Monday, May 4, 2020

Hồ Hữu Tường: Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp


Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp
Hồ Hữu Tường
1.
Giữa một đường truông thăm thẳm, vắng vẻ và âm u, không một xóm nhà, ít người qua lại, có một cái am nhỏ. Am ấy mới cất, độ non ba năm thôi. Trong am, chỉ có một sư cụ già, thui thủi một mình, quanh năm chẳng được ai thăm viếng. Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một đống củi, vừa lớn, vừa cao ngất, củi sắp vuông vắn, thẳng thắn, dường như được săn sóc chẳng khác một vườn kiểng do một vị lão trưởng giả chăm nom.

Một hôm, trời đã tối rồi, nhà sư vừa lên đèn được một chặp, thì có hai người khách đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa rằng:

- Bạch sư cụ, nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi mới dõi đến đây. Mong nhờ sư cụ cho tá túc một đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đường.

Nhà sư ung dung, chắp tay đáp:

- Mô Phật, cửa thiền bao giờ cũng mở rộng cho người lỡ bước.

Rồi dừng một phút, dường như để trấn tĩnh nỗi vui đương sôi nổi trong lòng, nhà sư tiếp:

- Ngót ba năm nay, tôi mở am nơi này, không được một ai đến viếng. Ngày nay là ngày ước nguyện, may được hai ngài quá bước, ghé nghỉ chân. Âu cũng là duyên trước….

Nói xong, nhà sư dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không đề, vô tình dẫn khách đến câu hỏi:

- Bạch sư cụ, chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào?

Vui sướng, vì như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp:

- Tôi quy y Phật pháp từ thuở bé, rừng thiền có thể nói rằng đã viếng khắp nơi. Cách ba năm nay, lòng huệ được mở ra…. Và từ ấy, tôi chỉ tụng kinh Di Lặc.

Một người khách hỏi:

- Sư cụ có thể cho tôi biết duyên cớ vì sao chăng?

- Mô Phật. Chỉ có lời nói mà độ được người, tôi sao dám tiếc lời? Vậy tôi xin vui lòng nói cho hai ngài rõ. Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy: Hai ngàn năm trăm năm về sau, Phật pháp sẽ đến chỗ chi ly, ấy là hồi mạt pháp. Di Lặc sẽ xuống trần mà cứu độ chúng sanh và chỉnh đạo lại. Nay cũng đã gần đến kỳ hạn. Chắc là Phật Di Lặc đã xuống trần mà độ kẻ thành tâm tu hành. Bởi lẽ ấy tôi có nguyện tụng đủ một nghìn lần kinh Di Lặc. Nếu lời nguyện được y, ấy là tôi sẽ đắc đạo.

Người khách thứ hai hỏi:

- Sư cụ đã tụng được bao nhiêu lần rồi?

- Đã được chín trăm chín mươi chín lần rồi. Bây giờ, chỉ còn lần thứ một nghìn; lần tụng của đêm nay. Chắc hai ngài trước có duyên lành, đêm nay đến mà chứng kiến tôi tụng lần thứ một nghìn ấy….

Đến đây, bữa cơm chay đã mãn. Khách mệt mỏi, xin ngả lưng. Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết, rồi bước tới trước bàn Phật, khêu bấc đèn dầu, mở kinh ra mà khởi sự tụng. Tiếng tụng kinh chậm rãi, như nện vào không gian. Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên, đánh dấu chuỗi tiếng mõ dài đăng đẳng….

2.

Trước khi nhắm mắt ngủ, hai người khách còn trao đổi vài câu:

- Tội nghiệp thay cho sư cụ già, quá mê tín, mất sáng suốt, mà không giác ngộ. Phật pháp lập ra đã hai nghìn năm trăm năm về trước, tránh sao cho chẳng có chỗ lỗi thời. Nhận thấy chỗ lỗi thời, các môn đệ ắt phải lo tài bồi, phát triển mối đạo. Thế là có tư tưởng này, học thuyết nọ; rồi sanh ra môn ra phái. Ấy là nguồn gốc của sự chi ly. Nay rừng thiền đã hơn tám mươi bốn ngàn cội khác nhau, ấy là lẽ dĩ nhiên vậy.

- Tôi cũng đồng ý với anh về chỗ đó, và nghĩ thêm rằng: Nếu bây giờ có một vị Di Lặc xuống trần, thì vị ấy có trọng trách cất nhắc Phật pháp cho kịp với mọi sự tiến hóa của mọi sự việc từ hơn hai nghìn năm nay. Và trách nhiệm của mỗi tín đồ của Phật là dọn mình cho sẵn, để đón rước cái Pháp mới sắp ra đời. Chớ mê mải trong việc gõ mõ tụng kinh, há chẳng phải là phụ lòng mong của Thích Ca chăng?

Lời nói của hai người khách giữa cái am vắng vẻ, không dè có kẻ trộm nghe. Kẻ nghe trộm này là một con thằn lằn, đến ở am khi am vừa mới dựng lên, và đã từng nghe 999 lần kinh, nên có linh giác, nghe được tiếng người, biết suy nghĩ và phán đoán. Câu phê bình của hai người khách đã giúp cho con thằn lằn giác ngộ. Nó vốn biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ tụng xong lần thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ lên giàn hỏa mà tự thiêu…. Rồi nó nghĩ: nhà sư lòng còn mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu thân, thì làm sao nhập được Niết Bàn? Hay là ta tìm thế ngăn người, đừng để cho người thiêu thân, đợi chừng nào người được giác rồi sẽ hay?

Rồi con thằn lằn quyết định: Phải ngăn ngừa, đừng để nhà sư tụng xong lần thứ một nghìn. Nó nghĩ được một kế: Ấy là bò lên bàn Phật, đến dĩa đèn dầu, rán sức mà uống cạn dĩa dầu. Bấc sẽ lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy chữ mà tụng nữa.

Một sức mầu nhiệm đã giúp cho con thằn lằn đạt được ý nguyện: chỉ trong một hơi mà dĩa dầu đã cạn: bộ kinh chỉ tụng được quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc nhiên, nhưng nghĩ: hai người khách là kẻ phàm tục, không được duyên lành chứng giám việc đắc đạo của mình. Âu là xếp kinh, nghỉ, chờ ngày mai khách lên đường, sẽ tụng lần thứ một nghìn ấy.

Nhưng, sau đó đêm nào cũng vậy, buổi đọc kinh chưa xong mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có lúc tính tụng kinh lần này vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại khi xưa đã có lời nguyện tụng kinh vào lúc khuya, tĩnh mịch, nên không dám đổi.

Và một đêm kia, dằn lòng không được, tuy tụng kinh mà mắt chốc chốc nhìn lên dĩa dầu để xem sự thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên, nhà sư dừng gõ mõ, và mắng rằng:

- Loài nghiệt súc! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!

Rồi tay cầm dùi mõ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong lần kinh, bước lên giàn hỏa, tự châm lửa mà thiêu mình.

3.

Và cũng đêm ấy, hai cái linh hồn được đưa đến trước tòa sen của Phật. Uy nghiêm, ngài gọi nhà sư mà dạy:

- Nhà ngươi theo cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu bài học vỡ lòng của pháp ta là thế nào! Pháp ta đã dạy phải trừ hết dục vọng thì mới đắc đạo, mà ngươi dục vọng lại quá nhiều: bởi việc muốn đắc đạo, để được thành Phật kia cũng là một cái dục vọng. Có dục vọng ấy là Tham ; bởi tham nên giận mắng con thằn lằn, ấy là Sân; bởi sân nên tưởng rằng trừ được con thằn lằn thì tha hồ tụng kinh, rồi đắc đạo, ấy là Si. Có đủ Tham Sân Si tất phải phạm tội sát sanh, thì dầu ăn chay trường trọn đời, cũng chưa bù được.

