Sunday, December 31, 2017

Hướng dẫn cách đọc kết quả xét nghiệm máu

Hướng dẫn cách đọc kết quả xét nghiệm máu

Cách đọc kết quả xét nghiệm máu hay nước tiểu là điều bạn cần khi đi khám sức khỏe vì các bác sĩ vẫn hay chỉ định bệnh nhân đi làm xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu. Tuy nhiên nếu bác sĩ không giải thích thì bạn cũng không thể hiểu được các chỉ số trên kết quả xét nghiệm có ý nghĩa gì. Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây để cùng tìm hiểu về cách đọc kết quả xét nghiệm máu.
I. CÁC THÀNH PHẦN CỦA CÔNG THỨC MÁU
- WBC (White Blood Cell – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu):
Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3, tương đương với số lượng bạch cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.3 đến 10.8 x 109tế bào/l.
Tăng trong viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate, nhiễm khuẩn...
- RBC (Red Blood Cell – Số lượng hồng cầu (hoặc erythrocyte count) trong một thể tích máu):
Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.2 đến 5.9 triệu tế bào/cm3, tương đương với số lượng hồng cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.2 đến 5.9 x 1012tế bào/l.
Tăng trong mất nước, chứng tăng hồng cầu; giảm trong thiếu máu.
- HB hay HBG (Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu):
Hemoglobin là một loại phân tử protein có trong hồng cầu chuyên chở oxy và tạo màu đỏ cho hồng cầu.
Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 13 đến 18 g/dl đối với nam và 12 đến 16 g/dl đối với nữ (tính theo đơn vị quốc tế tương ứng là 8.1 – 11.2 millimole/l và 7.4 – 9.9 millimole/l).
Tăng trong mất nước, bệnh tim và bệnh phổi; giảm trong thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu.
- HCT (Hematocrit – Tỷ lệ thể tích hồng cầu trên thể tích máu toàn bộ):
Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 45 đến 52% đối với nam và 37 đến 48% đối với nữ.
Tăng trong các rối loạn dị ứng, chứng tăng hồng cầu, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh mạch vành, ở trên núi cao, mất nước, chứng giảm lưu lượng máu; giảm trong mất máu, thiếu máu, thai nghén.
- MCV (Mean corpuscular volume – Thể tích trung bình của một hồng cầu):
Giá trị này được lấy từ HCT và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 80 đến 100 femtoliter (1 femtoliter = 1/1triệu lít).
Tăng trong thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, bệnh gan, nghiện rượu, chứng tăng hồng cầu, suy tuyến giáp, bất sản tuỷ xương, xơ hoá tuỷ xương; giảm trong thiếu hụt sắt, hội chứng thalassemia và các bệnh hemoglobin khác, thiếu máu trong các bệnh mạn tính, thiếu máu nguyên hồng cầu, suy thận mạn tính, nhiễm độc chì.
- MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin – Số lượng trung bình của huyết sắc tố có trong một hồng cầu):
Giá trị này được tính bằng cách đo hemoglobin và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 27 đến 32 picogram.
Tăng trong thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh; giảm trong bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo.
- MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration – Nồng độ trung bình của huyết sắc tố trong một thể tích máu):
Giá trị này được tính bằng cách đo giá trị của hemoglobin và hematocrit. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 32 đến 36%.
Trong thiếu máu tăng sắc: hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.
Trong thiếu máu đang tái tạo: có thể bình thường hoặc giảm do giảm folate hoặc vitamin B12, xơ gan, nghiện rượu.
- PLT (Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu):
·         Tiểu cầu không phải là một tế bào hoàn chỉnh, mà là những mảnh vỡ của các tế bào chất (một thành phần của tế bào không chứa nhân hoặc thân của tế bào) từ những tế bào được tìm thấy trong tủy xương.
·         Tiểu cầu đóng vai trò sống còn trong quá trình đông máu, có tuổi thọ trung bình là 5 đến 9 ngày.
·         Giá trị thường nằm trong khoảng từ 150.000 đến 400.000/cm3 (tương đương 150 – 400 x 109/l).
·         Số lượng tiểu cầu quá thấp sẽ gây mất máu. Số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu, dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu...
·         Tăng trong những rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh bạch tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách..., dẫn đến các bệnh viêm.
·         Giảm trong ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh...
- LYM (Lymphocyte – Bạch cầu Lymphô):
Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Có rất nhiều nguyên nhân làm giảm lymphocytes như: giãm miễn nhiễm, nhiễm HIV/AIDS, Lao, sốt rét, ung thư máu, ung thư hạch...
Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 20 đến 25%.
- MXD (Mixed Cell Count – tỷ lệ pha trộn tế bào trong máu):
Mỗi loại tế bào có một lượng % nhất định trong máu. MXD thay đổi tùy vào sự tăng hoặc giảm tỷ lệ của từng loại tế bào.
- NEUT (Neutrophil – Tỷ lệ bạch cầu trung tính):
Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 60 đến 66%. Tỷ lệ tăng cao cho thấy nhiễm trùng máu.
Tăng trong nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, ung thư, bệnh bạch cầu dòng tuỷ; giảm trong nhiễm virus, thiếu máu bất sản, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị...
- RDW (Red Cell Distribution Width – Độ phân bố hồng cầu):
