cá nhân, là đặc sản chính trị Châu Á, khiến lãnh tụ chỉ tin vào hệ thống báo cáo tuyên truyền của mình mà che kín tầm nhìn. -Nguyễn Xuân Nghĩa
Củng cố quyền lực và loại bỏ đối thủ
Nguyên Lam: Theo ông, sau vụ tăng cường quyền lực của Chủ tịch Tập Cận Bình thì liệu rằng các quốc gia khác có nhìn ra sự thể ấy hay chưa?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các nước ở xa có thể than vãn nạn chà đạp tự do và dân quyền do Tập Cận Bình tiến hành từ nhiều năm qua nhưng cho rằng thà như vậy mà còn có ổn định để làm ăn. Các quốc gia ở gần thì không quên yếu tố an ninh lồng trong nhiều sáng kiến kinh tế của Bắc Kinh, như Con Đường Tơ Lụa hay các ngân hàng đầu tư và phát triển. Việc Tập Cận Bình mở rộng quyền hạn để thực hiện mục tiêu chiến lược trong vài thập niên tới là điều trở thành rõ rệt hơn.
- Vì vậy, tôi cho rằng các nước sẽ thận trọng hơn với Hiệp ước Đối tác Toàn diện Khu vực hay RCEP mà Bắc Kinh đang vận động nhằm thay thế Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương RCTPP của 11 quốc gia không có Hoa Kỳ. Thời điểm lật ngửa lá bài quyền lực của Tập Cận Bình càng khiến nhiều quốc gia quan ngại, như qua phản ứng của Hoa Kỳ, Nhật, Ấn Độ và Úc cùng một số nước khác trên cái trục Ấn Độ Thái Bình Dương. Cũng vậy, người ta hiều ra vỉ sao Hoa Kỳ có lập trường cứng rắn hơn trong quan hệ mậu dịch với Bắc Kinh sau khi khẳng định trong chiến lược quốc phòng mới mối nguy xuất phát từ Trung Quốc.
Nguyên Lam: Hồi nãy, ông nói đến hai phần giải thích, về đối ngoại thì như vậy, về nội chính thì ông nhận định thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ sau Đại hội Khóa 18, họ Tập đã củng cố quyền lực và sau năm năm lãnh đạo đã loại bỏ mọi đối thủ của mình cho tới Đại hội Khóa 19 vừa qua. Bây giờ, ông hoàn tất kế hoạch tập quyền cho tới sau năm 2023. Điều ấy có nghĩa là ông tìm ra hậu thuẫn trong đảng để giải quyết nhiều bài toán quá lớn của Trung Quốc mà ông ta gọi là “mâu thuẫn cơ bản”.
- Nhưng, như các lãnh tụ tập quyền là Tần Thủy Hoàng Đế, Hán Vũ Đế, Khang Hy hay Càn Long, Tập Cận Bình không thể lãnh đạo một mình. Ông ta phải có vây cánh, nhất là trong một thế giới đã có quá nhiều đổi thay khiến lãnh tụ phải ứng phó bén nhạy và hữu hiệu hơn. Nếu không, chính quyền lực tuyệt đối ấy sẽ trở thành gánh nặng và là trách nhiệm của lãnh tụ. Nạn lão hóa dân số và trai thiếu gái thừa, tình trạng ô nhiễm môi sinh, gánh nợ chất núi với đà tăng trưởng tất yếu giảm sút sau ba chục năm cải cách, v.v… là loại bài toán mới mà các thế hệ lãnh đạo trước không gặp.
Nguyên Lam: Như vậy thì quyền lực tuyệt đối cũng có mặt trái của nó, thưa ông, có phải vậy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đã thế, quyền lực tuyệt đối lại dễ đưa tới tệ sùng bái cá nhân, là đặc sản chính trị Châu Á, khiến lãnh tụ chỉ tin vào hệ thống báo cáo tuyên truyền của mình mà che kín tầm nhìn. Trên một lãnh thổ bát ngát có quá nhiều dị biệt và mâu thuẫn chằng chịt, trường hợp sai lầm rất dễ xảy ra mà cơ hội sửa sai lại thu hẹp vì quần chúng vô quyền không có tiếng nói. Nếu thất bại, và nhiều phần là như vậy, Tập Cận Bình không thể đổ lỗi cho ai khác mà cũng chẳng có điều kiện giảm khinh. Đấy là lúc mà các thế lực kia mai phục và chờ đợi….
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích kỳ này.