Tội ngươi lớn lắm, phải rán tu luyện thật nhiều mới mong chuộc được. Vậy ta truyền cho Kim Cang, La Hán hốt cho hết đống tro do xác ngươi thiêu mà hóa ra, rồi đem tro ấy tung khắp bốn phương trời. Mỗi một hột tro đó sẽ biến sanh thành một người. Chừng nào mọi người ấy đắc đạo, đám chúng sanh ấy sẽ được quy nguyên, trở hiệp lại thành một, thì nhà ngươi sẽ đến đây mà thành chánh quả. Rồi Phật cho gọi hồn con thằn lằn mà dạy:

- Nhà sư chưa được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là một mà thôi. Còn nhà ngươi, được giác một phần rồi, mà làm tội, thì tội đáng kể là mười

Con thằn lằn lạy mà thưa rằng:

- Bạch Phật tổ, lòng của đệ tử vốn là muốn độ nhà sư, dầu nát thân cũng không tiếc. Chẳng hay đệ tử có tội chi?

Phật phán:

- Muốn độ người, kể thiếu chi cách, sao ngươi ngăn đón việc tụng kinh của người? Đã đành rằng việc tụng làm của nhà sư là một việc mê tín, nhưng dầu là mê tín, song vẫn là một tín ngưỡng. Cõi Phật vốn là cõi tự tại. Nếu phạm đến tự do tín ngưỡng, gọi là để dắt người vào, thì làm sao cho được. Bởi ngươi không dùng phương pháp tự do, người là kẻ mất tự do, thì cả hai làm sao được vào cõi tự tại?

Một lần nữa, con thằn lằn được giác, quì lạy mà xin tội:

- Xin Phật tổ mở lòng từ bi, cho đệ tử hóa sanh một kiếp nữa, để dùng phương pháp tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột tro, mà các vị Kim Cang, La Hán vừa tung ra đó.

Phật đáp:

- Ta cho ngươi được toại nguyện.

Hồn con thằn lằn vừa muốn lạy Phật mà đi đầu thai, thì sực nhớ lại, nên bạch rằng:

- Xin Phật tổ dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp chi?

Phật đáp:

- Nhà ngươi đã gần bến giác, phải tự mình chọn hình thể mà hóa sanh. Tự do chọn lựa mới có thể luyện mình để bước vào cõi tự tại.

4.

Hồn con thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào đâu, để có thể vừa dùng phương pháp tự do mà độ người, vừa có thể độ được đông người, số người đông như số hột tro do một cái xác thiêu ra. Thật chưa hề có lúc nào có một linh hồn bị trừng phạt phải đau khổ đến thế…..

Một hôm trong hồi xiêu bạt, hồn con thằn lằn thấy bóng của một trong hai người khách đã đến am thuở nọ, mà câu chuyện nghe lóm đã làm duyên cho mình mấy năm đau khổ.

Thằn lằn vội vã bay theo vái chào và kể nỗi niềm đau đớn:

- Ngài đã giúp cho tôi giác ngộ được một ít, có hay đâu tôi phải mang cái nghiệp vô định này. Đã trót làm ơn, xin độ cho tôi đến bờ bến.

Hai ông khách đáp:

- Chúng tôi đâu dám lên mặt thầy đời mà dạy người, huống chi lại dám đèo bồng mang lại một giải pháp cho một vấn đề nan giải. Nhưng đã lỡ gieo trong trí ngươi một ý nghĩ làm cho ngươi phải khổ như bây giờ, thì phải góp ý kiến để cho ngươi suy xét mà gỡ rối. Ấy gọi là chuộc lỗi.

Hồn con thằn lằn gật đầu, cảm ơn trước. Một người khách nói:

- Chúng tôi đây là bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ lấy việc đem ý hay lời đẹp mà làm cho vui lòng kẻ đọc mình, rồi lấy sự vui của người làm sự sung sướng của mình, cho đó là sự “đắc đạo” của mình. Nếu phải mong muốn điều gì, thì cố gắng trình bày cho bóng bẩy, văn hoa: được thì tốt, bằng không thì thôi, chớ chẳng hề khi nào phạm đến tự do của người….

Nghe đến đó, thì một điểm linh quang bắt đầu hiện trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói tiếp:

- Xưa nay, trong bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi lạc, kể một chuyện lý thú, hát một bài thơ hay, chuyện ấy thơ này được truyền ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có lòng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, thì cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng, văn ngươi tung ra là có thể cảm hoá triệu triệu người….Rồi, cũng phải luyện văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm được trong lòng mỗi người một điểm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa sáng lên….

Hồn con thằn lằn gật đầu ba cái để tạ ơn và nói rằng:

- Con đường ấy khó đi cho đến hết được, song chắc chắn là đi cùng đường, ắt có thể đến trước tòa sen mà chầu Phật tổ. Vậy tôi xin cố gắng.

Hồ Hữu Tường


Sunday, May 3, 2020

Các Ca Nhiễm Virus Vũ Hán Đầu Tiên Trên Thế Giới


 
Các Ca Nhiễm Virus Vũ Hán Đầu Tiên Trên Thế Giới
TC Hết Đường Chối Cãi
CÁC NƯỚC PHÁT HIỆN VI RÚT VŨ HÁN CA ĐẦU TIÊN:
1/- Thái Lan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 61 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 13/1.
2/- Nhật Bản: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nam du khách 30 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 16/1.
3/- Hàn Quốc: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 35 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 20/1.
4/- Hoa Kỳ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông 30 tuổi trở về tiểu bang Washington từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 21/1.
5/- Đài Loan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ doanh nhân 55 tuổi trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 21/1.
6/- Ma Cao: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Vũ Hán đến Ma Cao đánh bạc. Công bố bệnh ngày 21/1.
7/- Hồng Kông: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc đến Hồng Kông bằng tàu cao tốc qua ngõ Thâm Quyến. Công bố bệnh ngày 22/1.
8/- Singapore: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du khách Vũ Hán 66 tuổi. Công bố bệnh ngày 23/1.
9/- Việt Nam: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du khách Vũ Hán (thăm con trai & người con này cũng bị lây). Công bố bệnh ngày 23/1.
10/- Pháp: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Pháp gốc Hoa về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 24/1.
11/- Nepal: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du học sinh trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 24/1.
12/- Australia: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc khoảng 50 tuổi, đến Australia theo chuyến bay Quảng Châu - Vũ Hán - Melbourne. Công bố bệnh ngày 25/1.
13/- Canada: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông khoảng 50 tuổi, trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 25/1.
14/- Malaysia: Phát hiện 4 ca đầu tiên (cùng 1 gia đình) là du khách đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 25/1.
15/- Campuchia: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người đàn ông Trung Quốc đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 27/1.
16/- Đức: Phát hiện ca đầu tiên là 1 người Đức có họp chung với 1 người đến từ Thượng Hải. Trước khi cô này sang Đức họp có tiếp xúc gia đình đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 27/1.
17/- Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất: Phát hiện ca đầu tiên là 1 gia đình du khách 4 người đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 29/1.
18/- Phần Lan: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách Trung Quốc 32 tuổi. Công bố bệnh ngày 30/1.
19/- Ấn Độ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 du học sinh trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 30/1.
20/- Philippines: Phát hiện ca đầu tiên là 1 nữ du khách 38 tuổi đến từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 30/1.
21/- Italia: Phát hiện ca đầu tiên là đôi vợ chồng du khách đến từ Vũ Hán. Vợ 65 tuổi, đã từng giảng dạy Văn tại Đại học Sư phạm Trung ương Trung Quốc đặt ở Vũ Hán. Chồng 66 tuổi, kỹ sư hóa sinh cao cấp trước khi nghỉ hưu. Công bố bệnh ngày 31/1.
22/- Thụy Điển: Phát hiện ca đầu tiên là 1 phụ nữ trở về từ Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 31/1.
23/- Bỉ: Phát hiện ca đầu tiên là 1 trong 9 người Bỉ sơ tán khỏi Vũ Hán. Công bố bệnh ngày 4/2.
24/- SriLanca: Phát hiện ca đầu tiên là 1 phụ nữ 43 tuổi đến từ tỉnh Hồ Bắc. Công bố bệnh ngày 27/1.
25/- Nga: Phát hiện 2 ca đầu tiên là 2 người mang quốc tịch Trung Quốc. Công bố bệnh ngày 31/1.
Và cứ thế virus từ Vũ Hán đã lan truyền đi khắp nơi, nhanh nhất theo đường hàng không.
Nhưng có điều rất lạ là thời điểm mới có dịch ở Trung Quốc, người Vũ Hán không được đến Bắc Kinh, nhưng được đến khắp nơi trên thế giới.