Giá trị này càng cao nghĩa là độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 11 đến 15%.
RDW bình thường và:
·         MCV tăng, gặp trong: thiếu máu bất sản, trước bệnh bạch cầu.
·         MCV bình thường, gặp trong: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu.
·         MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, bệnh thalassemia dị hợp tử
RDW tăng và:
·         MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, bệnh bạch cầu lympho mạn.
·         MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin.
·         MCV giảm: thiếu sắt, sự phân mảnh hồng cầu, bệnh HbH, thalassemia.
- PDW (Platelet Disrabution Width – Độ phân bố tiểu cầu):
Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6 đến18 %.
Tăng trong ung thư phổi, bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm; giảm trong nghiện rượu.
- MPV (Mean Platelet Volume – Thể tích trung bình của tiểu cầu trong một thể tích máu):
Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6,5 đến 11fL.
Tăng trong bệnh tim mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, stress, nhiễm độc do tuyến giáp...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bạch cầu cấp...
- P- LCR (Platelet Larger Cell Ratio – Tỷ lệ tiểu cầu có kích thước lớn):
Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 150 đến 500 G/l (G/l = 109/l).
II. CÁCH ĐỌC KẾT QUẢ SINH HÓA MÁU
1. GLU (GLUCOSE): Đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì tăng hoặc giảm đường máu. Tăng trên giới hạn là người có nguy cơ cao về mắc bệnh tiểu đường.
2. SGOT & SGPT: Nhóm men gan
Giới hạn bình thường từ 9,0-48,0 với SGOT và 5,0-49,0 với SGPT. Nếu vượt quá giới hạn này chức năng thải độc của tế bào gan suy giảm. Nên hạn chế ăn các chất thức ăn, nước uống làm cho gan khó hấp thu và ảnh hưởng tới chức năng gan như:
Các chất mỡ béo động vật và rượu bia và các nước uống có gas.
3. Nhóm MỠ MÁU: Bao gồm CHOLESTEROL, TRYGLYCERID, HDL-CHOLES, LDL-CHLES
Giới hạn bình thường của các yếu tố nhóm này như sau:
·         Giới hạn bình thường từ 3,4-5,4 mmol/l với CHOLESTEROL.
·         Giới hạn bình thường từ 0,4-2,3 mmol/l với TRYGLYCERID.
·         Giới hạn bình thường từ 0,9-2,1 mmol/l với HDL-Choles.
·         Giới hạn bình thường từ 0,0-2,9 mmol/l với LDL-Choles.
Nếu 1 trong các yếu tố trên đây vượt giới hạn cho phép thì có nguy cơ cao trong các bệnh về tim mạch và huyết áp. Riêng chất HDL-Choles là mỡ tốt, nếu cao nó hạn chế gây xơ tắc mach máu. Nếu CHOLESTEROL quá cao kèm theo có cao huyết áp và LDL-Choles cao thì nguy cơ tai biến, đột quỵ do huyết áp rất cao. Nên hạn chế ăn các thực phẩm chứa nhiều chất mỡ béo và cholesterol như: phủ tạng động vật, trứng gia cầm, tôm, cua, thịt bò, da gà... Tăng cường vận động thể thao. Uống thêm rượu tỏi và theo dõi huyết áp thường xuyên.
4. GGT: Gama globutamin, là một yếu tố miễn dịch cho tế bào gan. Bình thường nếu chức năng gan tốt, GGT sẽ có rất thấp ở trong máu (Từ 0-53 U/L). Khi tế bào gan phải làm việc quá mức, khả năng thải độc của gan bị kém đi thì GGT sẽ tăng lên -> Giảm sức đề kháng, miễn dịch của tế bào gan kém đi. Dễ dẫn tới suy tế bào gan. Nếu với người có nhiễm SVB trong máu mà GGT, SGOT & SGPT cùng tăng thì cần thiết phải dùng thuốc bổ trợ tế bào gan và tuyệt đối không uống rượu bia nếu không thì nguy cơ dẫn đến VGSVB là rất lớn.
5. URE (Ure máu): là sản phẩm thoái hóa quan trọng nhất của protein được thải qua thận.
Giới hạn bình thường: 2.5 - 7.5 mmol/l.
6. BUN (Blood Urea Nitrogen) = ure (mg) x 28/60; đổi đơn vị: mmol/l x 6 = mg/dl.
·         Tăng trong: bệnh thận, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng, tắc nghẽn đường tiểu...
·         Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng, suy kiệt...
BUN: là nitơ của ure trong máu.
Giới hạn bình thường 4,6 - 23,3 mg/dl. -> Bun = mmol/l x 6 x 28/60 = mmol/l x 2,8 (mg/dl).
·         Tăng trong: suy thận, suy tim, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng..
·         Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng..
7. CRE (Creatinin): là sản phẩm đào thải của thoái hóa creatin phosphat ở cơ, lượng tạo thành phụ thuộc khối lượng cơ, được lọc qua cầu thận & thải ra nước tiểu; cũng là thành phần đạm ổn định nhất không phụ thuộc vào chế độ ăn -> có giá trị xác định chức năng cầu thận.
Giới hạn bình thường: nam 62 - 120, nữ 53 - 100 (đơn vị: umol/l).
·         Tăng trong : bệnh thận, suy tim, tiểu đường, tăng huyết áp vô căn, NMCT cấp...
·         Giảm trong : có thai, sản giật...
8. URIC (Acid Uric = urat): là sản phẩm chuyển hóa của base purin (Adenin, Guanin) của ADN & ARN, thải chủ yếu qua nước tiểu.
Giới hạn bình thường: nam 180 - 420, nữ 150 - 360 (đơn vị: umol/l).
Tăng trong:
·         Nguyên phát: do sản xuất tăng, do bài xuất giảm (tự phát) -> liên quan các men: bệnh Lesh Nyhan, Von Gierke..
·         Thứ phát: do sản xuất tăng (u tủy, bệnh vảy nến..), do bài xuất giảm (suy thận, dùng thuốc, xơ vữa động mạch..).
·         Bệnh Gout (thống phong): tăng acid uric/ máu có thể kèm nốt tophi ở khớp & sỏi urat ở thận.
Giảm trong: bệnh Wilson, thương tổn tế bào gan..
9. KẾT QUẢ MIỄN DỊCH
·         Anti-HBs: Kháng thể chống vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH < = 12 mUI/ml).
·         HbsAg: Vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH).


