Thursday, February 19, 2015

Ngày cuối năm với bạn bè-Văn Quang



Văn Quang – Viết từ Sài Gòn ngày 16.2.2015
Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, tụ họp anh chị em trong gia đình, sui gia và hàng xóm láng giềng, bạn bè gặp nhau. Những này trước Tết là những ngày tất niên hầu hết các công tư sở thường có buổi tiệc Tất Niên. Đôi khi có những người bạn thân mật hơn, họp mặt trong một gia đình nào đó cùng nhau thù tạc “chén chú chén anh”.
Sở lớn làm tiệc tùng ở những nhà hàng, khách sạn sang trọng, sở nhỏ làm ở quán bình dân, có khi làm tiệc tất niên ngay ở vỉa hè. Cứ sau giờ tan sở là quán xá bắt đầu nhộn nhịp, nhiều dẫy bàn ghế xếp ngay bên đường, các cô các cậu còn nguyên đồng phục kéo nhau đến ăn tất niên rất rộn rã, những tiếng “dzô, dzô” ầm ỹ, rượu vào lời ra cứ như chỗ không người. Lúc đó quên hết mọi ưu phiền trong năm vừa qua, cố đi tìm một hy vọng cho năm mới sắp tới dù chưa biết cái hy vọng nhỏ nhoi đó là gì.
Thời nay có nhiều gia đình có thân nhân ở nước ngoài về VN với nhiều lý do khác nhau, nhưng hầu hết là muốn thăm gặp lại những người thân, thăm viếng mộ tổ tiên hoặc mấy ông bà già đưa con cháu “thế hệ thứ hai thứ ba” về cho biết “cái xứ VN là như thế nào”.
Trong bài trước tôi đã viết: “Riêng cánh già chúng tôi, những ngày cuối năm ở Sài Gòn, thường là có bạn bè ở nước ngoài về ghé thăm hoặc “a lô” hẹn nhau ở quán cà phê nào đó rồi kéo nhau ra “đấu láo” chuyện xa xưa, chuyện bây giờ, kẻ còn người mất. Nhiều chuyện cũng “lâm ly” lắm, những lúc đó mới thật sự biết rằng cuộc đời còn đáng sống. Nếu bạn sống ở Sài Gòn như tôi, suốt một năm chỉ muốn nằm nhà, muốn “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt” cho xong chuyện đời mới thấy được niềm vui hội ngộ ấy như thế nào”.
Bài này xin kể cùng bạn đọc đôi nét riêng tư về những cuộc hội ngộ ấy, gọi là chút tậm sự, ghi lại vài kỷ niệm vào cuối năm nay để bạn đọc cho vui trong những ngày cuối năm và thông cảm với “cánh già”.
Nếu kể tất cả những người bạn có may mắn ra nước ngoài định cư về thăm tôi từ mấy năm qua thì quá nhiều. Bạn đồng đội, bạn làm báo, bạn ca nhạc sĩ, bạn “giang hồ”, bạn tù mà chúng tôi gọi là “bạn cùng chung một mối căm hờn trong cũi sắt”, tôi không thể kể hết. Tôi chỉ còn biết cảm tạ những tấm lòng của các bạn đã nghĩ đến “người ở lại”. Ở đây tôi chỉ kể đến vài người bạn tôi đã gặp vào dịp cuối năm nay.
Quán café bên Hồ Con Rùa
Trước hết là gia đình ông tu bíp Hà Xuân Du đưa con cháu về VN trong kỳ nghỉ cuối năm. “Phái đoàn” của ông có tới gần 10 người đi từ Nam ra Bắc. Khi con cháu về Mỹ trước, ông bà ở lại thêm vài ngày thăm bạn bè. Bạn của ông hầu hết là gia đình không quân còn ở lại VN. Hai ông bà đến thăm nhà tôi trên cái chung cư cũ rích nghèo nàn “muôn năm cũ”, hôm sau ông còn hẹn tôi ra quán café “Nghệ Thuật” bên Hồ Con Rùa để “tâm sự lẻ”. Chúng tôi tôi chọn quán này vì không có những chân dài phục vụ nên vắng luôn cả những cô cậu choai choai, đầu tóc như tài tử Hàn Quốc, nhạc khua ầm ỹ.
Quán này hầu như chỉ có những người đứng tuổi vào đây. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện “bên này bên kia”, ai sống thế nào, cuộc đời dâu biển ra sao. Nhờ đó có thể biết tin tức khá chính xác về hầu hết bạn bè xưa cũ. Kẻ còn người mất với nỗi ngậm ngùi, niềm nhớ nhung thương tiếc vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức, có những kỷ niệm tuy nhỏ nhặt nhưng không thể phai mờ. Ngồi từ 9 giờ sáng, mãi tới 12g trưa quên cả đường về, mới chợt nhớ đã ngồi “ám quẻ” chủ quán quá lâu.
Rồi cách đây vài hôm, Mai Bá Trác, gọi cho tôi cho biết đang ở Sài Gòn nhưng tất nhiên là “cậu Ba” còn về Đà Nẵng thăm mấy chục mẫu đất xưa. Thế nên chúng tôi đặt cho cái nick name “Cậu Ba Đà Nẵng”.
Ngay sau đó là “thần đồng âm nhạc”… bây giờ đã có râu Hoàng Thi Thao cũng hiện diện tại Sài Gòn. Ông này quên địa chỉ mail của tôi nên phải “meo” về Mỹ hỏi ông Tạ Quang Khôi số điện thoại. Ngay hôm sau ông gọi lại và 2 chúng tôi lại hẹn nhau ở quán Nghệ Thuật, vẫn chuyện ca nhạc sĩ sống ra sao, chuyện đá banh, chuyện tennis. Ông khoái nữ danh thủ quần vợt Ana Ivanovic đẹp chín, dịu dàng; tôi khoái cô bé Bouchard của Canada trẻ khỏe, xinh đẹp như minh tinh màn ảnh. Nhưng chúng tôi cùng chung một nhận định là xem tennis bây giờ giảm thú vị rất nhiều vì giải lớn nào cũng vào tay mấy đàn anh đàn chị như Djokovic, S.Williams.