Wednesday, February 28, 2018

Sài Gòn Qua Lăng Kính của Tôi-Khổng Thị Thanh Hương


Sài Gòn Qua Lăng Kính ca Tôi
Khổng Thị Thanh Hương
Buổi sáng năm nào, khi leo lên tầu Hải Quân VNCH để xa rời quê hương vĩnh viễn, tâm trí tôi không hề có một hình ảnh rõ rệt nào về những ngày đen tối sắp tới, ngoại trừ sự tin chắc rằng một trận hồng thủy sẽ thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh miền Nam Việt Nam.
Thế rồi đùng một cái, tin thủ đô của miền Nam đã bị thay tên.  Khi nghe được tin này, tôi bàng hoàng hụt hẫng như đánh mất một vật gì thiêng liêng, rất qúy, rất thương.
Thủ đô Sài Gòn giờ đã mang tên của một con cáo già tu luyện lâu ngày biến thành tinh.  Con cáo tự xưng mình cực kỳ thông minh.  Thông minh?  Tôi tìm hiểu thêm ý nghĩa của hai chữ “Chí” và “Minh” và theo Tự Điển Hán Việt, “chí” là một loài chim mạnh tợn ngoài nghĩa hung ác. “Minh” mang nhiều ý nghĩa tiêu cực không kém, như u ám, tối tăm, ngục tối, âm phủ.
Dù tên Sài Gòn đã đổi thành tên của một thứ hung ác, tối tăm u ám như địa ngục, như âm phủ, trong lòng tôi bao giờ thủ đô của miền Nam Việt Nam vẫn là Sài Gòn, vĩnh viễn là Sài Gòn.  Không bao giờ tôi gọi tên thủ đô của miền Nam Việt Nam bằng tên nào khác.  Tôi không muốn gọi tên thủ đô ngày xưa của tôi bằng cái tên mới, vì mỗi lần nhắc tới tên mới là một lần nhắc đến sự kiện một tên đồ tể đã đưa toàn thể dân tộc tôi vào gông cùm cộng sản, đã nhuộm đỏ toàn thể quốc gia hình chữ S của tôi.  Lòng tôi phản kháng như thế, từ khi ở bên Quận Cam, và chưa có dịp tỏ bày tinh thần chống cộng của mình bên “Thiên đàng hạ giới” này. 
Cho đến một ngày.
Hôm đó chàng và tôi lái xe đi về phía Bắc của Hilo để ngắm cảnh, sau khi đã dọn sang bên Đảo Lớn gần nửa năm.  Vì rời nhà sớm khi mặt trời chưa lên, chúng tôi ghé vào một nhà hàng để ăn điểm tâm.  Vừa mở cửa vào bên trong, một tấm bản đồ thế giới thật to gắn trên bức tường bên trái và một bản đồ nước Mỹ, nhỏ hơn, đã đập vào mắt tôi.  Không hiểu động lực nào đã khiến tôi đưa mắt nhìn tấm bản đồ mà không nhìn gì khác, ví dụ như cách trang trí của nhà hàng, hay tìm chiếc bàn vừa ý. 
Ông quản lý người Bồ Đào Nha tiến tới chào và ra dấu hỏi chúng tôi có ưng ý ngồi nơi bàn ngó ra ngoài đường.  Chưa kịp ngồi xuống, ông quản lý đã hỏi chúng tôi "Ông bà từ đâu đến?”  Có lẽ ông ta chưa bao giờ thấy chúng tôi ghé qua nhà hàng?  Adam nhìn tôi, chờ tôi trả lời trước.  Tôi đáp, “Tôi là người Việt Nam.  Tôi là một trong những thuyền nhân Việt Nam đầu tiên của thế kỷ trước và định cư tại Nam Cali hơn 40 năm qua.  Chúng tôi mới dọn sang Đảo Lớn này.” Ông ta mỉm cười, đưa cho tôi một cái đinh ghim, rồi chỉ về phía tấm bản đồ và nói, "Bà hãy ghim vào nơi quê quán của bà đi".   