Sĩ Phu Bắc...Kinh - Phạm Minh Vũ


Phu Bắc...Kinh
Phạm Minh Vũ

Ngày 17.4, Bắc Kinh gửi Công hàm lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc phản đối hai công hàm ngày 30.3 và 10.4 của Việt Nam về Biển Đông liên quan đến một báo cáo do Malaysia trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa hồi cuối năm 2019.
Trong công hàm này Bắc Kinh lập luận ngang ngược rằng "kiên quyết yêu cầu Việt Nam rút toàn bộ nhân sự vận hành và các cơ sở trên các đảo và bãi đá mà nước này xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp".
Sau khi gửi công hàm này đi một ngày, thì ngày 18.4 Trung Quốc đã ra tuyên bố thành lập cái gọi là quận Tây Sa và Nam Sa trái phép ở trên 2 Quần đảo thuộc chủ quyền VN là Hoàng Sa- Trường Sa. Lấy Bãi đá Chữ Thập mà TQ chiếm được của VN làm đại bản doanh (cơ quan chính quyền) quản lý 2 quận này.
Trắng trợn hơn, tuyên bố thành lập hai quận Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa- Trường Sa) ở Biển Đông chưa dứt tiếng, một ngày sau đó Bộ Dân chính Trung Quốc còn thực hiện một động thái ngang nhiên nữa là công bố cái gọi là "danh xưng tiêu chuẩn" cho 25 đảo, bãi đá cùng 55 thực thể địa lý dưới đáy biển ở Biển Đông ngày 19.04.2020. Có đảo cách Cam Ranh 50 Hải lý mà thôi.
Chủ quyền lãnh thổ bị giặc xâm phạm rất nghiêm trọng, chúng tuyên bố lập chính quyền cấp quận, chúng đặt tên các đảo của ta, chúng đâm chìm tàu cá ngư dân của ta, ở thời khắc quan trọng này, Nhân dân chẳng thấy cái tên gọi là “Tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang” ở đâu cả?
Nhân dân đang hỏi Nguyễn Phú Trọng ông đang ở đâu khi thời khắc quốc gia đang thù trong giặc ngoài?
Nhân dân đang hỏi tại sao giặc đến nhà, đảng của ông không đưa ra sách lược chống giặc mà lại bắt giam Đinh Thị Thu Thủy, xét xử bỏ tù giam 11 năm với Thầy Tĩnh, khi 2 người này có chung một điểm là chống Trung cộng?
Đại cục mà cái đảng của ông đang cố giữ thực chất là cái cớ để che đi hành động bán nước cho Trung cộng, che đi cái ngữ làm tay sai cho chúng chứ ai mà không biết. Cái gọi là đại cục của đảng cộng sản VN đang xây dựng với TQ nó không hề có hiệu quả cũng như ngăn chặn Trung cộng bành trướng, hay nói cách khác là nó đi ngược lại lợi ích quốc gia. Giữ làm gì, sao không vứt nó đi.
Nếu là một sỹ quan cấp thấp ai cũng biết một triết lý rằng: Muốn hoà bình thì phải chuẩn bị cho chiến tranh. Ông Trọng được đàn em tung hô là một bậc nhân kiệt cơ mà, lẽ trị quốc đơn giản như thế sao ông không hề biết? Vứt đại cục ấy vào sọt rác đi, mà hãy chuẩn bị kế hoạch đối phó với TQ bằng vũ lực nếu cần để bảo vệ chủ quyền quốc gia, đừng cầu xin sự thánh thiện của kẻ đang cướp giết dân mình. Hôm nay chúng đã cướp xong biển đảo ông mặc kệ, ông làm ngơ, ngày mai chúng vào đất liền thì sao đây?
Người ta nói rằng ông Trọng là một Sĩ Phu Bắc Hà, tôi nghĩ ông là Sĩ Phu Bắc Kinh thì đúng hơn!


MỘT CÁI CHẾT BI HÙNG: HQ Trung Tá Kỹ sư Hà Ngọc Lương cùng gia đình, THÁNG 4 ĐEN 1975


MỘT CÁI CHẾT BI HÙNG: HQ Trung Tá Kỹ sư Hà Ngọc Lương cùng gia đình, THÁNG 4 ĐEN 1975