Saturday, December 30, 2017

CHIẾN LƯỢC XÓA TIẾNG VIỆT TRƯỚC KHI SÁT NHẬP LÃNH THỔ VIỆT NAM VÀO NƯỚC TÀU

CHIẾN LƯỢC XÓA TIẾNG VIỆT TRƯỚC KHI SÁT NHẬP LÃNH THỔ VIỆT NAM VÀO NƯỚC TÀU

NGUYỄN HOÀNG HÂN
(Viện Nghiên Cứu Tài Nguyên Biển Đông)

Ngày 20-11-2017, giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền, 83 tuổi, tung ra một cuốn sách “Cải Tiến Tiếng Việt” sử dụng tiếng Việt Mới. Một loại tiếng Việt Hán hoá, phiên âm theo tiếng Tàu Bắc Kinh ( tổng hợp gồm đơn âm Quan Thoại và Bạch Thoại ). Nói cho dễ hiểu hơn, đây là một kiểu chữ Tàu áp dụng riêng cho người Việt Nam vào những thập niên sắp tới, phiên âm từ tiếng Tàu, nhằm địa phương hoá ngôn ngữ , tương tự như tiếng Tàu Quảng Đông, Hồ Nam, Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông ….trong thời gian Tự Trị trước khi sát nhập.
Quyển sách dầy 2000 trang, ông nói là do ông mất đúng 20 năm để biên soạn được Bộ Giáo Dục Việt Nam cho xuất bản. Tại Việt Nam, rải một tờ bươm bướm A4, quảng cáo dầu cù là hay thuốc xổ cao đơn hoàn tán cũng phải xin phép công an. Huống gì một công trình cải đổi từ tiếng Việt chuyển sang tiếng Tàu. Nếu không được sự uỷ nhiệm của Đảng, bà cố nội của ông Bùi Hiền cũng không dám làm điều nầy. Đây là một chiến dịch quy mô được phát động có kế hoạch, có âm mưu, có chiến lược, phổ biến rộng rãi để chuẩn bị tư tưởng người Việt nhằm tránh sự ngỡ ngàng một ngày kia không xa lắm, tiếng Việt sẽ bị xoá bỏ hẳn hòi.
Người ta tạo ra một thứ tiếng Tàu riêng cho từng vùng, từng khu vực mục đích đánh lừa một dân tộc trước khi tiêu diệt ngôn ngữ của dân tộc đó, đồng hoá dân tộc đó một cách êm thắm do người bản xứ lãnh đạo, chỉ huy và thực thi phương án sát nhập trong thời hạn 60 năm bắt đầu năm 2020, hoàn tất vào năm 2060. Lúc đó, Việt Nam chỉ còn là một tỉnh lỵ.
Ông Bùi Hiền nói láo, Đảng cũng nói lộn luôn!  “Bộ Chữ Cải Tiến Tiếng Việt ”  nầy hoàn toàn do “Cục Ngôn Ngữ Trung Quốc”  mà Cục Trưởng là giáo sư Từ Hướng Hòa ( con trai thứ ba của Thống Chế Từ Hướng Tiền) soạn thảo xong vào tháng 3 năm 1998, thời kỳ Giang Trạch Dân làm Tổng Bí Thư (1989-2002) . Bây giờ đã đến lúc ra lệnh Nhà Nước VN có bổn phận thi hành nhiệm vụ hướng dẫn người Việt đi từ từ vào con đường đồng hoá cũng như hội nhập vào xã hội của “Trung Quốc”  một cách “dịu dàng” ôn hòa , tự nguyện dâng hiến đất nước của mình trở thành một tỉnh lỵ của “ Trung Quốc” !.
Uông Dương (cháu nội Uông Tinh Vệ, Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Nam Kinh (1940-1944), về sau bắt tay với Nhật rồi hợp tác với Mao Trạch Đông. Người kế nhiệm Uông Tinh Vệ là Tưởng Giới Thạch. Người con trai út của Uông Tinh Vệ là Uông Triệu Quang, làm cận vệ cho Mao Trạch Đông hồi 17 tuổi, đến năm 40 tuổi giữ chức “ Cục Trưởng Cục Bảo Vệ Mao Chủ Tịch”. Đứa con trai trưởng của Uông Triệu Quang là Uông Dương, đệ tử ruột Tập Cận Bình, Uỷ Viên Thường Vụ Bộ Chính Trị , Phó Thủ Tướng Quốc Vụ Viện và kiêm luôn 5 chức vụ : 1- Tổ Trưởng Tổ Công Tác Điều Phối Tân Cương 2- Tỗ Trưởng Tổ Công Tác Điều Phối Tây Tạng 3- Tổ Trưởng Tổ Công Tác Điều Phối Nội Mông 4- Tổ Trưởng Tổ Công Tác Điều Phối Đài Loan 5- Tổ Trường Tổ Công Tác Điều Phối Việt Nam. Nói cách khác, Uông Dương là “Chủ Nhiệm Đô Hộ Phủ” có thẩm quyển tuyệt đối về vận mệnh các quốc gia vừa nêu trên.
Cách đây 1 năm, lúc 16 giờ chiều, ngày 12-1-2017, tại Sảnh Đường Nhân Dân Bắc Kinh, ông Nguyễn Phú Trọng đã ký “15 Hiệp Ước” có tính cách lệ thuộc và thần phục Bắc Kinh. Nhưng Hiệp Ước thứ 16 thì không ký trên văn bản mà ký bằng miệng, tức “ thoả hiệp ngầm”. Đó là văn kiện “ Cải Tiến Mẫu Tự Tiếng Việt”  thành âm điệu tiếng “Trung Quốc “  do Uông Dương trao tận tay ông Nguyễn Phú Trọng. Theo chỉ thị của “Trung Quốc”, Bộ Giáo Dục Việt Nam sẽ dạy “tiếng Việt Hán Hoá “ nầy cho bậc tiểu học vào năm 2023, bậc trung học phổ thông vào năm 2026 và bậc đại học vào năm 2030 !