Khi tiến tới gần hơn để nhìn cho rõ bản đồ hình chữ S, tôi thấy tên của tên qủy đội lốt người đã được in đậm trên chỗ mà ngày xưa là Sài Gòn, là thủ đô của nước VNCH của tôi.  Tôi lắc đầu nhìn ông ta trong khi chỉ lên trên bốn chữ HCM City.  Tôi nói, "Tôi không ưa cái tên này.  Vì hắn mà dân tộc tôi bị khổ sở, bị mất tự do, dân chủ và toàn thể đất nước tôi bị nhuộm đỏ hoàn toàn từ năm 1975 đến nay." 
Không thể tưởng tượng những gì tôi nghe kế đó.  Khi than thở với người đàn ông chưa từng quen biết về những gì chất chứa trong lòng, từ khi biết tin thủ đô yêu dấu đã bị đổi tên, tôi không mong sẽ có phản ứng gì đặc biệt nơi ông ta.  Có thể ông ta sẽ nói lời chia buồn hay lạnh lùng hơn, ông ta có thể nhún vai, coi như không phải là vấn đề của mình.  Thế thôi.  Ngờ đâu, thái độ của ông này đã đem đến cho tôi một ngạc nhiên bất ngờ.  Ông quản lý nghiêm mặt nói, "Thế thì bà hãy xóa tên hắn đi!"  Không đợi tôi phản ứng, ông tiến tới quầy tính tiền, lấy một cây bút Bic từ trong một cái hộp và đưa cho tôi.  Tôi không thể nghe lầm, và không muốn ông quản lý tử tế phải lập lại lời khuyên, tôi cầm lấy cây bút Bic, đặt lên trên bốn chữ “Ho Chi Minh City” và bắt đầu gạch lấy, gạch để.  Cây bút Bic theo bàn tay tôi gạch xéo lên, xéo xuống trên bốn chữ mầu đen bướng bỉnh.  Dường như chúng không muốn chịu thua ngòi bút mực mầu đen, cố gắng ló mắt nhìn đời.  Không ngăn được cảm xúc, nước mắt tôi ứa ra.  Tấm bản đồ dù được bọc bằng một lớp nhựa mỏng nhưng không thể xóa đi dễ dàng tên thành phố có tên của tên hồ, tên cáo.  Tôi cứ sợ ông quản lý đổi ý khi thấy tôi “đánh vật” với bốn chữ này thì tôi sẽ đánh mất cơ hội viết lại tên thủ đô Sài Gòn trên tấm bản đồ của một nhà hàng cách Sài Gòn mấy ngàn cây số.  Mực bút Bic không hoàn toàn xóa hết tên của lão cáo ác ôn.  Nếu du khách nào để ý, họ sẽ thấy thành phố mang tên họ Hồ đã bị ai cố tình tẩy xóa.
Sau đó, cầm cái đinh ghim có đính hột trai mầu trắng mà ông quản lý đã trao cho tôi lúc nãy, tôi cắm lên trên hai chữ SAI GON với nụ cười mãn nguyện.  Quay nhìn ông quản lý tôi nói “Cám ơn ông.  Cám ơn ông hết lòng!” Tôi không thể diễn tả được sự rộn ràng trong lòng tôi lúc đó.  Chỉ vì cùng chí hướng chống cộng mà một người lạ đã cho tôi cơ hội xóa đi tên thành phố nhắc nhở đến nhiều đau thương của dân tộc tôi. 
Hôm nọ, tìm mãi không ra tấm hình tôi chụp sau khi ghi lại hai chữ SAI GON, tôi thử lên Internet tìm và ngạc nhiên thay, đã có người đăng tấm hình này (vài hôm sau, tìm kỹ hơn, tôi đã thấy trong PC của mình).  Hôm ấy, tấm hình chỉ có 3 đinh ghim phía Bắc và 6 ở miền Nam.