Nhưng câu chuyện tôi muốn kể với bạn đọc hôm nay, đó là chuyện một bài thơ cũ với những con người mới.
Chuyện về bài thơ cũ
https://cafevannghe.files.wordpress.com/2010/06/ha-huyen-chi-5.jpg
Hôm sau anh Hoàng Khởi Phong vừa về Mỹ trở lại VN, anh hẹn tôi ở quán café Gió Bắc, cũng lại bên Hồ Con Rùa. Biết có Hoàng Thi Thao ở đây nên anh “a lô” cho Thao ra chơi. Thao nói ngay vừa ở quán Nghệ Thuật về đến phòng ngồi với bạn, nhưng rồi anh em cũng kéo nhau ra ngồi “đấu láo”. Trong lúc nhắc đến bạn cũ, Hoàng Khởi Phong hứng chí đọc ngay một bài thơ xưa mà anh cho là rất thú vị đối với anh. Tối về nhà, tôi vẫn còn thấy dư âm bài thơ như còn vương vấn đâu đây. Hôm sau tôi gửi “meo” nhờ anh HKPhong chép lại cho tơi bài thơ này, anh viết thư trả lời:
“Anh Văn Quang và anh Hà Huyền Chi thân,
Bài thơ này có nhan đề là Hỏi Mộ, của anh Hà Huyền Chi mà tôi đọc lần đầu trong tập thơ Saut Đêm, xuất bản vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Đó là một bài thơ dài hơi, nói về cuộc tình của một cô nữ sinh trong trắng, yêu một người lính Nhẩy Dù. Phần tôi đọc cho anh Hà Huyền Chi nghe cách đây cỡ hai chục năm, và đọc cho anh Văn Quang nghe mới cách đây vài ngày là phần cuối của bài thơ này. Tôi chép ra đây để mong là anh Hà Huyên Chi có thể tìm lại đưọc nguyên bản. Đoạn cuối ấn tượng đến độ gần năm chục năm sau tôi còn nhớ đầy đủ, những đoạn đầu chỉ nhớ lõm bõm mà thôi”.
Tôi lại phôn cho HKPhong và nói ngay: “Thằng này là bạn chí cốt của tôi đấy ông ạ, để tôi meo cho nó gửi cho tôi nguyên con bài thơ đó”.
Thế là hôm sau tôi “meo” cho Hà Huyền Chi và được trả lời ngay. Nhưng bạn tôi viết kiểu chữ như chữ Ả Rập. Tôi phải cho vào trang web “chuyển đổi font chữ Việt online” để đổi mã mới đọc ra chữ:
“VQuang,HKPhong thân,
A/ Máy hư ko bỏ dấu được.
B/ Tay hư ko viết dài được (stroke).
C/ Bài Hỏi Mộ tao viết, có vài kỷ niệm vui sẽ kể sau.
Thì ra bạn tôi vẫn còn bị ảnh hưởng của cú stroke, tay chân còn loạng quạng. Tôi không phải giới thiệu thêm về bài thơ này, bởi bài thơ đã là một câu chuyện tình rất lãng mạn, rất đẹp và rất buồn và chỉ có thể là của một người lính và ra đời trong cuộc chiến của người lính VNCH. Mời bạn cùng đọc:
HỎI MỘ (Thơ Hà Huyền Chi – 1963)
Khi con chim đầu đàn chập chững bay xa
Để lại đằng sau đôi cánh mỏng
Những tiếng khóc em thơ
Những tóc trắng mẹ già
Chuyến độc hành ngày xưa đã trôi vào kỷ niệm
Mang tâm tình của một chàng lính chiến
Nhớ quê hương, thèm những phút giao tranh.
Có một người con gái băng trinh
Tuổi mười sáu, chưa xa lìa sách vở
Yêu phượng đỏ, yêu luôn mầu Mũ Đỏ
Hồn say mê theo dõi bước quân hành
Người con gái học trò
Men yêu vừa độ nở
Gối mộng cuồng si, đêm đêm thầm nhớ
Bóng dáng người yêu qua những canh dài
Và vẫn bâng khuâng lo sợ
Mỗi lần nghĩ đến tương lai.
Nhưng tình yêu của hai người
Không vì núi sông ngăn cách
Người lính Nhảy Dù sau những lần
hăng say đuổi giặc
Vẫn nhớ về đôi mắt người xưa
Và những nụ cười sao vỡ
Chiếc dao găm long chuôi
Mấy lần ghim trong xác địch
Giờ khắc sâu vào lòng đá lời nguyền
“Cho đến bao giờ cũng chỉ một mình em.”
Người con gái học trò quên dần sách vở
Miệt mài chép những thơ yêu
Cuộc sống hai người thơ mộng biết bao nhiêu
Nhưng người chiến binh nghèo
Cay đắng ngậm mối tình dang dở
Lần đầu tiên cầu hôn
Gia đình nàng từ chối
Người lính Nhảy Dù ôm mối buồn cô độc
Xin đổi đi xa
Cuộc sống âm thầm nơi hành lang biên giới
Mang theo niềm thương yêu vời vợi
Lời thề xưa trong nếp đá chưa mờ.
Người con gái học trò
Bây giờ mười chín tuổi
Lớn lên bằng tình yêu
Bằng những đau thương hờn tủi
Ba năm dài sống trong vô vọng
Viết hoài thư yêu rồi lại xé đi
Rồi một ngày kia
Người con gái không nguôi niềm thương đau
Nàng đi tìm người yêu cũ
Đẹp làm sao con đường
những kẻ yêu thương đang tìm về nhau
Chiếc cổng đồn rêu phủ
Giữa những hàng dương cao
Cuộc hành trình đã đến ga cuối cùng
Một nghìn hai trăm cây số
Từng bước chân ngập ngừng
Nói lên nhiều thương nhớ.
Nhưng rồi người con gái học trò
Ôm mặt mình nức nở
Vì người yêu không về
Không bao giờ về nữa
Cuộc hành quân sáng nay
Người lính Nhảy Dù đã đền xong nợ nước.