Năm 1969, Chu Ân Lai thông báo với Lê Duẫn là “Trung Quốc “ đang có kế hoạch “bang giao” với Hoa Kỳ , yêu cầu VN hãy ở “thế thủ” , dùng giải pháp chính trị hơn là quân sự , không nên liên tục “tấn công” Miền Nam. Tháng 3-1970, Lê Duẫn sang yết kiến Mao Trạch Đông tại Hồ Nam (quê hương của Mao). Trong cuộc gặp gỡ nầy, Mao Trạch Đông hỏi rất xỏ lá :”Có phải trong lịch sử , người Việt Nam từng đánh bại quân nhà Nguyên Mông Cổ ?”. Lê Duẫn khiêm tốn đáp: “ Dạ, thưa phải” . Mao Trạch Đông: “ Đó là chuyện ngày xưa . Còn chuyện ngày nay và ngày sau thì tôi muốn di dân 500 triệu người Trung Quốc của tôi định cư toàn vùng Đông Nam Á  và Việt Nam là bàn đạp trong chiến dịch di dân của người Trung Quốc , đồng chí nghĩ sao ?” . Lê Duẫn trả lời; “ Đồng chí Chủ Tịch muốn gì cũng được, miễn là đừng đẩy Việt Nam vào đường cùng bằng pháo binh, thiết giáp và tên lửa ?”. Mao Trạch Đông hỏi tiếp: “Muốn sử dụng Việt Nam làm bàn đạp tiến xuống Đông Nam Á không áp dụng chiến tranh thì chỉ còn một cách duy nhất là hai nước  phải “hợp tác” với nhau thôi.”. Ý nghĩa của hai chữ “hợp tác”, Lê Duẫn hiểu hết chứ ! Hiểu mà không thi hành là dựa vào lưng Nga Sô. Vì vậy, ngày 17-2-1979, Đặng Tiễu Bình chỉ thị Đại Tướng Dương Đắc Chí và Đại Tướng Hứa Thế Hữu chỉ huy 600 ngàn quân, 400 thiết giáp, 2200 khẫu đại pháo 122 ly tràn qua biên giới tàn phá 6 tỉnh lỵ miền Bắc “ dạy cho Việt Nam một bài học”. Trong cuộc chiến nầy, nói thì nói, Tàu vẫn thua đậm. Đặng Tiểu Bình nóng mặt. gấp rút cho thực hiện chính sách “Tứ Đại Canh Tân” .
Lê Duẫn chết ngày 10-7-1986 ( 79 tuổi ) . Nguyễn Văn Linh lên thay thế  chức Tổng Bí Thư từ ngày 18-12-1986 đến ngày 28-6-1991, Nguyễn Văn Linh triệt để “hợp tác” với Bắc Kinh qua “thoả hiệp ngầm” ký tại Thành Đô (Tứ Xuyên ) ngày 4-9-1990, trong đó có 10 điều khoản kê khai rõ ràng :1-  Sát nhập đất liền ( dư luận nghĩ sai là VN nhượng đất, nhượng lãnh hải . Sự thật sát nhập dần dần) 2. Sát nhập biển . 3-Sát nhập kinh tế  4- Sát nhập quốc phòng 5- Sát nhập an ninh 6-Sát nhập gián điệp 7- Sát nhập tình báo 8- Sát nhập di dân 10- Sát nhập văn hoá  10- Trước khi sát nhập sẽ có thời hạn 17 năm sát nhập ngôn ngữ .
Năm 42, Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú hạ lệnh Thống Tướng Mã Viện thống lảnh 20 ngàn quân sang xâm lăng Việt Nam. Giao chiến lâu ngày, quân Hai Bà Trưng thiếu trang bị và kinh nghiệm không chống cự nổi đạo quân thiện chiến của Mã Viện. Sau khi chiến thắng Hai Bà Trưng, Mã Viện xử chém 1/3 dân số Việt Nam và tru di tam tộc các dòng họ Trưng, Thi, Đô, Lá, Thiều, Ngọc …. Cho nên, Việt Nam không còn những dòng họ nầy. Mã Viện tâu lên vua Lưu Tú ( người sáng lập nhà Đông Hán ) rằng : “Việt Nam có luật lệ riêng, có phong tục riêng, có tiếng nói khác với nhà Hán, muốn đồng hoá chúng nó thì phải xoá ngôn ngữ chúng nó.” Nhưng một mặt người Việt “đánh du kích chiến” ròng rả hàng trăm năm, đến năm 939 Ngô Quyền tuyên bố độc lập. Một mặt, giả vờ hợp tác với các Thái Thú Tàu, học chữ Hán, viết chữ Hán, nhưng khi nói chuyện thì nói bằng tiếng nói của nước mình. Không ai dám gọi là tiếng “Nam =An Nam” đọc trại thành tiếng “Nôm”. Kiên trì giữ vững phong tục, luật lệ, tiếng nói của dân tộc mình nên Việt Nam là quốc gia độc nhất trong 100 Việt (Bách Việt ) không bị Tàu đồng hoá, trường tồn trên 4000 năm nay.
Nhà văn hoá Phạm Quỳnh, trước khi bị Cộng Sản xử bắn cùng với ông Ngô Đình Khôi    ( anh ruột Tổng Thống Ngô Đình Diệm), Ngô Đình Huân (con trai của ông Ngô Đình Khôi) tại rừng Hắc Thú (Huế) tháng 8 năm 1945 , để lại câu nói lịch sử : “ Tiếng Việt còn, nước Ta còn. Tiếng Việt mất, nước ta sẽ không còn”. Văn hào Voltaire củng có nói: “ Tổ quốc chính là điểm mà trái tim chúng ta buộc vào .”
Tiếng nói bị xoá mất, dân tộc sẽ mất theo! Bởi vì, tiếng nói làm nên con người. Con người dựng thành tổ quốc. Ngôn ngữ không còn, con người biến thành nô lệ và tổ quốc sẽ bị diệt vong, bị xoá tên trên bản đồ thế giới, trái tim vở nát, nước mắt sẽ chảy thành sông, vì: “ Nước đi mãi không về cùng non” (Tản Đà) .