Từ ngày tôi sửa lại cho đúng tên thủ đô của quê hương tôi trên bản đồ của nhà hàng này, không lần nào đi qua mà chúng tôi không ghé vào thăm (dù chỉ có hai đứa hay với bạn hữu), để nhìn lại bằng chứng chống cộng của mình.  Tôi chống cộng thế đó.  Như một cơn gió nhẹ thoảng lay trên cành dừa, cành tre, cành trúc; như tiếng thì thầm trong đêm vắng; hay như một viên cuội nhỏ lăn trên mặt hồ.  Hành động chống cộng của tôi không làm mưa làm gió, không can cường như một số người dân tôi chống cộng công khai, mặc dù phải đối diện với tù đày, với bất cứ khổ nạn nào đến từ nhóm cầm quyền, hay mất sự sống của chính mình, như cố luật sư Lê Đình Hồ.  

Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng - Bích Huyền



                     
Anh đến thăm, áo anh mùi thuc súng


Bích Huyền

“Thời gian là tất cả hương và phấn
Xóa nhòa đi bao ký ức xa xăm”

Tôi không nhớ hai câu thơ đó của ai – một người bạn đã chép vào trong tập lưu bút của tôi thời đi học. Thời gian sẽ qua đi, nhưng có thật thời gian sẽ xóa nhòa đi tất cả hay không? Có thể xóa mờ lắm, nhưng tất cả thì không thể đâu. Trong vòm trời kỷ niệm, có những hình ảnh nhòa nhạt, mờ mờ, ảo ảo, thấp thoáng ẩn hiện như trong một giấc mơ, nhưng cũng có những hình ảnh rõ rệt đến không ngờ. Một lúc nào đó hiện ra bất chợt, chẳng hạn như được đọc một bài thơ, được nghe một bản nhạc quen thuộc xa xưa.

Cố Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (1932 - 2018) Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông - Một tên tuổi lớn của nền văn nghệ ở miền Nam Việt Nam và là ...

“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng.
Ngoài mưa khuya lê thê qua ngàn chốn sơn khê,
Non nước ơi! hồn thiêng của núi sông tiếp trong lòng thế hệ,
Nghìn sau nối nghìn xưa …
Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng.
Chờ mùa xuân tươi sang, nhưng mùa thắm chưa sang.
Anh đến đây rồi anh như áng mây, chút phương trời ấm lạnh hòa chung mái nhà tranh.
Anh như ngàn gió ham ngược xuôi theo đường mây, tóc tơi bời lộng gió bốn phương.
Nước non còn đó, một tấc lòng không mờ xóa cùng năm tháng …
Mấy ai ra đi hẹn về dệt nối mối tơ duyên?
Khoác lên vòng hoa trắng, cầm tay nhau đi em, tơ trời quá mong manh …
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh.
Giữa khung trời gió lộng, nghìn sau tiếp nghìn xưa …”

Bài hát đẹp như lời thơ ấy gợi lên những hình ảnh chia ly một thời không khí chiến tranh tràn ngập trên đất nước Việt Nam … Bài hát mô tả một đêm mưa. Mưa như chưa bao giờ mưa nhiều thế, mưa như … ngàn chốn sơn khê …, người lính từ mặt trận trở về thăm người yêu nhỏ bé. Áo quần nhà binh còn đượm mùi thuốc súng. Người thanh niên ấy, nối tiếp truyền thống nghìn xưa, lên đường giữ nước, để cho những ước mơ cất cánh tung bay giữa khung trời gió lộng. Người thiếu nữ ở lại nhà, âm thầm lặng lẽ, chung thủy đợi mong để người ra đi yên tâm ngoài trận tuyến.