Người con gái cúi đầu lặng bước
Mái tóc tả tơi chiều gió bay
Con đường vào nghĩa địa
Không một vòng hoa trên tay
Bóng nhỏ đổ dài, hoàng hôn lịm chết
Hình ảnh người yêu ba năm về trước
Nhòe giữa bờ mi nước mắt đầy.
Người gác nghĩa địa sau một ngày mệt mỏi
Đã bỏ về uống rượu giải phiền
Nàng đi một mình âm thầm
giữa những hàng mộ mới
Bia vô tình chưa kịp khắc họ tên
Nàng hỏi mộ, không mộ nào chịu nói
“Anh đâu rồi, sao chẳng trả lời em?”
Nàng hỏi mộ, không mộ nào chịu nói
“Anh đâu rồi, sao chẳng trả lời em?”
Lời nguyền xưa gửi vào lòng huyệt tối.
(Trích trong tập “Saut Đêm”)
Người lính nhảy dù Hà Huyền Chi, nay vẫn còn là “ông lão nhảy dù”
Thưa bạn đọc,
Hà Huyền Chi vốn xuất thân từ binh chủng nhảy dù, sau năm 1963 anh mới chuyển sang ngành Tâm Lý Chiến và làm trưởng Phòng Ấn Họa. Anh sáng tác bài thơ đó lúc anh còn là lính nhảy dù, khoảng 50 năm trước. Tôi muốn hỏi anh người con gái trong thơ là ai, nhưng thiết nghĩ điều đó không còn quan trọng nữa. Hãy cứ hình dung ra đó là một nữ sinh trường Trưng Vương, Gia Long hay Đồng Khánh…
Xin hãy tưởng tượng cô gái trong bài thơ có thể là cô gái áo trắng,
hay cũng có thể là cô gái áo tím???
Bây giờ cô có thể đã yên phận bên một gia đình mới, gửi chuyện tình đầu đời vào “lòng huyệt tối” và cái “huyệt tối” đó nằm tận cùng trái tim thiếu phụ, không muốn tiết lộ tên thật. Cuộc đời này có biết bao nhiêu mối tình đầu tan vỡ, nhưng không nhẹ nhàng như TTKh, chuyện “hỏi mộ” quá đặc biệt bởi cái tính cách sâu đậm, âm thầm không kém phần cuồng nhiệt. Cái thời mà các “em gái hậu phương thương anh trai tiền tuyến” nói lên giá trị của người lính VNCH đối với người dân còn vang vọng mãi cho tới ngày nay. Câu chuyện tình và hình ảnh trong thơ đẹp như một huyền thoại. Với tôi, đó là một bài thơ chỉ có thể có trong thời chiến, nhưng hay trong mọi thời đại.
Bìa một trong hàng chục tập thơ của Hà Huyền Chi
Về tác giả Hà Huyền Chi, anh đã có hàng ngàn bài thơ trong hàng chục tập thơ đã xuất bản và có tới 80 pps do anh Hy Văn trình bày. Những nhà văn nhà thơ quân đội VNCH, mỗi người có một sắc thái riêng. Người ở không quân, hải quân, người ở bộ binh làm toát lên những màu sắc riêng của mình như Phan Nhật Nam với “mùa Hẻ đỏ lửa” còn sống mãi với thời gian. Với Hà Huyền Chi có hàng ngàn đoản khúc, nhưng chỉ có người lính nhảy dù mới có thể có những rung cảm thật đặc biệt như thế này:
“…Thân tàu mây vương lắc lư đường trăng
Tôi tìm đâu đây một vết sao băng
Ðể nghĩ về em nhiều đêm không ngủ
Bóng gày ưu tư đôi mắt thâm quầng
Ðiếu thuốc truyền tay gắn trên môi nhau
Mắt thoáng âu lo nhìn cuối thân tàu
Ngọn đèn màu-xanh-yêu-tinh vụt sáng
Từng hồi chuông ngân rờn rợn da đầu
Vòm trời ngả nghiêng loáng chân mây xa
Ô hay tàu trôi theo sông Ngân Hà
Phóng mình tôi bay qua khuôn cửa nhỏ
Nghe mình chơi vơi lưng dù nở hoa …”
(Trích trong tập Saut đêm)
Hà Huyền Chi trong phim “Người tình không chân dung”
Chỉ người lính nhảy dù mới trải qua những cảm xúc ấy và với tôi, thơ Hà Huyền Chi hay nhưng chỉ có những bài về người lính nhảy dù là xuất sắc hơn tất cả. Bài thơ đầu tiên của anh được giới thiệu trong bán nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa năm 1960. Thời đó, anh cùng tôi viết trên nhiều nhật báo và tuần báo ở Sài Gòn. Anh cũng từng đóng vai người lính trong phim “Người tình không chân dung” của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc.
Tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn về Hà Huyền Chi trong tập “Viết về bạn bè” cùng với những kỷ niệm giữa anh và tôi cùng nhiều bạn hữu sẽ do nhà xuất Tiếng Quê Hương ấn hành vào một ngày gần đây.
Ngày cuối năm được gặp lại bạn bè là một hạnh phúc lớn với tôi rồi, chẳng còn mong gì hơn nữa. Năm sau chẳng biết có được gặp lại không.
Nhân dịp này kính chúc quý bạn đọc cùng gia quyến một năm mới AN KHANG – MAY MẮN – HẠNH PHÚC.
Văn Quang – Ngày 24 tháng Chạp năm Giáp Ngọ (12. 02. 2015)


Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu-VOA



Việt Nam trong mắt Lý Quang Diệu-VOA
Tin liên hệ
10.09.2014
Trong thế kỷ 21, có những điều mà trong thế kỷ trước không ai nghĩ rằng sẽ có nhiều thay đổi đến vậy. Giờ phút này, một công dân trẻ như tôi ngồi đây, viết những dòng chữ này thì đất nước Việt Nam, nơi tôi đang sống, làm tôi thất vọng về trình độ phát triển. Sáng nay tôi được đọc một bản nói rằng năng suất lao động của người Việt chỉ bằng 1/5 của người Malaysia, 2/5 của người Thái Lan và tệ hơn, chỉ bằng 1/15 của người Singapore.