NGUYỄN HOÀNG HÂN


Friday, December 29, 2017

Bay từ Mỹ về Việt Nam: Việt kiều Mỹ kêu trời kêu đất

Trung Cộng, Một Cường Quốc Hèn Mọn-Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo
          TRUNG CỘNG - MỘT CƯỜNG QUỐC HÈN MỌN

 
Bangladesh là quốc gia có dân số 147 triệu ở vùng Nam Á. Sau cuộc chiến tạm gọi là nội chiến Pakistan dài phát xuất từ các lý do văn hóa, tôn giáo, địa lý, quốc gia Bangladesh được thành lập vào năm 1971. Về kinh tế, Bangladesh được xếp vào hạng thứ 151 trên thế giới, nghĩa là rất nghèo. Nhiều triệu trẻ em Bangladesh vẫn còn thiếu dinh dưỡng. Chẳng những thế, các nước chung quanh cũng là những nước nghèo không thua kém nên các quan hệ kinh tế thương mại trong khu vực chẳng phát triển gì nhiều.

Nhưng khi trận bão lụt Katrina xảy ra ở New  Orleans
, Mỹ, tháng 8 2005, Bangladesh là một trong những quốc gia đầu tiên đáp ứng về cả nhân lực lẫn tài chánh. Chính phủ Bangladesh đã tặng nạn nhân Katrina 1 triệu Dollar và sẵn sàng đưa chuyên viên sang giúp xây dựng các đê điều ở New Orleans mà họ vốn có nhiều kinh nghiệm.

Có người cho rằng việc Bangladesh tặng một triệu Dollar cho Mỹ chẳng khác gì “gánh củi về rừng” và cũng có người cho rằng đó là một cách đầu tư lòng nhân đạo. Một nước nghèo như Bangladesh, số tiền một triệu đó sớm muộn cũng được Mỹ viện trợ trở lại, có thể với cả vốn lẫn lời.

Nhưng đại đa số các nhà bình luận đều đồng ý, trên tất cả những khía cạnh chính trị, kinh tế, nghĩa cử của chính phủ Bangladesh đã nói lên tấm lòng nhân ái của những người cùng cảnh ngộ.Năm 1974, Bangladesh vừa mới thành lập đã phải chịu một trong những cơn lụt lớn nhất trong lịch sử nhân loại với gần 30 ngàn người chết. Những cơn mưa mùa kéo dài suốt tháng đã làm xứ sở này sống với lũ lụt thường xuyên như chúng ta thấy trên các phóng sự truyền hình. Không ai hiểu được nỗi lòng của người chịu đựng lũ lụt hơn những người phải than thở “trời hành cơn lụt mỗi năm” như người dân Bangladesh.

Ngày 4 tháng 11, bão Haiyan hay Yolanda theo cách gọi của Philippines được cảnh báo và ngày 7 tháng 11, Tổng thống Phi Benigno Aquino III kêu gọi dân chúng trong vùng bão sẽ đi qua di tản tức khắc. Nhưng nhiều khu vực không biết tin tức và dù có nhận được lịnh cũng không biết đi đâu. Và vài giờ sau, lúc 6 giờ sáng cơn bão với sức gió 275 kilomet giờ vào đất liền.

Theo ước lượng của các cơ quan thiện nguyện quốc tế nhiều chục ngàn người dân Phi tại các đảo miền trung Philippines đã chết do cơn bão Haiyan gây ra. Chỉ riêng đảo Leyte Island đã có 10 ngàn người chết. Theo ước lượng của cơ quan National Disaster Risk Reduction and Management Council (NDRRMC) thuộc chính phủ Phi, khoảng 9.5 triệu người bị ảnh hưởng và 630 ngàn người đang lâm cảnh màn trời chiếu đất. Theo phóng viên CNN có mặt tại chỗ trong những ngày đầu, nhiều làng đã trở thành ngôi mộ tập thể và nạn nhân sống sót phải uống nước dừa để sống. Với sức gió 275 kilomet một giờ số thiệt hại nhân mạng và tài sản cuối cùng sẽ còn cao hơn ước tính rất nhiều.

Trong điêu tàn đổ nát do siêu bão Haiyan gây ra những hạt giống tình thương đang được gieo trồng. Hàng trăm quốc gia, hàng ngàn tổ chức từ thiện khắp thế giới đang đổ về Philippines không chỉ với thuốc men, áo quần, thực phẩm mà cả nhân lực để góp phần hàn gắn vết thương. Chính phủ Mỹ chỉ vài giờ sau cơn bão đã thông báo viện trợ khẩn cấp 20 triệu Dollar, Anh tặng 16 triệu Dollar, Nhật Bản tặng 10 triệu Dollar. Đó chỉ là tiền mặt, ngoài ra, các hàng không mẫu hạm HMS Illustrious của Anh, USS George Washington của Mỹ chuyên chở thuốc men và vật dụng cần thiết đến Phi.

Và Trung Cộng, quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới đã viện trợ 100 ngàn Dollar.

Đừng nói gì các công ty như IKEA cam kết 2.7 triệu Dollar, Coco-Cola cam kết 2.5 triệu Dollar, số tiền viện trợ của cường quốc thứ hai trên thế giới có thể còn thấp hơn số tiền do các cựu thuyền nhân và đồng hương Việt Nam tại hải ngoại đóng góp. 

Báo Times bình luận 100 ngàn Dollar là một sỉ nhục đối với Philippines.

Trước phản ứng của dư luận thế giới mới đây Trung Cộng đã gia tăng viện trợ lên đến 1.64 triệu Dollar nhưng không phải tiền mặt mà là mùng mền, chăn chiếu. Những món “Made in China” này nghe qua là đã sợ.