Hạnh phúc của họ là giây phút gặp nhau để chỉ kịp choàng vòng hoa chiến thắng, chỉ kịp cầm tay nhau ánh mắt yêu thương. Hạnh phúc ấy mong manh quá, như những sợi tơ trời, mong manh nhưng rất đẹp, và Nguyễn Văn Đông, người chiến sĩ, người nhạc sĩ đã ghi lại trong bài hát “Mấy Dặm Sơn Khê”.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là một sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc Đại Tá. Mặc dù ông là con trai duy nhất trong một gia đình danh giá ở Tây Ninh, nhưng theo tiếng gọi của quê hương đất nước, người thanh niên mang tên Nguyễn Văn Đông ấy đã lên đường nhập ngũ. Suốt một đời phục vụ cho lý tưởng quốc gia, ông rất yêu đời lính chiến và thể hiện tình yêu ấy trong những sáng tác được rất nhiều người yêu mến: “Mấy Dặm Sơn Khê”, Hải Ngoại Thương Ca, Chiều Mưa Biên Giới, Phiên Gác Đêm Xuân, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, v.v…”.

Rồi sau ngày 30-4-1975, cũng như bao nhiêu sĩ quan và viên chức chính quyền cũ, Đại tá Nguyễn Văn Đông phải vào tù. Suốt mười năm tù đày là ngần ấy thời gian sức khỏa của ông vô cùng sa sút, ra vào bệnh xá nhiều lần, thập tử nhất sinh, cho nên tin tức loan ra cho hay ông đã từ trần.

Tôi nhớ có một ngày, cách đây khoảng năm năm, cùng bạn hữu thực hiện chương trình nhạc yêu cầu trong đó có bài hát “Nhớ Một Chiều Xuân” của Nguyễn Văn Đông. Thính giả gọi vào yêu cầu rất nhiều đến nỗi không thể đọc hết tên cùng lời nhắn gửi người thân qua bài hát ấy cùng với nét nhạc mênh mông réo rắt:

“Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người.
Chạnh lòng tôi khơi bao niềm nhớ.
Người nơi xa xăm phương trời ấy.
Người còn buồn còn thương còn nhớ.
Nắng phai rồi, em ơi!
Chiều xuân có một người ngơ ngác đi tìm.
Một tình thương nơi phương trời cũ.
Chiều nay hoa xuân bay nhiều quá.
Chiều tàn dần phai trên ngàn lá.
Tìm đâu bóng hình ai?”

Bài hát vang lên giữa trời xa lạ xứ người. Mùa xuân nơi đây, hoa xuân phơi phới khoe sắc trên những con đường thành phố, hoa dọc theo xa lộ, hoa thấp thoáng trong mỗi khu vườn nhà ai đó … Nắng chiều làm nhạt dần sắc màu rực rỡ nhưng làm tăng thêm nỗi nhớ. Những cánh hoa trở nên mong manh, lòng người xa xứ bay bổng theo nét nhạc của Nguyễn Văn Đông, rồi chùng xuống trong niềm nhung nhớ khôn cùng:

“Một thoáng hương xưa chợt trở về.
Như khói hoàng hôn cay trên mắt.
Cố nhân xa … xa tít ngàn khơi.”

Người xưa quê cũ xa cách muôn trùng. Biết có bao giờ trở lại, gặp lại? Và rồi trong giây phút thả hồn theo tiếng hát Hà Thanh, tôi chợt nhớ đến tác giả Nguyễn Văn Đông, người đã nằm xuống trong trại tù Cộng Sản. Như một phản xạ tự nhiên, tôi nói trong nỗi xúc động vô cùng, bằng tấm lòng thương tiếc chân thành: “Trong một buổi chiều cuối năm, bài hát Nhớ Một Chiều Xuân vang lên như một làn khói hương tưởng niệm người nhạc sĩ tài ba của nền âm nhạc Việt Nam”.

Liền sau đó, biết bao nhiêu tiếng điện thoại reo, chia sẻ nỗi buồn cũng có, phản đối tôi loan tin … thất thiệt cũng có (trong đó có điện thoại của ca nhạc sĩ Duy Khánh, nhạc sĩ Xuân Điềm …, những người bạn chí thân của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, họ vẫn thường liên lạc với nhau).