Singapore, một đất nước nhỏ bé về diện tích, đang ám ảnh những công dân Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Những khu dân cư, những trung tâm thương mại, những thành phố mới được xây dựng… tất cả đều được “ăn theo” mô hình và kỹ thuật của Singapore. Nhưng tại sao lại là Singapore? Chẳng phải những mô hình, những kỹ thuật đó Singapore cũng đã học tập từ những quốc gia phương Tây tiên tiến hay sao? Tại sao từ một làng chài kém phát triển trên bán đảo Malay, Singapore đã phát triển thành một quốc gia đứng thứ 2 ở châu Á về mức sống? Câu trả lời có thể dẫn đến nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên nhất vẫn là yếu tố con người.
Lý Quang Diệu, nhân vật đã thay đổi và biến làng chài nhỏ bị dịch bệnh triền miên trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu của châu Á. Singapore là nơi mà những kiến trúc hiện đại cùng chung sống với thiên nhiên chan hòa, nơi cả thế giới ngưỡng mộ về chuẩn mực môi trường xanh sạch, nơi có làn sóng di dân ngược từ châu Âu sang châu Á. Nhưng trong những ngày đầu lập nước vào thập niên 60 thế kỉ trước, Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore, đã từng nói “hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn”. Thật  đáng kinh ngạc khi có một thời chính nhà lãnh đạo của Singapore đã mơ tưởng và bị ám ảnh về sự phát triển của Sài Gòn.
Còn bây giờ thì sao? Sau hơn 30 năm, chính người Việt Nam đang thèm thuồng được như Singapore  ngày nay. Sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, chính Lý Quang Diệu, người từng có tuổi thơ sinh sống tại Biên Hòa, đã nắm ngay lấy cơ hội đó để biến thời cuộc thành lợi ích cho Singapore. Sau năm 1975, tất nhiên Mỹ và phương Tây đóng cửa với Việt Nam, mọi giao thương với châu Á đều dành cho đồng minh của họ. Singapore được Lý Quang Diệu phát triển thành cảng trung chuyển đường biển lớn nhất tại khu vực. Và đúng theo quy luật về thương mại - kinh tế, Singapore được thừa hưởng những đặc quyền của một cảng biển lớn, một cửa ngõ hướng vào Đông Nam Á và cả châu Á.
Lý Quang Diệu cho rằng, cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của những nước phi Cộng sản ở châu Á. Rõ ràng là trước khi tuyên bố như thế, Lý Quang Diệu đã nhanh chóng nắm lấy cái “tiền đề quan trọng” đó để biến Singapore từ một quốc gia non trẻ kém phát triển thành một đất nước giàu có. Lý Quang Diệu nhận định rằng, sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, lập tức những đồng minh của Mỹ ở châu Á tranh thủ thời cơ để trở thành 4 con rồng châu Á, và sau này có thêm sự xuất hiện của 4 con hổ Đông Nam Á. Bốn con rồng được nói đến là Singapore, Nam Triều Tiên, Hong Kong và Đài Loan. Bốn con hổ là Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Vậy Việt Nam đã biến đi đâu trong bản đồ khu vực? Và lý do gì Việt Nam lại tụt hậu một cách nhanh chóng như vậy?
Lý Quang Diệu từng nói rằng lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam. Theo ông, vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành người khổng lồ ở châu Á. Ông cho rằng, đất nước Singapore nhỏ bé với diện tích và dân số chỉ xấp xỉ Sài Gòn, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có một ít đất để xây dựng và ngay cả nước sinh hoạt cũng phải nhập từ nước bạn Malaysia, nhưng Singapore đã phát triển trở thành đất nước có GDP cao thứ hai ở châu Á chỉ sau Nhật Bản. Lại nói đến Nhật Bản, Lý Quang Diệu cũng chỉ ra những bất lợi của quốc gia này, đó là một quốc gia bại trận sau Chiến tranh thế giới thứ hai, không giàu tài nguyên, quanh năm động đất và sóng thần,  nhưng chỉ vài  năm sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là người khổng lồ châu Á. Lý Quang Diệu cho rằng, sự thành công của một quốc gia bao gồm ba yếu tố: điều kiện tự nhiên (vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên), con người và thời cơ. Trong đó, để có yếu tố thời cơ, thì yếu tố con người phải vững và nhanh nhạy. Lý Quang Diệu đánh giá rất cao điều kiện tự nhiên của Việt Nam, nhưng ông không đánh giá cao yếu tố con người trong sự phát triển chậm chạp này. Tôi hay đọc các bài viết trong nước ca ngợi sự thông minh, tính cần cù, chịu khó của người Việt. Xin lỗi, tôi không thấy được sự thông minh và cần cù đó. Xin nhắc lại, năng suất làm việc của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 của người Singapore, tức là một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Dân số Singapore là 5 triệu dân, dân số Việt Nam là hơn 90 triệu dân. Vậy tức là năng suất làm việc của 5 triệu dân Singapore chỉ mới bằng 75 triệu dân Việt Nam, thế nhưng GDP của Singapore là gần 300 tỷ USD, trong khi GDP của Việt Nam là khoảng 170 tỷ USD. Đó chỉ là một so sánh chung chung, chưa tính đến dân số ở độ tuổi lao động của hai quốc gia. Một khi yếu tố con người đã yếu kém như thế thì yếu tố cơ hội cũng sẽ chẳng có nhiều.
Lý Quang Diệu tiếc vì Việt Nam không biết trọng dụng người tài, ông nói rằng người tài ở Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. Tôi đồng tình với quan điểm này của Lý Quang Diệu. Tôi thường nghe nói về cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam và cũng thường xem các video thi hùng biện tiếng Anh của em. Báo chí và truyền thông Việt Nam cũng hay đề cập đến em, nhưng tuyệt nhiên không thấy có một động thái nào của chính phủ Việt Nam dành cho Đỗ Nhật Nam. Phải chăng đối với chính phủ Việt Nam, cậu bé ấy không phải là nhân tài cần đầu tư và phát triển? Chưa kể là trong một lần phát biểu về truyện tranh, cậu bé ấy đã bị những người lớn Việt Nam công kích, chỉ vì em không thích đọc truyện tranh mà chỉ thích đọc sách khoa học. Thật trớ trêu. Đỗ Nhật Nam chỉ là một trường hợp thần đồng được báo chí ưu ái, nhưng cũng bị chính phủ thờ ơ. Vậy còn những thần đồng thầm lặng khác ở cái đất nước hơn 90 triệu dân này thì sẽ nhận được hỗ trợ gì từ chính phủ? Trong mọi sự phát triển, yếu tố con người luôn tối quan trọng. Thật đáng tiếc.