Nhiều nhà bình luận dù phê bình Trung Cộng đã yểm trợ chỉ bằng sáu phần trăm số tiền New Zealand đã hứa nhưng không ai hiểu tại sao các lãnh đạo Trung Cộng lại có thể làm như thế, chẳng lẽ chúng không biết thế nào là xấu hổ hay sao. Ngay cả tờ Global Times có khuynh hướng dân tộc cực đoan cũng viết trong phần bình luận ngày 12 tháng 11, 2013 “Trung Quốc như một cường quốc có trách nhiệm nên tham gia vào các hoạt động cứu trợ để giúp đỡ nạn nhân của quốc gia láng giềng. Nếu Trung Cộng làm nhục Philippines lần này, Trung Quốc sẽ chịu tổn thất lớn lao.”

Lãnh đạo Trung Cộng không phải là không nhận ra điều đó nhưng Trung Cộng ngày nay không phải là một Trung Cộng mà Chu Ân Lai từng thề nguyền sát cánh cùng các nước nghèo, bị trị láng giềng tại hội nghị Bandung ở Nam Dương 1955. Trung Cộng ngày nay cũng không phải là một Trung Cộng mà Đặng Tiểu Bình đã hứa chia ngọt sẻ bùi với các quốc gia Đông Nam Á bằng những lời đường mật trong chuyến viếng thăm của y năm 1978. Cơn bĩ cực đã qua, thời thái lai đang tới, lãnh đạo Trung Cộng ngày nay là một đám kiêu căng đang giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc Đại Hán và chủ nghĩa này sẽ là chảo dầu của chiến tranh thế giới lần thứ ba phát xuất tại Á Châu.

Hơn ai hết, lãnh đạo Trung Cộng biết 3 trong số 20 cơn lụt lớn nhất nhân loại đều xảy ra tại Trung Hoa với khoảng 3 triệu người chết trong cơn lụt 1931, hai triệu người chết trong cơn lụt 1887 và khoảng bảy trăm ngàn người chết trong cơn lụt 1938, nhưng bản chất ti tiện, kiêu căng của giới lãnh đạo CS đã giết chết đặc tính “nhân chi sơ tính bổn thiện” của con người, che khuất tình “đồng cảnh tương thân”, bôi một lớp tro đen lên trên mấy ngàn năm văn hóa Trung Hoa và hủy hoại thể diện một của một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.

Trung Cộng là một trong những nước có nguồn dự trữ vàng lớn nhất thế giới, là nước chủ nợ lớn nhất thế giới và GDP có khả năng sẽ vượt qua Mỹ vào năm 2020 với ước lượng khoảng 24 ngàn tỉ Dollar. Trung Cộng có rất nhiều cái nhất nhưng những điều đó không làm nên giá trị của một quốc gia, không làm cho nhân loại kính trọng Trung Cộng hơn Bangladesh, bởi vì giá trị của một quốc gia không phải được xác định bằng của cải mà bằng các tiêu chuẩn đạo đức, dân chủ, văn minh và văn hóa.

Khi bàn về những phẩm chất để làm một quốc gia trở nên vĩ đại và được kính trọng, nhà văn Thomas Fann, trong một tiểu luận xuất sắc đã nêu ra 10 yếu tố gồm tự do, công lý, danh dự, đạo đức, lòng thương cảm, thành thật, giá trị cuộc sống, sáng tạo, vượt trội, bảo vệ môi trường cho các thế hệ tương lai. Thomas Fann nhấn mạnh đến việc nghĩ đến các thế hệ tương lại khi nhắc câu chuyện Disney Land. Ông Walt Disney chết năm năm trước ngày Disney World ở Florida, Mỹ, khai mạc. Trong lễ khai mạc, có người than phải chi ông còn sống để thấy những khu chơi dành cho cho thiếu nhi huy hoàng tráng lệ như ngày nay. Thật ra, với tầm nhìn xa và tư duy khai phóng, ông Walt Disney đã thấy những nụ cười rạng rở, những ánh mắt vui tươi của trẻ em từ lâu trước ngày khai mạc Disney Land.

Trung Cộng không đạt bất cứ một phẩm chất nào trong mười phẩm chất nêu trên. Nhưng nếu phải xếp hạng, có lẽ nên được xếp Trung Cộng cùng thời đại với các nhóm dân bộ lạc bán khai ăn thịt người còn sống tản mát trong các khu rừng ở Congo, vùng West Indies và khu vực Amazon hoang dã.

Tại sao?

Cách đây không lâu Trung Cộng là một trong số ít quốc gia mà cha mẹ đã làm thịt con đẻ của mình để sống qua ngày. Cách đây không lâu đã có hơn ba chục triệu người dân Trung Cộng phải chết đói, ăn thịt nhau một cách công khai trong thời kỳ Bước tiến nhảy vọt và Công xã nhân dân, tức giai đoạn người dân phải đem nồi niêu xoong chảo ra các “nhà luyện kim sau vườn” để “đúc thép” theo chủ trương của Mao Trạch Đông. Và không chỉ trong 40 năm trước, mà ngay cả ngày nay cũng thế, trong lúc đại đa số nhân loại đã qua khỏi thời kỳ dã man cả ngàn năm nhưng tại Trung Cộng việc ăn thịt người là một thức ăn sang trọng. Tờ Next Magazine phát hành tại Hong Kong cho rằng tại Trung Cộng, thai nhi là thức ăn phổ biến.