Thế là tôi được biết tin nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vẫn còn sống qua nhạc sĩ Xuân Điềm. Sau mười năm tù đày, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông trở về với một hình hài mang nhiều thương tật. Thế nhưng tinh thần vẫn sáng suốt và chờ đợi ngày ra đi. Kể từ đó, mỗi khi tôi thực hiện chương trình trên làn sóng của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, mỗi lần phát nhạc của Nguyễn Văn Đông, bao giờ tôi cũng gửi một lời thăm hỏi, rằng những người ở nơi xa vẫn ái mộ những ca khúc thời chiến của Nguyễn Văn Đông, vẫn hát nhạc Nguyễn Văn Đông, vẫn nhớ người làm ra những tình khúc thời chinh chiến, nhưng lại rất êm đềm, đầy chất thơ lãng mạn …

“Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên.
Khoác lên vòng hoa trắng, cầm tay nhau đi anh, tơ trời quá mong manh.
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh, giữa khung trời gió lộng, nghìn sau nối nghìn xưa …”

Còn hình ảnh nào xót xa hơn, ngậm ngùi hơn? Nhưng cũng thơ hơn, lãng mạn hơn hình ảnh những cuộc chia tay nhau trong đó bối cảnh đất nước chiến tranh ngày ấy – trong nhạc Nguyễn Văn Đông?

Tôi yêu nhạc Nguyễn Văn Đông như yêu thơ Quang Dũng. Với hai người chiến sĩ nghệ sĩ này, những tình cảm về quê hương, về đồng bào, về đồng đội, về gia đình, về người yêu … như được thăng hoa, trở nên lóng lánh vô ngần.

Với Quang Dũng thì:

“Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa.
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ.
Thoáng hiện em về trong đáy cốc.
Nói cười như chuyện một đêm mơ.”

hay là:

“Xa quá rồi em người mỗi ngã.
Bên này đất nước nhớ thương nhau.
Em đi áo mỏng buông hờn tủi.
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào.”

Với Nguyễn Văn Đông, trong bài hát “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp” cũng có những tình cảm vấn vương như thế:

“Ngày mai xa cách nhau.
Một người gối chiếc cô phòng, một người gác núi ven rừng, chân mây đầu gió …
Còn đây đêm cuối cùng, nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha,
ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em …”

Tất cả những hình ảnh trên, những tình cảm trên của Quang Dũng cũng như của Nguyễn Văn Đông nói lên dùm tâm trạng của những người trai lên đường làm lịch sử. Thơ nhạc là khúc hát quân hành nhưng cũng là những giọt lệ từ ly … bi hùng và lãng mạn. Buồn nhưng đẹp lắm:

“Phương trời anh đi, xa xôi vạn lý.
Đêm nằm gối súng chung ánh trăng nhưng đôi đường ly cách trong tình thương …”

Những bài hát thời chinh chiến của Nguyễn Văn Đông, vượt qua thời gian, vượt qua biên giới, ở lại mãi mãi trong lòng người yêu thơ, yêu nhạc. Tôi nhớ thập niên 1960, ca sĩ Hùng Cường, nữ ca sĩ Hà Thanh hát rất hay bài “Mấy Dặm Sơn Khê”. Tiếng hát của Hùng Cường không phải tiếng hát mà tôi hằng yêu mến, nhưng nếu nói đến những nhạc phẩm “Ông Lái Đò” và “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp” thì phải nhắc đến Hùng Cường. Và trên 40 năm sau, ngày nay có một ca sĩ trẻ tuổi hát nhạc phẩm “Mấy Dặm Sơn Khê” thật truyền cảm tuyệt vời, đó là ca sĩ Anh Dũng, trong một CD của trung tâm Diễm Xưa. “Nghìn sau nối nghìn xưa …”, có phải chăng là thế?