Nói thế nào đi chăng nữa, Lý Quang Diệu cũng chỉ là người ngoài, không phải người Việt Nam. Thế nhưng những nhận định khách quan của ông cũng đáng để suy ngẫm về sự phát triển của một quốc gia nhiều thuận lợi như Việt Nam. Tôi thường thấy Việt Nam rất tự hào về lực lượng lao động trẻ với giá nhân công rẻ của minh. Tôi cảm thấy đó là một điều đáng xấu hổ. Giá nhân công rẻ chẳng qua là do trình độ, tay nghề kém nên chẳng thể đòi hòi được trả công cao. Gần đây, quốc gia láng giềng với GDP thấp hơn Việt Nam là Campuchia cũng đã tự chế tạo được xe hơi. Ngược lại, khi hãng điện tử Samsung đưa ra danh sách những mặt hàng có thể đặt gia công với các doanh nghiệp Việt Nam thì mới vỡ lẽ là Việt Nam chưa thể sản xuất nổi cái sạc pin, usb và ngay cả vỏ nhựa cho điện thoại di động. Tất nhiên, Việt Nam đã đánh mất cơ hội gia công cho hãng này. Việt Nam còn sẽ đánh mất nhiều cơ hội như thế cả về quy mô và số lượng nếu cứ tiếp tục tự hào với những cái thuộc về quá khứ và không nhận thức được một cách thấu đáo và nghiêm túc rằng mình đang ở đâu trên bản đồ khu vực và thế giới. Lý Quang Diệu nói phải mất 20 năm nữa Việt Nam mới bằng Malaysia, vậy thì 20 năm nữa Malaysia sẽ phát triển ra sao và mãi mãi người Việt Nam sẽ bị ám ảnh bởi sự thua kém của mình hay sao?

Monday, February 16, 2015

Truyền thống bia rượu ở Việt Nam - VOA



Truyền thống bia rượu ở Việt Nam

10.12.2014
Ngày đầu tiên bước chân vào một tập đoàn nhà nước lớn ở Việt Nam, sau câu hỏi thông thường: “Em là con ai vậy?”, là câu hỏi cũng thông thường không kém: “Em nhậu tốt không?”. Thế là những tháng ngày gắn bó với công việc của tôi tại nơi đó luôn đi kèm với bia rượu, vì theo như lời bỏ nhỏ của trưởng phòng là: “Chú mày mà không uống được tốt thì không cần đi làm nữa nhé!” Quả thật là đáng tiếc cho quãng thời gian làm việc khoảng một năm ở đó, bởi vì tôi chả học hỏi được gì, chỉ cứ phải nhắm mắt nhắm mũi bấm bụng mà uống bia rượu cho vừa lòng sếp, và cho vừa lòng các đàn anh đàn chị đồng nghiệp.
Theo như lời của một anh đồng nghiệp thì sở dĩ có cái truyền thống bia rượu như thế là vì phòng tôi làm là phòng Tiếp thị của một công ty lớn quản lý một khu công nghiệp đang ăn nên làm ra. Nhân viên trong phòng ngoài việc làm chính là quảng bá để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp còn phải biết cách tạo quan hệ lấy lòng các sở ban ngành để mà giấy tờ được “trôi chảy”. Chưa kể là các sếp cũng dẫn nhau đi nhậu để mà giúp nhau ký kết hợp đồng. Kiểu như nếu không có chút men, không có các em xinh tươi cầm tay thì không thể nào ký nổi một chữ ký ấy.
Chuyện bia rượu của Việt Nam cũng chẳng phải chuyện mới mẻ gì, cũng ngàn năm một thuở mất rồi. Chắc cũng có từ cái thời xuất phát ra câu nói muôn thuở của cánh bợm nhậu: “Nam vô tửu như kỳ vô phong”. Để giờ đây Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á về tiêu thụ bia rượu và đứng thứ 3 châu Á cũng ở hạng mục này. Một kỷ luc chẳng hay ho tẹo nào. Thậm chí là cho dù kinh tế Việt Nam có khó khăn thì lượng tiêu thụ rượu bia cũng chẳng hề suy giảm, thậm chí mỗi năm lại mỗi tăng thêm. Bằng chứng là tổ chức nghiên cứu thị trường Eurowatch đã công bố con số thông kê cho thấy 2,8 tỷ lít bia đã được tiêu thụ ở Việt Nam trong năm 2012. Bình quân, mỗi người Việt tiêu thụ 32 lít/năm. Đến năm 2013 thì con số 3 tỷ lít bia cũng không hề suy giảm. Quả là một tin đáng mừng cho các doanh nghiệp sản xuất bia rượu trong ngoài nước khi đang nhắm đến thị trường Việt Nam đầy tiềm năng. Vậy ra con số thống kê của Bộ Công thương rằng trong nước sản xuất được 2,9 tỷ lít bia rượu là hoàn toàn không thể đáp ứng được cho nhu cầu nhậu trong nước.