Tháng Năm, 2012, trên tờ Washington Times, nhà văn và nhà nghiên cứu Youngbee Dale cho biết sở quan thuế Nam Hàn đã tịch thu 17 ngàn viên thuốc chế bằng thai nhi sản xuất tại Trung Cộng. Chính sách một con đã buộc các cặp vợ chồng chọn phá thai dù ở giai đoạn nào khi biết đứa bé sắp chào đời là con gái. Đài truyền hình Nam Hàn chiếu một phóng sự kinh hoàng, trong đó, các bác sĩ người Hoa thực hiện các ca phá thai và ăn bào thai ngay tại chỗ. Một bác sĩ người Hoa khác để dành bào thai trong tủ lạnh như để dành tôm cá. Việc ăn thịt người xảy ra nhiều nơi ở các bộ lạc bán khai Phi Châu, Nam Mỹ nhưng ăn thịt người được nhà nước cho phép chỉ xảy ra tại quê hương của Tập Cận Bình.

Trung Cộng như một cường quốc kinh tế và theo thông lệ chính trị quốc tế, phải hành xử đúng tư cách của một cường quốc dù đối với bạn hay thù. Nhưng không, lãnh đạo Trung Cộng không có trái tim và lòng nhân đạo và cũng không quan tâm đến sĩ diện của quốc gia. Đối với chúng tiền bạc là vũ khí, là cây gậy. Philippines là quốc gia tranh chấp với Trung Cộng về chủ quyền biển Đông nên những đứa bé Philippines đang hấp hối ở Tacloban phải chết thay cho chính phủ của các em.

Lãnh đạo Trung Cộng là những kẻ nói như Bá Dương nhận xét về nước của ông ta “Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.”

Tại sao người Nhật không ghét Mỹ dù Mỹ đã ném hai trái bom nguyên tử giết 240 ngàn người Nhật tại hai đảo Hiroshima và Nagasaki? Bởi vì đó là lịch sử. Con người cũng như quốc gia, không ai có thể quay ngược lại bánh xe thời gian và chỉ có thể vượt qua nỗi đau quá khứ bằng cách xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Trung Cộng thì khác. Mối nhục một trăm năm được ghi đậm ngay trong phần mở đầu của hiến pháp và lòng thù hận nước ngoài đã được đảng CS khai thác tận tình.

Từ cơn bão lụt Katrina đến nay, mỗi khi cần phải tìm một ví dụ để nhắc đến tình người, để biểu dương tinh thần “đồng cảnh tương thân”, Bangladesh lại được ca ngợi trong hầu hết bài viết, bài diễn văn, từ tổng thống Mỹ cho đến một học sinh trung học và xem đó như “tấm gương Bangladesh”. Từ cơn bão Haiyan về sau, Trung Cộng cũng sẽ được nhắc nhở nhưng hoàn toàn phản nghĩa với Bangladesh. Trung Cộng sẽ đồng nghĩa với bản chất ti tiện, dã man, kiêu căng, thù vặt và thù dai. Bản chất đó là “sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn” của dòng máu bành trướng Đại Hán và đặc tính Cộng Sản độc tài.

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, Trung Cộng là quốc gia có tổng sản lượng nội địa năm 2012 hơn bảy ngàn tỉ Dollar nhưng trong mắt của phần lớn nhân loại, trị giá của cường quốc này chỉ đáng 100 ngàn.