Posted on March 18, 2020 by dongsongcu
Nguyễn thị Thể-Lý

Hải Quân Trung Tá Kỹ Sư Hà Ngọc Lương sinh năm 1937 tại Hà Nội, cựu học sinh trường Trung Học Nguyễn Trãi, Hà Nội và Trung Học Chu Văn An, Saigon, cựu sinh viên Đại Học Khoa Học Saigon. Vì lòng yêu nước tràn đầy, ông đã rời bỏ giảng đường để ghi tên vào khóa 9 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Liên tiếp trong 3 kỳ thi Alfa, Chuẩn úy, và Mãn Khóa, ông đều đậu Thủ Khoa, nên được các chiến hữu mến mộ.
Sau khi ra trường, ông đã phục vụ tại Hộ Tống Hạm Vân Đồn, Hộ Tống Hạm Đống Đa II. Sau đó, ông đi du học Hoa Kỳ, và trở về làm Hạm Trưởng Tuần Duyên Hạm Diên Hải, Hạm Trưởng Trợ Chiến Hạm Linh Kiếm, rồi về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, phục vụ tại Khối Quân Huấn. Ông đi du học Hoa Kỳ lần thứ hai và tốt nghiệp bằng Kỹ Sư Cơ Khí, trở về, ông được bổ nhêm làm Quản đốc Công tác sửa chữa chiến hạm tại Hải Quân Công Xưởng. Sau cùng, ông làm Giám Đốc Quân Huấn, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.
Ngày 4/4/1975, khi Nha Trang di tản vào Saigon, theo gương Phan Thanh Giản, Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương cùng phu nhân, Bà Lê Thị Kỳ Duyên, và 3 con đã tuẫn tiết ngay tại phòng Văn Hóa Vụ. Điều đau lòng nhất là khi bộ đội Cộng Sản đến tiếp thu, thấy 5 thi hài trong phòng Văn Hóa Vụ đã cho chôn vùi tạm bợ trên một mô đất cạnh bờ biển. Hải Quân Thiếu Tá Hà Tấn Thể đã cùng với vợ chồng Giáo Sư Lê Quốc Khánh và một đàn em, bốc mộ lên, tẩm liệm và đặt áo đại lễ cùng mũ Sĩ Quan trong quan tài người anh hùng rồi đem đi chôn tại nghĩa trang nằm dọc hai bên quốc lộ 1.
Để ghi dấu công ơn người anh hùng Việt Nam, chỉ có một tấm biển gỗ mang dòng chữ: “Nơi an nghỉ của gia đình Hà ngọc Lương – Lê thị Kỳ Duyên”.
Lễ Cầu Siêu cố Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương
Tuẫn tiết ngày 1 Tháng Tư, 1975
Lâm Hoài Thạch/Người Việt
SANTA ANA, California (NV) –Sáng Chủ Nhật, 29 Tháng Ba, Chùa Bát Nhã, Santa Ana, trang trọng tổ chức Lễ Cầu Siêu cố Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương, người đã tuẫn tiết ngày 1 Tháng Tư, 1975 tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, Nha Trang.
Lễ cầu siêu được sự chứng minh, chủ lễ của Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, chủ tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ, viện chủ chùa Bát Nhã, và hòa thượng Thích Nhật Quang, tổng vụ trưởng Tổng Vụ Nghi Lễ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ.
Thân nhân của cố Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương, gồm bà Hà Lan Như và chồng (bà Lan Như là em gái áp út của cố Trung Tá), ông Lê Quốc Khánh, anh vợ của cố Trung Tá Lương. Đồng thời cũng có sự hiện diện của ông bà cựu Phó Đề Đốc Vũ Đình Đào, phu nhân cố HQ Trung Tá Mai Văn Hoa, sĩ quan cùng khóa 9 Hải Quân VNCH với Trung Tá Lương, và nhiều quan khách đại diện một số hội đoàn, đoàn thể tại Nam California và đồng hương Phật tử đến tham dự.
Mười giờ sáng, ban tổ chức và mọi người cung thỉnh Hòa thượng Thích Nguyên Trí và chư tôn đức quang lâm lễ đài.
Tiếp theo là lễ rước di ảnh cố HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương vào nơi hành lễ. Phần này gồm có quốc kỳ VNCH được xếp lại, biểu tượng cho những tử sĩ đã hy sinh cho tổ quốc, di ảnh, mũ và kiếm của Trung Tá Lương, biểu tượng cho quyền chỉ huy.
Sau phần rước di ảnh là phần an vị di ảnh, được đặt trên bàn thờ tổ quốc.
Sau nghi thức khai mạc và phút mặc niệm, bà quả phụ cố HQ Trung Tá Mai Văn Hoa, thành viên ban tổ chức, giới thiệu thành phần quan khách đến tham dự.
Bà nói, “Cố Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương tuẫn tiết vào ngày đầu Tháng Tư, năm 1975 tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, Nha Trang. Từ đó cho đến nay, sự thương tiếc vẫn canh cánh bên lòng. Hôm nay, với những phương tiện hạn hẹp, chúng tôi cố gắng tổ chức buổi lễ này với lòng thành mong được vinh danh sự hy sinh can đảm của chiến sĩ Hà Ngọc Lương.”
Lễ giỗ hôm nay, chúng tôi muốn trình bày để tỏ tình huynh đệ, tình đồng đội lúc sống cũng như khi đã chết vẫn nhớ đến nhau. Hà Ngọc Lương, nơi này vẫn còn những người luôn nhớ đến anh với niềm thương tiếc,” bà nói thêm.
Bà quả phụ cố HQ Trung Tá Mai Văn Hoa cũng có lời xin thưa cùng các chiến sĩ đại diện các binh chủng hiện diện.
Bà chia sẻ, “Hôm nay các anh đến tham dự trong bộ quân phục, chính các anh đã đáp lại phần nào nghi thức dành cho một chiến sĩ. Sự hiện diện của các anh là nghĩa cử cao quý dành cho một đồng đội đã nằm xuống. Một lần nữa, chúng tôi xin cám ơn sự ân cần của quý vị đã đến đốt nét hương thương nhớ người chiến sĩ đã ra đi không khuất phục kẻ thù.”
Ông Nguyễn Hùng Quyền thông báo cho mọi người biết chương trình lễ giỗ cố HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương đang được các cựu bạn đồng môn khóa 9 Hải Quân tại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ sửa soạn, và họ đã gởi điện thư chia sẻ với ban tổ chức.
Cựu HQ Trung Tá Trần Đức Cử nói về tiểu sử của cố HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương. Trong phần này, ông Cử có nói là vào ngày 31 Tháng Ba, 1975 đã gặp Trung Tá Lương tại quân trường để bàn định về việc di tản, nhưng Trung Tá Lương khẳng định sẽ tuân lệnh tử thủ của Chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.
Ông Vũ Kim Thanh, một sĩ quan thâm niên hải vụ cho mọi người biết những chi tiết về “thời khắc tuẫn tiết” của cố HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương.
Trước khi tiến hành nghi thức trao lá quốc kỳ cho thân nhân cố HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương, ông Nguyễn Hùng Quyền phát biểu, có đoạn, “Với tấm lòng thành, chúng tôi đốt nén hương gởi về anh linh người chiến sĩ đã nằm xuống trong lúc vội vã, hoàn cảnh thật khó khăn, chiến sĩ Hà Ngọc Lương trở về lòng đất mẹ trong hoang vắng, cô đơn, không có đồng đội xung quanh cũng như không có lá quốc kỳ là biểu tượng hồn thiêng sông núi, người chiến sĩ khi sống bảo vệ gìn giữ, chết mang theo.”
Hôm nay, chỉ là những người sống còn mong trao lại lá quốc kỳ thiêng liêng trở về với anh linh chiến sĩ Hà Ngọc Lương. Tổ quốc ghi ơn xả thân chiến đấu, sống cho dân, chết theo thành. Có được như vậy, người sống còn chỉ mong gởi một tấc lòng đến người chiến sĩ vị quốc vong thân. Giữ tình đồng đội, kề vai chiến đấu, lúc chết rồi vẫn nhớ đến nhau. Hôm nay, ngày 29 Tháng Ba, 2015 trân trọng kính trình.”
Sau đó, cựu HQ Trung Tá Trần Đức Cử trao lá quốc kỳ VNCH cho gia đình của cố HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương.
Hòa thượng Thích Nguyên Trí và ban hộ niệm làm lễ cầu siêu cho cố HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương và lễ niệm hương…
Lễ Giỗ Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương Đầy Xúc Động