Sử dụng rượu bia đã trở thành một thói quen phổ biến đối với không ít đàn ông, có trên 70% đàn ông Việt Nam thường xuyên sử dụng rượu bia. Thậm chí với nhiều đấng mày râu, sử dụng rượu bia đã trở thành nét văn hóa, một thói quen trong cuộc sống thường ngày. Rượu bia đi vào từng sinh hoạt của người dân. Rượu bia xuất hiện ở tất cả các cuộc vui như cưới hỏi, sinh nhật, hội họp, gặp mặt… Thậm chí, ngay cả ma chay cũng không thể thiếu được rượu bia. Chính thói quen thường xuyên sử dụng rượu bia đang khiến Việt Nam trở thành quốc gia tiêu thụ rượu bia đứng hàng đầu khu vực, kèm với đó là những hậu quả, tác hại của rượu bia gây ra cho sức khỏe người dân và cộng đồng. Bởi lẽ, những người thường xuyên sử dụng rượu bia rất dễ mắc các bệnh nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng bản thân như ung thư, xơ gan, viêm gan…
Chúng ta bắt gặp hàng ngày tại khắp nẻo đường ở Việt Nam đầy những quán nhậu đủ các kiểu, thượng vàng hạ cám. Và thay vì tan sở mỗi buổi chiều, các anh về nhà với gia đình thì có một số đông chỉ thích lao ra hàng quán nhậu nhẹt. Vấn đề là chúng ta cứ quy chụp cho bia rượu là chất men giúp công việc nhanh chóng hơn, các mối quan hệ công việc cũng thân thiết hơn. Nhưng bản thân tôi một năm trời làm việc tại doanh nghiệp nhà nước kia chẳng có nổi một mối quan hệ tốt đẹp với các sở ban ngành mặc dù rượu bia cứ phải uống. Các anh cứ bảo là “chú mày phải uống đi để mà tiếp khách hàng và tiếp các sếp”, vậy nhưng chỉ thấy các anh tiếp nhau hằng ngày, chả có khách hay sếp nào cả và cũng chẳng thấy công việc đâu vào đâu. Các anh cứ vô tư zô zô, hoặc là cứ giả vờ vô tư mà chẳng hiểu rằng việc lạm dụng rượu bia gây ra nhiều tác hại cho người sử dụng và cho xã hội. Uống quá nhiều rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người uống mà còn là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình, gây mất trật tự an ninh xã hội, là nguyên nhân của tình trạng tai nạn giao thông, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) việc lạm dụng đồ uống có cồn gây ra hơn 2,5 triệu ca tử vong trên toàn thế giới, tương đương với khoảng hơn 6.000 người chết mỗi ngày, trong đó những người trẻ chiếm một tỉ lệ đáng kể. Hơn 50% các trường hợp tử vong trên toàn thế giới gây ra do các bệnh truyền nhiễm có thể gây ra bởi việc lạm dụng đồ uống có cồn.
Ở Việt Nam có rất nhiều người nghiện rượu. Điều tra cộng đồng mới đây cho thấy, tỷ lệ nghiện rượu là 3,23%; lạm dụng rượu là 11,27% dân số trên 15 tuổi. Trên 60% người loạn thần và nghiện rượu bắt đầu uống rượu trước tuổi 20. Trong khi đó ở các quốc gia tiên tiến đều có quy định nghiêm ngặt về việc sử dụng bia rượu, nhất là độ tuổi. Như ở Mỹ, thanh niên trên 21 tuổi mới được đụng đến thức uống có cồn. Ở Việt Nam lại khác, trẻ em còn có khi còn được cổ súy uống rượu, như một hình thức xem như trẻ đã lớn và noi theo gương của cha chú. Mặc dù con số người nghiện rượu ở Việt Nam là một con số không nhỏ nhưng vẫn chưa có các trung tâm cai nghiện rượu đúng bài bản. Nguyên nhân có thể là do người dân chưa có ý thức rằng nghiện rượu cũng chẳng thua kém nghiện ma túy, chính phủ cũng vì thế chưa có động thái tăng cường các trung tâm cai nghiện rượu. Viện Pháp y Quốc gia công bố xét nghiệm 500 nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông thì 34% nạn nhân trong máu có nồng độ cồn. Báo cáo về Chất có cồn và Sức khỏe của WHO trong năm 2014 cho thấy trong tổng số hơn 3,3 triệu ca tử vong có liên quan đến chất có cồn trên toàn cầu thì 15% số tử vong đó là do tai nạn giao thông có liên quan tới chất có cồn. Tại Việt Nam, theo WHO 71,7 % nam giới tử vong do xơ gan có liên quan đến rượu bia và 36,2% nam giới tử vong do tai nạn giao thông có liên quan đến rượu bia. Vậy rõ ràng, tác hại của bia rượu chẳng thua kém mà có khi còn hơn cả ma túy.
Luật ban hành cũng chỉ là để răn đe, quan trọng là ở ý thức của người dân. Từ suốt bao đời nay rượu bia được sử dụng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới và cũng có một số tác dụng có lợi nhất định, làm cho đời sống con người thêm thi vị. Tuy nhiên việc lạm dụng bia rượu và thức uống có cồn là điều cần nên chấn chỉnh nghiêm khắc, nhất là ở một quốc gia có truyền thống say xỉn như ở Việt Nam. Cứ mỗi chiều tan tầm về, nhìn thấy các quán nhậu đông nghẹt khách, cảm thấy đáng buồn cho viễn cảnh một đất nước sáng say chiều xỉn. Một khảo sát 200 sinh viên tại bốn trường đại học Sài Gòn vào năm 2007 cho thấy, tuổi trung bình “biết nhậu” lần đầu tiên là 16,7 tuổi, trong đó tất cả sinh viên năm thứ nhất uống rượu bia ngay khi mới 15.5 tuổi; trong 127 sinh viên còn sử dụng rượu bia, 33.9% uống vài lần/tháng, 29.1% uống dịp lễ, tết, 3.1% sinh viên ngày nào cũng uống. Trung bình mỗi sinh viên uống 4.58 chai bia/lần và khoảng 1.95 xị rượu/lần. Đặc biệt, trung bình một nữ sinh viên uống 5.97 chai bia/lần trong khi nam chỉ có 3.93 chai/lần. Sinh viên là người thành thị cũng uống nhiều hơn sinh viên gốc nông thôn (5.65 chai/lần so với 4.01 chai/lần); 70,1% đến với rượu bia do được rủ rê.
Bài viết này nói những điều đã cũ, nhưng vì vẫn còn tồn tại nên tôi cũng muốn chia sẻ chút ý kiến, chỉ mong độc giả cảm nhận và chung tay cùng thay đổi quan điểm sử dụng rượu bia trong truyền thống Việt Nam.