Trần Trung Đạo
Được đăng bởi VIỆN NHÂN QUYỀN VIỆT NAM 


Thursday, December 28, 2017

Chóng mặt và bịnh Parkinson-Bs Hồ Văn Hiến

Chóng mt và bnh Parkinson
14/12/2017
Bác Sĩ Hồ Văn Hiền

Bnh Parkinson là mt bnh do thoái hoá ca h thn kinh (neurodegenerative disease) nh hưởng đến các c đng và tình trng tâm trí ca người bnh, do mt b phn trong não b tên "substancia nigra"(cht đen) b hư hi, làm mc truyn dn thn kinh dopamine b thiếu ht. Nguyên nhân chưa hiu rõ. Người tr có th b bnh này nhưng hiếm, người trên 60 tui 1/00 mc bnh Parkinson. Tui 60-69, chng 1000 người thì có 5 người bnh, 70-79 tui 10/1000, trên 80 tui 20/1000.
Trước khi bnh Parkinson được bác sĩ chính thc đnh bnh, có th có nhng triu chng báo trước mà bác sĩ cũng như bnh nhân không nhn ra, trong đó có chng chóng mt, cm thy mình lâng lâng đi đng không vng hay s vt xoay chung quanh mình. Theo National Parkinson Foundation, nhng triu chng sm khác là:
1) Ging nói thay đi, yếu đi hoc khàn đi mà không phi do bnh cm nht thi; nhiu người tưởng bnh nhân điếc vì không nghe câu tr li quá yếu t.
2) Nét mt tr nên nghiêm ngh, khó chu, mt nhìn không thy chp; tiếng Anh gi là "mang mt n" (masking).
3) Dáng khòm xung, co rút li (stooping)
4) Mt ngón tay rung, cm rung, chân rung (tremor)
5) Mt kh năng ngi mùi trái chui, cam tho, không ch tm thi (ví d b cm nght mũi) mà kéo dài.
6) Đi đng khó khăn, cng nhc (rigidity).
7) Ch viết đt ngt tr nên nh hơn, dính vào nhau, khó đc (micrographia).
8) Ng nm không yên, tay đm chân đá, d té xung giường.
9) Bón, phi rn thường xuyên mi đi cu được, mc dù ăn thc ăn có si , trái cây, ung nước đy đ.
Sau đây chúng ta bàn v chng chóng mt lúc đi v trí, đng lên, ngi nm, do hai nguyên nhân thường gp dù là có liên h vi bnh Parkinson hay không. Chóng mt có th là mt thành phn ca bnh Parkinson mà cũng c th do thuc cha bnh Parkinson gây ra như là mt phn ng ph.
1) Cn phân bit vi lâng lâng như say rượu (lightheadedness), cm giác mt thăng bng (imbalance, mun té), hay cm giác sp xu, hoc xu (fainting) vì nhng lý do khác như đường máu quá thp (hypoglycemia), áp huyết quá thp (hypotension), máu lên đu b gim vì các đng mch nuôi óc b nghn do xơ đng mch (atheroslerosis). Phn ln bnh nhân Parkinson chóng mt do "orthostatic hypotension", kh năng cơ th t điu chnh đ gi áp huyết n đnh lúc ngi dy t v trí nm hay đng lên.
Áp huyết thp (hypotension), thường được đnh nghĩa như là áp sut k thu tâm = hoc < 90mm thu ngân (systolic pressure = or <90 mm Hg), áp sut trương tâm= hoc < 60 mm Hg (diastolic pressure = or <60 mm Hg). Tuy nhiên cũng tu theo bnh nhân, tui bnh nhân, áp huyết thông thường ca người đó. Có nhiu nguyên nhân, gin d như bnh nhân thiếu nước, b xúc đng, ngâm nước nóng quá lâu (mch máu dãn n), có thai, ít vn đng. Phc tp hơn ví d bnh nhân thiếu máu (bn huyết, lượng hng cu quá thp), chy máu đâu đó (ví d rong kinh, chy máu bao t, rut), hay suy cơ năng tuyến giáp, nang thượng thn (bnh Addison: đi đôi vi da sm màu, các vùng niêm mc như ming cũng đen hơn bình thường), nhim trùng máu, phn ng thuc, d ng, phn v (anaphylaxis=huyết áp h nhanh, shock kèm theo khó th, ni mn ngoài da). Cũng nên nêu rõ áp huyết thp (hypotension) và thiếu máu (anemia) là hai bnh khác nhau, mc dù thiếu máu có th gây ra áp huyết thp, chóng mt, xu.
Nếu bác sĩ khám thy huyết áp thp trong lúc mi chuyn khác đu bình thường, bác sĩ có th nghi là th tích máu trong h hoàn không đ, cn gia tăng th tích này lên và khuyên ung thêm nước. Tuy nhiên , có th không hiu nghim lm, tr trường hp bnh nhân b mt nước quá nhiu mà không biết, như tri nóng chy m hôi quá nhiu, ung rượu làm đi tiu quá nhiu kèm theo ói ma, hay bnh nhân viêm d dày, rut làm tiêu chy , ói ma và mt nước.
Người bình thường không có các vn đ cp tính nêu trên, cn xét đến các yếu t khác gây ra h áp huyết thp. Ví d như người ít vn đng, ngi nhiu, máu t xung hai chân (h chi), lúc đng dy nhanh, cơ th không thích ng đ nhanh đ đem máu lên đu kp (như mch máu co li đ máu dn v tim, tim đp nhanh hơn, mnh hơn). Nếu đo áp huyết lúc đang ngi và lúc đng lên, áp huyết có th quá thp lúc đng, gi là "orthostatic hypotension" (ortho =thng, static: v trí) (s áp huyết thu tâm [systolic pressure] gim 20mm Hg , hay s trương tâm gim [diastolic pressure] 10 mm Hg trong vòng 3 phút sau khi đng lên). Nhng người này có th cn ăn mn thêm (thêm mui) và vn đng th thao nhiu hơn nếu thích hp).
Nhng trường hp mãn tính người tr hay bnh nhân Parkinson có th do h thn kinh t dưỡng (autonomic nervous system) b ri lon, h thn kinh giao cm (symphathetic) ph trách điu khin tim bơm máu mnh hơn, nhanh hơn, co mch máu đ tăng áp sut trong mch có th không đáp ng đ mnh (neurogenic orthostatic hypotension, NOH). Đng chéo hai chân, ngi chm hm, mc qun bó chân (lower limb compression bandage), bó bng li (abdominal binder) không cho máu t dưới thp có th làm gim orthostatic hypotension. Năm 2014, FDA chp nhn cho thuc Droxidopa (Nothera),được dùng đ tr NOH đi kèm theo bnh Parkinson, tng được dùng Nht và Châu Á t năm 1989. Phn ng ph là áp huyết có th lên cao lúc nm xung, mt mi, nhc đu chóng mt.
2) Bnh chóng mt tng cơn lành tính tu thuc tư thế (Benign Paroxysmal Positional Vertigo/ BPPV). Chng 10% các trường hp bnh nhân Parkinson chóng mt vì bnh này.
Thường vertigo gây ra do bnh lý ca mt b phn trong phn tai trong (inner ear) còn gi là mê đo (labyrinth) vì nó gm nhiu ng cha đy mt cht dch ni lin vi nhau. Mi ln đu chúng ta quay qua li, gt đu, ngng đu, nước dch này di chuyn trong các ng bán khuyên (semicircular canals) và kích thích các tế bào lông (hair cells, cilia) trong ng. Các tế bào này phát tín hiu vào não b, não b phân tích đ biết phương hướng mi ca cơ th trong lúc di chuyn. Có nhng vt nh gi là "đá tai" (otolith; oto=tai, lith =đá; nhưng tht ra là nhng tinh th rt nh kết t vi nhau); chúng di đng lúc đu chúng ta lên xung cao thp, di chuyn trước sau, phi trái bên này qua bên kia, chúng cho biết v trí đu chúng ta so vi chiu sc hút qu đt (gravity); (ví d lúc đi thang máy chy lên khác chy xung) và gia tc (acceleration; ví d lúc xe chúng ta ngi chy vt lên). Trong mt s trường hp các "đá tai" này chy lc vào trong các ng bán khuyên, to nên tín hiu bt thường làm chóng mt tng cơn, tái đi tái li. Mi cơn kéo dài chng mt phút thì gim, đi kèm theo vi hai tròng mt di đng, git nhp nhàng (nystagmus); có th làm lo đo, nôn ma. Bác sĩ cha bng cách đt đu bnh nhân vào nhiu tư thế khác nhau đ tìm cách đưa các "đá tai" ra khi vòng bán khuyên.
Chúc bnh nhân may mn.
Bác sĩ H Văn Hin.