Ngày Chủ Nhật 29 tháng 3 năm 2015, từ 10 giờ sáng, tại Chùa Bát Nhã, thành phố Santa Ana, nghi lễ tưởng niệm một Anh Hùng tuẫn tiết vào thời điểm Tháng Tư Đen 1975, đã diễn ra trong một không khí vô cùng xúc động. Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương, Giám Đốc Quân Huấn Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang đã tự sát cùng với phu nhân Lê Thị Kỳ Duyên và 3 người con, để trả nợ núi sông và cũng không để cho gia đình rơi vào tay giặc.
Hải Quân Trung Tá Kỹ Sư Hà Ngọc Lương sinh năm 1937 tại Hà Nội, cựu học sinh trường Trung Học Nguyễn Trãi, Hà Nội và Trung Học Chu Văn An, Saigon, cựu sinh viên Đại Học Khoa Học Saigon. Vì lòng yêu nước tràn đầy, ông đã rời bỏ giảng đường để ghi tên vào khóa 9 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Liên tiếp trong 3 kỳ thi Alfa, Chuẩn úy, và Mãn Khóa, ông đều đậu Thủ Khoa, nên được các chiến hữu mến mộ. Sau khi ra trường, ông đã phục vụ tại Hộ Tống Hạm Vân Đồn, Hộ Tống Hạm Đống Đa II. Sau đó, ông đi du học Hoa Kỳ, và trở về làm Hạm Trưởng Tuần Duyên Hạm Diên Hải, Hạm Trưởng Trợ Chiến Hạm Linh Kiếm, rồi về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, phục vụ tại Khối Quân Huấn. Ông đi du học Hoa Kỳ lần thứ hai và tốt nghiệp bằng Kỹ Sư Cơ Khí, trở về, ông được bổ nhêm làm Quản đốc Công tác sửa chữa chiến hạm tại Hải Quân Công Xưởng. Sau cùng, ông làm Giám Đốc Quân Huấn, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.
Ngày 4/4/1975, khi Nha Trang di tản vào Saigon, theo gương Phan Thanh Giản, Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương cùng phu nhân, Bà Lê Thị Kỳ Duyên, và 3 con đã tuẫn tiết ngay tại phòng Văn Hóa Vụ. Điều đau lòng nhất là khi bộ đội Cộng Sản đến tiếp thu, thấy 5 thi hài trong phòng Văn Hóa Vụ đã cho chôn vùi tạm bợ trên một mô đất cạnh bờ biển. Hải Quân Thiếu Tá Hà Tấn Thể đã cùng với vợ chồng Giáo Sư Lê Quốc Khánh và một đàn em, bốc mộ lên, tẩm liệm và đặt áo đại lễ cùng mũ Sĩ Quan trong quan tài người anh hùng rồi đem đi chôn tại nghĩa trang nằm dọc hai bên quốc lộ 1.
Vì tính chất bi hùng của một người con Việt đã hy sinh đến hơi thở cuối cùng cho đất nước, các chiến hữu Hải Quân đã tổ chức một lễ giỗ trang trọng và uy nghiêm, không rườm rà, hào nhoáng. Trước cửa vào chánh điện, một rạp vải đã được căng lên đủ cho hơn 100 người tham dự. Một bàn hương án Tổ Quốc với khói hương trông giản dị nhưng lại gây xúc động vô cùng. Lúc 10 giờ 30, lễ rước di ảnh của Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương đi từ chánh điện đến nơi hành lễ. Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, chủ trì lễ giỗ đi đầu, đến chư tôn đức, và các chiến sĩ Hải Quân trong quân phục trắng tinh khiết, trịnh trọng rước di ảnh người anh hùng vào nơi hành lễ. Sau các nghi lễ chào cờ mặc niệm, Ban Tổ chức đã gửi lời chào quan khách, đọc tiểu sử người quá vãng thời khắc tuẫn tiết, rồi cử hành lễ cầu siêu trong không khí đầy cảm xúc.
Buổi lễ giỗ Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương đã kết thúc sau khi các sĩ quan Hải Quân và quan khách niệm hương trước di ảnh người tuẫn tiết.
Một điều đáng buồn là hành động “tử tiết vì quê hương” của người anh hùng Hà Ngọc Lương đã không được nêu cao trong bốn thập niên qua, mà mãi cho đến ngày nay mới được nhắc nhở. Nhưng chậm còn hơn không…Anh hùng tử, khí hùng nào tử! Vĩnh viễn.
Chu Tất Tiến
NHATRANG , NƠI BẠN TÔI NẰM ĐÓ – HQ Trung tá Hà Ngọc Lương
Kính tặng hương hồn gia đình HQ Trung tá Hà Ngọc Lương
Tôi vừa về, từ nhà thầy cô Bùi Ngoạn Lạc. Tôi xuống thăm và hoàn trả cô Lạc quyển Tư Nguyên thi tập III cô cho tôi mượn mấy tuần nay. Khi ra về, thầy Lạc đưa tặng tôi quyển Đặc san Khánh Hòa – NhaTrang. Một người học trò cũ đã gởi biếu thầy cô hai quyển, thầy tặng lại anh Thể và tôi một quyển khi biết chúng tôi chưa có Đặc san Khánh Hòa – Nhatrang Xuân Quí Mùi 2003 vừa mới phát hành từ Houston, Texas.
Về đến nhà, tôi ra mail box lấy thư vào. Thật là vui khi thấy một Đặc san Khánh Hòa – Nhatrang nữa do một chị bạn gởi tặng, chị Hà Lan Nha. Trước đây một tuần chị Lan Nha phone nói chuyện với tôi . Chị nói sắp đến ngày giỗ người anh đáng kính của chị là Trung tá Hà Ngọc Lương. Chị cảm thấy buồn nên chị gọi phone chia xẻ với tôi. Lại một lần nữa, chị Lan Nha nói lời cảm tạ chúng tôi đãõ tẩm liệm chôn cất gia đình anh Lương tất cả năm người gồm vợ chồng con cái. Trung tá Lương đã bắn vợ con rồi tự sát tại Trường Sinh Viên Sĩ Quan khi toàn Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nhatrang đã di tản vào Sàigòn. Qua phone, tôi biết chị sắp khóc, tôi tế nhị lái câu chuyện sang hướng khác vui hơn.
Nhìn hình bìa in nhiều thắng cảnh NhaTrang trên Đặc san, lòng tôi bâng khuâng xao xuyến nhớ về quê hương ngày cũ. NhaTrang, nơi tôi sinh ra và lớn lên. NhaTrang, nơi đã gói tròn tuổi thơ và tuổi học trò đầy thơ mộng của tôi, với muôn vàn kỷ niệm tuyệt vời. Nhatrang, nơi tôi đã có mối tình tuyệt đẹp với một chàng sinh viên sĩ quan Hải quân khóa 12, Đệ nhất Song Ngư. Trong những chuyến hải hành, nếu chiến hạm bỏ neo tạm nghỉ bến Cầu Đá, chàng Thiếu úy trẻ tuổi mới ra trường phóng nhanh lên Phương Sài gặp tôi, cô nữ sinh đệ 1 ban C đang học tại trường Võ Tánh (lúc đó Nữ Trung Học chưa có lớp đệ nhất). Rồi hai đứa chúng tôi, tay trong tay, dạo chơi trên bãi biển cát trắng phau mịn màng. Chúng tôi nói cho nhau nghe niềm thương nỗi nhớ. Hai năm sau chúng tôi kết hôn và chúng tôi giữ mối tình đẹp đó mãi đến bây giờ.
Tôi đã chứng kiến ngày NhaTrang thất thủ. Tôi có ý nghĩ, NhaTrang ví như cô thiếu nữ hiền lành xinh đẹp đang rơi vào tay tên cướp bạo tàn. Tội nghiệp NhaTrang thơ mộng xinh đẹp của tôi! Tôi yêu mến NhaTrang như yêu mến người tình thủy chung muôn thủa. NhaTrang ơi, làm sao tôi có thể quên NhaTrang được với dường ấy kỷ niệm, dù tôi đã xa Nhatrang tròn 18 năm chưa một lần về thăm.
Sau ngày NhaTrang lọt vào tay bọn cướp, bao nhiêu biến đổi đau thương đến với dân NhaTrang. Tôi cũng trôi giạt theo giòng đời tận cùng đau khổ như mọi người.
Nhìn lại hình bìa với những thắng cảnh NhaTrang thủa nào, tôi xúc động thở dài.
Tôi tưởng tượng đi từ hướng cầu Xóm Bóng, qua Tháp Bà độ hai cây số là đến Đồng Đế. Đồng Đế có nhiều địa danh đáng ghi nhớ. Có Trừơng Hạ Sĩ Quan. Có thắng cảnh Hòn Chồng với biết bao kỷ niệm đẹp in sâu trong lòng tôi. Có Bãi Dương xanh ngắt một màu, suốt ngày reo vui hòa nhạc cùng sóng biển Hòn Chồng.