Tại sao chúng ta bị cận thị?-VOA



Tại sao chúng ta bị cận thị?-VOA
David Robson
  • 29 tháng 1 2015

Cận thị là một trong những điều phiền toái chung nhất của chúng ta, nhưng liệu chúng ta có hiểu sai một cách cơ bản về nguyên nhân và cách điều trị cận thị hay không?
Khi đang ở tuổi thiếu niên, thị lực tôi bị yếu dần và tôi phải đeo kính. Tôi hỏi bác sỹ mắt trong khi tôi hé nhìn những hình mờ mờ trên bảng đo thị lực và ông cho đơn điều trị. Câu trả lời của ông luôn luôn như nhau: Đó là do gene và do đọc nhiều quá.
Tôi không có lý do để thắc mắc; chắc rằng bác sỹ mắt của bạn cũng nói với bạn như vậy nếu bạn tới khám cận thị. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho rằng những giả thuyết này là hoàn toàn sai.
Có nhiều những vấn đề khác trong môi trường đời sống hiện đại có thể gây giảm thị lực. Và chỉ với một vài biện pháp đơn giản, trẻ con ngày nay có thể tránh được sự suy giảm thị lực nói trên.
Dù thế nào, với tôi, tôi cũng chưa bao giờ cho rằng ý kiến nói sự giảm thị lực trước hết là do di truyền là đúng.
Nếu không đeo kính tôi thực sự không thể phân biệt được một tảng đá với con tê giác. Do vậy chẳng nhẽ tổ tiên của tôi nếu bị cận phải mò mẫm nheo mắt tìm đường qua hoang mạc Châu Phi?
Thế nhưng bệnh cận thị lại như một bệnh dịch; 30-40% người Châu Âu và Mỹ phải cần đến kính, và con số trên lên tới 90% ở một số nước Châu Á.
Nếu chúng ta có gene cận thị thì chúng ta đã có nó qua nhiều thiên niên kỷ bất luận gene đó rõ ràng là bất lợi.
Hỏi một người Eskimo
Thực tế những kinh nghiệm của người Inuit ở Canada có thể đã trả lời câu hỏi đó cách đây gần 50 năm rồi. Trong khi thế hệ người già gần như không có người cận thị thì khoảng 10-20% con cái họ phải đeo kính.
“Sẽ không bao giờ có thể nói đó là bệnh di truyền,” bà Nina Jacobsen ở Bệnh viện Trường Đại Học Glostrup ở Copenhagen nói.
Cũng trong quãng thời gian đó, người Inuit đã bắt đầu rời bỏ lối sống săn thú và đánh cá để chuyển sang lối sống Âu Tây hơn, rất có thể đó là nguyên nhân của suy giảm thị lực.
“Cận thị là một bệnh công nghiệp,” Ian Flitcroft ở Bệnh viện Trường Đại Học Nhi ở Dublin nói. Gene của chúng ta có thể vẫn đóng một vai trò quyết định ai sẽ bị cận thị, nhưng nó chỉ thông qua sự thay đổi về môi trường mà bệnh bắt đầu xuất hiện.
Một phần của sự thay đổi đó là việc học tập và đọc viết, đó là một trong những giải thích chung nhất cho bệnh cận thị.
Thoạt đầu thì bằng chứng có vẻ hiển nhiên: chỉ cần nhìn thấy vô vàn mắt kính lấp lánh tại bất cứ trường đại học nào, buổi thuyết trình nào, nhà hát nào hoặc hội nghị hàn lâm nào, thì bạn thấy hình như đã tìm thấy bằng chứng của mối liên kết.
Ấy vậy mà các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tác động lại nhỏ hơn ta tưởng nhiều. “Chúng ta càng nghiên cứu nó và càng đo đếm số người đọc sách thì sự liên kết lại càng biến mất,” Flitcroft nói.
Một nghiên cứu quy mô lớn theo dõi sự tiến triển của trẻ em ở Ohio cho thấy không có sự tương quan nào hết với việc đọc sách, tuy rằng ta chưa nên loại bỏ hoàn toàn tác động này, Jacobsen nói.
Thay vì ý kiến trên, nay rất nhiều người lập luận rằng chính là thời gian ở trong nhà, chứ không phải bản chất việc đọc, mới là yếu tố quyết định.
Sau nhiều nghiên cứu, từ Châu Âu, Châu Úc và Châu Á, mọi người đều thấy rằng những người có nhiều thời gian sống ngoài trời thì ít bị cận thị hơn rất nhiều so với những người có cuộc sống chủ yếu trong bốn bức tường.
Tại sao lại có thể như vậy? Sự giải thích được nhiều người chấp nhận nhất là ánh sáng mặt trời bằng cách nào đó đã nuôi dưỡng mắt.
Thí dụ: ông Scott Read ở Đại học Kỹ thuật Queensland gần đây có trang bị cho một nhóm các học sinh một đồng hồ đặc biệt, nó ghi chép di chuyển toàn diện của học sinh và cường độ ánh sáng, cứ 30 giây một lần, trong vòng hai tuần.
Những học sinh có thị lực tốt hóa ra lại là không hoạt động tích cực hơn các học sinh đeo kính, như vậy loại bỏ khả năng cho rằng sự rèn luyện chân tay và việc có sưc khỏe tốt đã bảo vệ mắt.
Thay vì thế, việc phải đeo kính hay không có vẻ như chỉ phụ thuộc vào thời gian sinh hoạt ngoài trời. Ánh sáng mặt trời khi nắng có thể có cường độ lớn hơn hàng nghìn lần so với ánh sáng trong nhà (mặc dù mắt bạn không nhận thấy sự khác biệt đó), và trẻ em nào được hưởng càng nhiều ánh sáng mặt trời thì chúng càng ít cần dùng kính.
Có thể là vì ánh sáng mặt trời kích thích việc sản sinh ra Vitamin D, là thứ vitamin giúp bảo vệ hệ miễn dịch và não bộ, và có thể cũng điều hòa sự lành mạnh cho mắt.
Một ý kiến được nhiều người chấp nhận hơn là ánh sáng mặt trời kích hoạt việc tiết ra chất dopamine trực tiếp vào mắt.
Bệnh cận thị là do sự phát triển to hơn lên của cầu mắt, nó làm cho thủy tinh thể khó hội tụ hơn một hình ảnh vào võng mạc, nhưng chất dopamine hình như kìm hãm quá trình to lên này và làm cầu mắt có kích thước lành mạnh hơn.