Thi ca và lịch sử, cùng đời sống đã quyện lẫn vào nhau tạo nên một bức tranh khói sương huyền ảo. Ở đó chất chứa biết bao nhiêu điều đáng nhớ, đáng ghi. Tôi nhớ những ngày tháng đầu của 1975, khi những hình bóng ngu ngơ khờ khạo của các “chú bộ đội giải phóng” trẻ măng xuất hiện ở thành phố Sài Gòn, ai cũng cười, cũng ghét. Nhưng trong lòng tôi thầm tội nghiệp cho lớp người trẻ tuổi đó. Sinh ra và lớn lên ở một xã hội bưng bít, họ có biết gì đâu!

Càng thương hơn khi có người hát “Chiều Mưa Biên Giới” của Nguyễn Văn Đông và nói rằng bài hát đó của … “ta”. Nếu họ biết rằng bài hát đó của … “địch”, của một vị Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì sao nhỉ? Với tôi, chỉ biết rằng nhạc Nguyễn Văn Đông không biên giới, vượt cả không gian lẫn thời gian vĩnh cửu.

“Chiều mưa biên giới anh đi về đâu.
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu.
Kìa rừng chiều âm u rét mướt, chờ người về vui trong giá buốt.
Người về … bơ vơ”

Đó là hình ảnh người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa nơi giới tuyến. Họ trưởng thành trong bóng dáng quê hương đậm màu khói súng. Người lính với chiếc nón sắt che đầu …

“Đêm đêm chiếc bóng bên trời, vầng trăng xẻ đôi, vẫn in hình bóng một người …”

Đất nước Việt Nam thân yêu, với “hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài, người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có mấy ngàn ngày để anh ra đi từ sáng tinh mơ, chân dẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác nổ vang trời không nghỉ.

Tiếng mưa bom, đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen … hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc? (Nguyễn Thị Thảo An)

“Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng.
Người tìm về trong hơi áo ấm, gợi niềm xa xăm.
Người đi khu chiến thương người hậu phương.
Thương màu áo gửi ra sa trường.
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn, còn nhiều em ơi! …”

Với những tình khúc Nguyễn Văn Đông, hình ảnh và tâm tư người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa rất là rõ nét, mặc dù ông không mô tả rõ ràng. Chất thơ trong lời, trong nhạc của Nguyễn Văn Đông bàng bạc,phảng phất rất thơ mộng nhưng lại là một cái gì rất thưc. Nhạc Nguyễn Văn Đông bay bổng nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Lời hát diễm lệ bay bướm nhưng không cao xa. Những nỗi niềm thương nhớ, những gặp gỡ ly tan, những hy vọng đợi chờ, những đớn đau hạnh phúc … trong nhạc Nguyễn Văn Đông rất gần gũi với cuộc sống và tâm hồn của nhiều người, mọi tầng lớp trong xã hội. Người ta nghe nhạc Nguyễn Văn Đông bằng trái tim và bằng cả tâm hồn …

Cho dù là ngày nay, chinh chiến đã xa rồi, nhưng người ta vẫn nghe nhạc Nguyễn Văn Đông, quí mến và trân trọng. Giới trẻ vẫn thích nhạc Nguyễn Văn Đông, mà mỗi bản nhạc là một bức tranh bi hùng và diễm lệ của một thời lịch sử đã qua, theo năm tháng bức tranh ấy tuy có phôi pha màu sắc,thế nhưng vẻ lóng lánh trong lời thơ, nét nhạc thì vẫn quí giá như những viên ngọc tâm hồn. Trong cái nền của bức tranh quê hương ấy nổi bật lên hình ảnh người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa oai hùng mà lãng mạn.

“Anh như ngàn gió ham ngược xuôi theo đường mây.
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương.
Nước non còn đó, một tấc lòng không mờ xóa cùng năm tháng …”

Một buổi chiều, trong phòng thu âm cùng Minh Phượng, Uyển Diễm và Mai Phương thực hiện chương trình Thơ Nhạc, chúng tôi không khỏi xúc động bồi hồi khi tiếng hát Anh Dũng vang lên tha thiết êm đềm trong “Mấy Dặm Sơn Khê” của Nguyễn Văn Đông … chan chứa tình quê hương đất nước:

“Non nước ơi! hồn thiêng của núi sông.
Tiếp trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa …”

Bích Huyền