Đồng Đế có hai nghĩa trang nằm dọc hai bên Quốc Lộ 1 . Dãy bên trái có em trai tôi đang yên nghỉ. Em lìa đời sớm, khi còn rất trẻ. Có con gái của chúng tôi, Hà Tấn Thảo Nguyên, đang yên giấc ngàn thu, gần phần mộ của bác sĩ Hà Thúc Nhơn. Nghĩa trang bên phải có cha chồng tôi nằm yên vĩnh viễn, mặc cho giòng đời trôi chảy. Cách đó vài trăm thước về hướng đông bắc có một dãy năm nắm mộ thấp lè tè hoang vu đầy cỏ daị vì lâu ngày không ai khói hương săn sóc. Nơi an nghỉ ngàn thu của bạn tôi đó, gia đình Hải Quân Trung tá Hà Ngọc Lương & Lê thị Kỳ Duyên và các con.
Trước khi đi vượt biên hai ngày (19/5/84), anh Thể và tôi từ CamRanh ra nghĩa trang Đồng Đế thăm viếng và nói lời từ biệt với bạn tôi lần cuối. Nếu hồn anh chị Lương linh thiêng, xin phù hộ cho gia đình tôi đi trót lọt trên bước đường trốn khỏi ngục tù Cộng sản. Chúng tôi phải vất vả tìm kiếm mới nhận ra 5 nấm mộ mà 9 năm trước anh Thể và ông Khánh (anh của chị Lương) chính tay đào huyệt chôn cất họ. Năm nấm mộ giờ đây chỉ là năm nấm đất thấp lè tè hoang vu đầy cỏ dại. Tấm bảng gỗ viết bằng sơn hàng chữ “ NƠI AN NGHỈ CỦA GIA ĐÌNH HÀ NGỌC LƯƠNG & LÊ THỊ KỲ DUYÊN ” đã ngã xuống mục nát từ bao giờ vì đã trải qua gần một thập niên phong ba bão táp. Thì giờ qúa eo hẹp, phải về CamRanh cho kịp chuyến xe đò, chúng tôi không có thời giờ sửa sang săn sóc chỗ nằm cho anh chị Lương và các cháu được, tôi thương cảm đứng khóc mùi . Anh Thể thì cố nén xúc động, tay cầm nén nhang đứng trước mộ anh Lương thì thầm tâm sư. Tôi tế nhị đứng tránh ra xa. Sau đó, tôi thấy anh Thể đưa tay gạt nhanh hàng nước mắt đang chảy tràn trên má, trước khi cắm nén nhang xuống đầu nấm mộ anh Lương.
Tôi tin có sự phù hộ giúp đỡ của anh Lương nên gia đình tôi đã đi trót lọt. Chúng tôi được định cư ở Mỹ vào tháng 3/85, taị San Jose, California.
Đầu thập niên 1990, tôi được tin từ Việt Nam, bạo quyền Cọng sản ra lệnh giải tỏa san bằng 2 khu nghĩa địa Đồng Đế đểû xây cao ốc. Ai có thân nhân chôn trong 2 khu đất đó phải đào lên cải táng hay hỏa táng.
Tôi biết tất cả họ hàng thân nhân anh Lương đều ở Sàigòn. Sau ngày Sàigòn thất thủ, thân nhân anh chỉ nghe phong phanh gia đình anh đã tự sát taị NhaTrang. Họ tuyệt nhiên không biết anh tự sát bằng cách nào, ai chôn cất và chôn tại đâu. Sau đó vài năm có người em trai anh Lương, ra NhaTrang dò la tin tức về cái chết gia đình người anh ruột mình. Nhưng chú ấy chẳng biết hỏi ai vì vào thời điểm đó anh Thể bị bọn Cộng sản cầm tù tại A30, Tuy Hòa. Còn tôi sau khi sanh cháu bé, đã dọn vào sinh sống tại CamRanh. Chú ấy cũng chẳng biết thân nhân của chị Kỳ Duyên ở đâu để mà thăm hỏi. Đó là lý do 9 năm sau, chúng tôi đến viếng mộ anh chị Lương lần cuối , thấy 5 nắm đất thấp lè tè đầy cỏ dại , chứng tỏ đã lâu lắm rồi không người viếng thăm hương khói. Có thể gia đình ông Khánh (anh của chị Kỳ Duyên) đã dời chỗ ở hay bị bắt buộc đi vùng kinh tế mới, không còn ở NhaTrang, nên chẳng săn sóc mộ phần gia đình người em gái được. Hơn nữa, sống dưới chế độ Cộng sản, con người làm quần quật còn không đủ cơm ăn áo mặc thì tiền bạc và thì giờ đâu mà lo cho người đã chết. Thế nên tôi nghĩ hài cốt của gia đình anh chị Lương chắc đã bị san bằng làm nền cao ốc. Tội nghiệp 5 nắm xương tàn của bạn và cháu tôi !
Lui về sáng ngày 1/4/75 tại cư xá Lê văn Duyệt, NhaTrang.
Trung úy Gia đem xe về đón những gia đình nào chưa xuống kịp chuyến chiều hôm qua để di tản vào Sàigòn vì tàu sắp nhổ neo. Chỉ còn sót lại 2 gia đình. Gia đình Trung tá Hà Ngọc Lương và gia đình Thiếu tá Hà Tấn Thể. Với ngôn ngữ nhà binh ngắn gọn, anh Lương đã nói với anh Thể, khi thấy anh Thể và tôi đang đứng buồn bã trước nhà:
Sao Thiếu tá và chị còn đứng đây chưa lên xe? Túi xách và các cháu đâu ?
Gia đình tôi ở laị , không di tản, Commandant!
Taị sao ?
Như Commandant thấy đó nhà tôi mang bầu sắp đến ngày sanh, sợ chen lấn xuống tàu có thể nguy hiểm đến tính mạng cả mẹ lẫn con, không dám đi. Tôi không thể di tản khi không có vợ con tôi cùng đi.
Anh Lương nghe xong liền rút chùm chìa khóa trong túi ra quăng về phía anh Thể. Anh Thể chụp lấy. Cả hai không nói một tiếng nào. Trung tá Lương trong bộ quân phục, nhanh nhẹn nhảy lên xe ngồi bên cạnh tài xế. Tôi mang bụng bầu, cố nén xúc động, bước về phía cửa xe, đưa tay nắm tay chị Kỳ Duyên :
Thôi, anh chị và các cháu đi. Nghe đồn chắc sẽ trung lập. Hy vọng sau này chúng mình sẽ gặp lại nhau.
Đó là lần cuối cùng chúng tôi nói chuyện và siết tay nhau. Tôi đâu có ngờ tối hôm đó (đêm 1/4/75 rạng 2/4/75) gia đình bạn tôi tất cả 5 người đều chết thảm.Trung tá Lương đã bắn vợ con rồi quay súng bắn vào đầu tự sát. Anh Lương đã thề không đội trời chung với Cộng sản thì nay anh đã thực hiện đúng lời hứa. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao gia đình anh Lương lại ở trong phòng làm việc của anh, phòng Văn Hóa Vụ, trong khi Trung úy Gia lại có mặt ở Sàigòn.
Mãi đến sáng ngày 5/4/75 chúng tôi mới được một người lính Hải quân làm việc tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân NhaTrang tới nhà nói cho biết có gia đình một sĩ quan cấp tá tự sát tại phòng Văn Hóa Vụ. Anh Thể nghe vậy cấp tốc xuống đó xem ai. Anh Thể về, mặt còn in nét kinh hoàng:
Gia đình anh chị Lương, em ạ!
Tôi òa lên khóc:
Trời ơi! Sao laị chết thảm thế này! Anh chị Lương và các cháu ơi!
Sau một hồi ôm đầu suy nghĩ, anh Thể ôn tồn nói với tôi:
Chúng ta phải chôn cất gia đình anh Lương thôi em ạ. Xác đang sình lên, sắp rửa thối ra, phải chôn ngay thôi. Anh biết thân nhân anh Lương đều ở Sàigòn. Nhưng bên chị Lương, có ai ở NhaTrang không em ?
Nghe đến đây mắt tôi sáng lên , tôi đáp nhanh:
A, có! Ông ta tên là Khánh, đang dạy học ở Võ Tánh . Có lần chị Lương đã nói với em như vậy.
Vậy thì tốt qúa! Em lo đi liên lạc với ông Khánh xem sao. Để ông Khánh cùng anh lo việc mai táng. Anh đi đặt mua 5 cái hòm đây!
Sau khi anh Thể phóng xe Vespa ra cổng, tôi cũng lên chiếc xe đạp mini phóng nhanh đi tìm nhà ông Khánh, quên mình đang mang thai gần đến ngày sanh.
Giáo sư Lê Quốc Khánh là một người đàn ông thể chất ốm yếu, nhưng tình cảm thì chứa chan. Sau khi nghe tôi tóm tắt trình bày vụ tự sát, ông Khánh òa lên khóc nức nở. Ông ôm đầu rên rỉ :
Kỳ Duyên ơi, sao em lại bị chết thảm như vầy! Các cháu tôi có tội tình gì hở trời ! Chú Lương ơi, tuần trước chú chở vợ con đến thăm tôi. Chú nói nếu Cọng sản tràn vào, chú sẽ bắn vợ con rồi tự sát. Nhất quyết, chú không đội trời chung với Cọng sản. Cây Colt của chú, chú đã nạp đạn. Tưởng chú nói là nói vậy, ai ngờ chú làm thật! Thảm thiết qúa chú Lương ơi!
Tôi gạt nước mắt ôn tồn khuyên nhủ :