Nhận được ánh sáng xanh
Một vấn đề khác nữa, có thể là vấn đề mầu sắc.
Bước sóng của ánh sáng mầu xanh lục và xanh lam có khuynh hướng hội tụ về phía trước võng mạc, còn ánh sáng đỏ chiếu vào phía sau.
Do ánh sáng trong nhà có khuynh hướng đỏ hơn tia nắng mặt trời nên sự không khớp nói trên có thể gây nhầm lẫn cho các cơ chế điều khiển cầu mắt. “Nó làm cho mắt tưởng rằng đã không hội tụ đúng chỗ và do vậy mắt phải to lên để bù trừ vào cái sai đó,” Chi Luu ở Đại học Melbourne nói.
Ông đã quan sát thấy rằng các con gà thức giấc vào lúc ánh sáng đỏ thì dễ bị cận thị hơn các con gà sống trong vùng phụ cận có mầu xanh lục và xanh lam.
Trong khi đó, Flitcroft cho rằng vấn đề là ở sự sắp xếp các vật thể trước tầm nhìn của bạn.
Hãy nhìn xung quanh bạn và bạn sẽ hiểu ông ta muốn nói gì. “Nếu bạn nhìn vào màn hình máy laptop thì mọi thứ sau màn hình là ngoài tầm hội tụ rất nhiều,” ông nói. “Và nếu bạn ngước lên, nhìn từ máy laptop lên chiếc đồng hồ treo tường, bạn đã có một bước chuyển đổi lớn, lúc này đồng hồ nằm trong hội tụ, và nó khiến nhiều vật thể ở sát xung quanh bạn bị mờ đi.”
Dù bạn tập trung vào nhìn chỗ nào thì lúc nào cũng có một sự mờ nhạt xẩy ra với cơ chế phản hồi của mắt. Khi ở ngoài trời, vật thể có xu thế ở khoảng cách xa hơn, nó cho một hình ảnh rõ hơn và giúp điều hòa sự phát triển của mắt.
Hy vọng rằng những điều hiểu biết thấu đáo như vậy không những chỉ có tầm quan trọng học thuật vì cuối cùng nó có thể giúp chúng ta tìm ra các cách điều trị mới.
Thí dụ ông Luu đang hy vọng xây dựng thử nghiệm dùng ánh sáng xanh cho trẻ em cận thị. Ông Luu không chỉ hy vọng nó làm chậm sự suy giảm thị lực; thực tế nó có thể đảo ngược quá trình.
Khi nghiên cứu đối với gà, ông ta phát hiện rằng một vài giờ ánh sáng xanh đã chữa khỏi những hư hại do ánh sáng đỏ gây ra và hồi phục lại thị giác bình thường cho gà.
Phát hiện ngẫu nhiên
Flitcroft chỉ rõ rằng đã có những thử nghiệm với kết quả khích lệ về kính áp tròng mà nó có thể làm giảm độ mờ ở vùng ngoại vi vùng hội tụ.
Ông cũng lạc quan về một loại thuốc nhỏ mắt có tác dụng tích cực, thuốc atropine.
Thuốc này từ lâu nay đã được biết là giúp làm chậm dấu hiệu kích thích sự phát triển cầu mắt và bệnh cận thị. Những tác dụng phụ không tốt của nó như làm giãn đồng tử và tạo ra vầng hào quang xung quanh nguồn ánh sáng, do vậy nó đã thời gian không được sử dụng nữa.
Nhưng với sự phát hiện ngẫu nhiên gần đây, người ta thấy rằng thuốc vẫn có tác dụng tương tự nếu ta chỉ dùng với 1/100 liều lượng ban đầu. Với liều lượng ít này, các tác dụng phụ sẽ giảm xuống nhiều, khiến cho loại thuốc nhỏ mắt này nay lại được quan tâm sử dụng.
Tuy nhiên, ông Flitcroft nhấn mạnh là chúng ta nên thận trọng, không vội vàng có hành động ngay.
Một trong những quan niệm sai cho rằng chính kính làm cho mắt kém đi, nhưng bằng chứng cho thấy lời khuyên đó nên được loại bỏ.
Trải nghiệm của riêng tôi cho thấy điều nói trên là sự lầm đường đáng buồn, nó xuất phát từ cuốn sách gây nhiều tranh luận mang tên “Thị lực tốt hơn mà không cần dùng kính”, tôi đã quyết định không dùng kính với hy vọng bệnh sẽ khỏi; nhưng thay vì như thế bệnh cận thị của tôi đã tăng gấp đôi trong ba năm.
“Một sự lo lắng chung là kính đang làm cho bệnh tồi tệ hơn, nhưng câu trả lời cho nó là không,” Flitcroft nói. “Nếu như bạn chắc chắn đang làm cho con cái bạn có thể nhìn rõ ràng thì bạn đã làm đúng.”
Đối với những người mong muốn hành động ngay lúc này thì gần hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng khuyến khích trẻ em chơi ngoài trời thì không có hại gì, và một thử nghiệm ở các trường học ở Đài Loan đã cho thấy là khá thành công. “Sống trong môi trường tự nhiên ngoài trời thì con người sẽ không bị cận thị,” Flitcroft nói. “Khuyến khích trẻ em dành nhiều thời gian ngoài trời chỉ có tác dụng tốt.”
Ước gì tôi biết tất cả những điều trên khi còn là thanh niên.
Giờ đây tôi mang kính áp tròng, nó hoàn toàn chỉnh sửa sức nhìn của tôi, và việc thỉnh thoảng thấy khô mắt và ngứa chỉ là chuyện nhỏ so với cái sự thể lớn lao.
Nhưng khi thức giấc và thậm chí không thể nhận ra người bạn đời nằm bên cạnh thì tôi không thể không hy vọng các thế hệ tương lai sẽ được thưởng thức một hình ảnh nhìn trong như pha lê mà nó đã có thời gian là đặc quyền bẩm sinh của tổ tiên chúng ta.
Bài gốc tiếng Anh đã được đăng trên BBC Future.