Dù ông có than khóc đến đâu, anh chị Lương và các cháu cũng không sống laị được. Hãy nhìn vào thực tại, các thi hài cần được chôn cất ngay. Oâng nên xuống ngay Trung Tâm Huấn Luyện, phối hợp với nhà tôi lo việc chôn cất. Anh Thể tôi đang đi mua hòm chở xuống.
Trung tá Hà Ngọc Lương là một sĩ quan hào hoa, tuấn tú và tài giỏi. Anh là thủ khoa khóa 9 Sĩ quan Hải quân Nhatrang. Anh gốc người Bắc, giọng nói ngọt ngào trầm ấm. Sau khi được chính phủ gởi đi du học tại Mỹ hai năm về, anh được điều về Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân giữ chức Trưởng Phòng Văn Hóa Vụ. Thiếu tá Hà Tấn Thể vào thời điểm đó, giảng dạy 2 môn Hàng hải và Thiên văn. Anh Lương cùng họ Hà với anh Thể nhưng không cùng chung một huyết thống. Hai anh chỉ là bạn cùng binh chủng, cùng đơn vị, nhà ở gần nhau, nên hai anh thân nhau. Anh Thể thương anh Lương vì nết, trọng anh vì tài. Anh Lương thương mến anh Thể như thương mến một người bạn thân, như anh em trong nhà.
Chị Lương nhũ danh là Lê thị Kỳ Duyên. Chị là một phụ nữ xinh đep, thân hình chị mãnh mai cân đối. Chị dong dõng cao, duyên dáng như cô Kỳ Duyên trong cặp MC Nguyễn Ngọc Ngạn&Nguyễn Cao Kỳ Duyên mà chúng ta thường thấy trên video Paris By Night. Trong cư xá, chị và tôi chơi thân với nhau. Chúng tôi thỉnh thoảng sang nhà nhau chơi, tâm tình đủ thứ chuyện. Buổi chiều, sau khi làm xong bữa cơm chiều, chị em chúng tôi đem ghế ra trước hiên nhà, nói chuyện chợ búa thời tiết trong lúc chờ đón anh Lương và anh Thể đi làm về. Đám con chị và lũ con tôi chơi đùa với nhau bên cạnh các bà mẹ. Thật là hình ảnh hạnh phúc vui tươi đẹp tuyệt vời!
Lúc anh Thể chở 5 cái hòm tới Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân thì anh thấy căn phòng trống trơn. Hỏi ra mới biết bọn bộ đội tưởng xác chết vô thừa nhận, sợ dơ dáy truyền nhiễm nên đã đem chôn sơ sài trên mô đất cạnh bờ biển. Anh Thể bàn với ông Khánh đào xác lên, tẩm liệm rồi bỏ vào aó quan đem ra Đồng Đế chôn để anh chị Lương có được nấm mồ nằm cho ấm áp. Oâng Khánh thấy anh Thể hết lòng với bạn như vậy, mừng lắm đồng ý ngay.
Bà Khánh là một người đàn bà quyền biến khôn ngoan, lanh lẹ. Bà đi tìm thuê người đến giúp, nhưng chẳng ai nhận lời. Vậy là việc tẩm liệm chôn cất chỉ có anh Thể, ông bà Khánh và một cậu thanh niên nhỏ tuổi . Chắc hẳn là con hay cháu gì của họ.
Lúc đào xác lên đểå tẩm liệm, anh Thể thương mến và kính trọng bạn, nên anh quyết định chôn bạn mình theo nghi thức của một vị anh hùng chết vì bất khuất. Lúc bạn anh sống, chiến đấu cho lá cờ nào, binh chủng nào thì khi bạn anh nằm xuống phải được chôn theo màu cờ, sắc aó đó. Anh Thể về mở tủ nhà anh Lương, lấy bộ đại lễ trắng của binh chủng Hải quân đem xuống mặc cho bạn. Nhưng lúc đó xác anh Lương đã sình lên, quần thì mặc được nhưng cúc quần cài không được. Chiếc áo đại lễ có gắn nhiều huy chương trên ngực áo, anh Thể mặc vào cho niên trưởng anh cũng không vừa . Anh Thể đành đắp chiếc áo đó lên thi thể chiến hữu anh. Chiếc mũ “cát” cấp tá, anh trang trọng đội lên đầu người bạn cùng binh chủng với anh. Lúc đó Nhatrang đã rơi vào tay Cọng sản nên anh Thể không tìm ra đâu được lá cờ vàng ba sọc đỏ để phủ lên quan tài bạn.
Hôm đi chôn, năm mộ huyệt đào chiều hôm trước, đã đầy nước vì trận mưa tối hôm qua. Quan tài bỏ xuống cứ nổi lềnh bềnh. Anh Thể phải khấn vái anh chị Lương rồi đứng lên quan tài để quan tài thấm nước chìm xuống rồi mới lấp đất.
Trên dãy mộ mới lấp đất, anh Thể đóng tấm gỗ mang hàng chữ “NƠI AN NGHỈ CỦA GIA ĐÌNH HÀ NGỌC LƯƠNG & LÊ THỊ KỲ DUYÊN”. Trời gần tối công việc tạm xong, họ gạt nhanh những giọt nước đọng trên mặt. Họ chẳng cần biết đó là những giọt mồ hôi hay nước mắt. Chắc là cả hai. Mọi người buồn bã lủi thủi ra về.
Tập hồi ký “Lối Thoát Cuối Cùng” tôi viết từ năm 1985 sau chỉ vài tháng sau ngày định cư trên đất Mỹ. Nhưng vì nhiều lý do tế nhị, tôi không muốn gởi đăng đâu cả. Cho mãi đến giữa năm 2002 tôi mới gởi đăng trên tập san Đệ nhất Song Ngư kỷ niệm 40 năm thành lập khóa, để phổ biến cái chết anh hùng niên trưởngcủa phu quân tôi. Một chị thuộc gia đình Hải quân, gởi “Lối Thoát Cuối Cùng” in trên Đặc san Lướt Sóng cho chị Hà Lan Nha đọc vì chị ấy biết chị Hà Lan Nha là em gái anh Hà Ngọc Lương. Tôi hơi ngạc nhiên vì tôi không hề gởi “Lối Thoát Cuối Cùng” cho Lướt Sóng. Tôi đoán chắc các anh Song Ngư muốn phổ biến rộng rãi cái chết dũng cảm của Trung tá Hà Ngọc Lương nên gởi cho đăng trên tập san Lướt Sóng. Điều này cũng tốt thôi. Chị Hà Lan Nha sau khi đọc “Lối Thoát Cuối Cùng”, chị mới biết tường tận gia đình người anh ruột chị tự sát như thế nào, ai chôn cất và chôn ở đâu. Chị Hà Lan Nha xúc động qúa, lên World Net tìm chúng tôi để nói lời cảm tạ. Sau đó chị Hà Lan Nha và chúng tôi đã gặp nhau.
Lần đầu gặp chị Lan Nha, tôi nhận biết chị là em gái anh Lương ngay vì chị rất giống anh Lương. Khuôn mặt chị tròn phúc hậu, nụ cười tươi tắn và giọng nói dịu dàng ấm áp như người anh.
Trước khi đọc “ Lối Thoát Cuối Cùng”, chị Lan Nha chỉ nghe mơ hồ về cái chết gia đình người anh, vì chị rời Việt Nam khi Saigòn chưa thất thủ, ngày 28/4/75. Chị Lan Nha đã và đang làm cho Bank of America tại Saigòn, nên gia đình chị được chính phủ Hoa Kỳ bốc ưu tiên sang Mỹ. Phu quân chị, Thiếu tá Không quân Vũ Ngô Dũng, cũng được đi cùng vợ con. Nếu không, kẹt lại, chắc cũng phải 10 năm trong ngục tù Cọng sản vì anh là “giặc lái” chuyên lái F5. Anh Dũng vóc dáng cao lớn, mặt mũi trông rất “ngầu” như mấy tay cao bồi trong phim Mỹ. Khi đó biết đâu bọn “cái nồi ngồi trên cái cốc” chẳng ngứa mắt “bonus”cho anh 2 năm nữa cho tròn một giáp!
NhaTrang, nghĩa trang Đồng Đế, nơi bạn tôi nằm đó yên giấc nghìn thu. Ngày đêm tiếng xe chạy trên Quốc lộ 1 chắc đã làm cho bạn tôi bớt quạnh quẻ trong nhiều năm. Nay thì năm nắm xương tàn đó chắc đã bị san bằng để làm nền cao ốc. Nghĩ đến đây tôi không cầm được nước mắt.
NhaTrang ơi, gia đình bạn tôi đã gởi nắm xương tàn tại đó. Xin đất mẹ NhaTrang thương yêu ấp ủ những nắm xương đó cho đến khi tan biến vào lòng đất nghe. Xương thịt những người tôi thương mến này từ cát bụi mà có, nay hòa tan trong lòng đất cũng là điều tự nhiên thôi . Nhưng mà sao tôi cũng thấy buồn !
Với tâm trạng buồn thương tiếc nuối đó, tôi viết bài này coi như một nén nhang thắp muộn cho bạn tôi, nhân ngày giỗ thứ 28. Anh cũng là chiến hữu của phu quân tôi, anh đã tìm cái chết để khỏi phải sống chung với bọn Cọng sản tàn ác, thật là nghĩa khí anh hung! Tôi thật lòng kính phục anh. Thôi nhé, anh chị và các cháu nằm yên an nghỉ… Mắt tôi lại cay cay đây rồi.
Nguyễn thị Thể-Lý
(Viết xong taị San Jose, ngày 26/4/03)


Có Thật Xe Tăng CSBV Ủi Xập Cổng Dinh Độc Lập Không? - Trần Gia Phụng


Thật Xe Tăng CSBV Ủi Xập Cổng Dinh Độc Lập Không? 
Trần Gia Phụng

Tin tức báo chí của cộng sản Việt Nam (CSVN) đều viết rằng khi tấn công dinh Độc Lập ở thủ đô Sàigòn ngày 30-4-1975, chiến xa CS đã ủi sập cánh cổng dinh Độc Lập. Chẳng những thế, bộ Lịch sử Việt Nam do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Việt Nam (cộng sản) tại Hànội phát hành tháng 8 năm 2017, cũng viết như thế. Bộ thông sử nầy rất đồ sộ, gồm 15 tập, tổng cộng trên 9,000 trang, do 30 giáo sư, tiến sĩ Sử học CSVN biên soạn. Trong 15 tập nầy, tập thứ 13, do PGS-TS (phó giáo sư tiến sĩ) Nguyễn Văn Nhật chủ biên, chương VI, trang 535 viết nguyên văn như sau :
“Thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm dinh Độc Lập - dinh lũy cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 thuộc Lữ đoàn xe tăng 203 dẫn đầu đội hình tiến công của Quân đoàn 2, húc đổ cánh cổng sắt của dinh Độc Lập...”

Bộ sách nầy được xem là bộ chính sử căn bản của chế độ CSVN, làm nền tảng cho các sách giáo khoa lịch sử của CSVN. Dưới chế độ CSVN thế kỷ 21, các giáo sư tiến sĩ với các loa phát thanh phường khóm làng xã nói cùng một nhịp điệu như nhau, đúng như ý kiến của nhà văn Pháp André Gide vào thập niên 30 thế kỷ trước, cách đây gần 90 năm. Theo lời mời của nhà cầm quyền Liên Xô, Gide đến Moscow (Moscou), thủ đô của Liên Xô, tham dự tang lễ của nhà văn Maxime Gorki. Khi trở về Pháp, ông viết tác phẩm Retour de l’URSS, ấn hành năm 1936 ở Paris. Trong sách nầy, ông đã viết rằng ở nước Nga CS, chỉ cần nghe một người Nga nói gì thì đủ biết 200 triệu dân Nga nói gì. Ngày nay ở Việt Nam không lẽ cũng có thể nói chỉ cần nghe loa phóng thanh phường xã thôm xóm CS nói gì, thì cũng có thể đoán biết các giáo sư tiến sĩ CS nói gì?

Trở lại nguồn tin về cánh cổng dinh Độc Lập Sàigòn ngày 30-4-1975 do CSVN đưa ra, báo chí thế giới cũng đều viết theo như thế. Tuy nhiên, trên lý luận, xin chú ý mới chỉ trên lý luận cho vui mà thôi, có hai câu hỏi cần được đặt ra là : 
- 1) Lúc đó, cựu Đại tướng Dương Văn Minh đang có mặt trong dinh Độc Lập mà theo lời ông là để chờ đợi quân CS đến. Chờ “khách” thì phải mở cổng dinh để đón mời “khách” vào. Nếu đóng cổng dinh, thì “khách” làm sao mà vào được ? 
- 2) Những tấm hình hay những đoạn phim về cảnh chiến xa CS ủi sập cổng dinh Độc Lập để vào bên trong dinh, đều được chụp từ bên trong chụp ra. Có hai điểm cần chú ý : 
    - Thứ nhứt, cổng dinh phải đóng thì xe tăng mới ủi sập để đi vào. 
    - Thứ hai, nếu cổng đóng lại, tức cổng dinh chưa mở, thì người chụp hình hay người quay phim cảnh nầy, làm sao mà vào bên trong dinh Độc Lập trước xe tăng để chụp hình hay quay phim ? Hay những người nầy trổ tài chui cổng hoặc trèo tường để vào hành nghề ? Đó mới chỉ là nói lý cho vui thôi thưa độc giả.

Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).

Lúc đó, vào năm 1975, giáo sư Thành còn trẻ, nhà ở vùng cầu Sàigòn, ngồi trên yên sau xe vespa của phụ thân, tò mò chạy theo sau đoàn quân của CS, để theo dõi cho biết chuyện gì sẽ xảy ra khi quân CS vào thành phố... Ông Thành đã chứng kiến tận mắt đầy đủ sự việc tại cổng dinh Độc Lập hôm đó.

Theo lời giáo sư Thành kể lại, sáng ngày 30-4-1975, cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn. Xe thiết giáp CS khi đến dinh Đôc Lập, chạy thẳng vào trong dinh, không có gì trở ngại. Vào bên trong rồi, có thể do lệnh trên, tài xế lại lái xe thiết giáp chạy trở ra ngoài. Khi đó, lính CS đóng cổng dinh, quàng dây xích sắt, nhưng không khóa. Xe thiết giáp quay đầu trở lại, chạy đến tông sập cánh cổng dinh Độc Lập, rồi chạy vào bên trong, để cho các nhiếp ảnh viên chụp hình và quay phim.

Giáo sư Đỗ Văn Thành kể lại câu chuyện trên cho người viết tại nhà bác sĩ Phạm Hữu Trác, phụ trách tạp chí Truyền Thông ở Montreal ngày 28-4-2007, nhân dịp ông Thành cùng gia đình từ Oslo (Na Uy) qua Montreal (Canada) tham dự Lễ ra mắt sách Kỷ niệm và suy ngẫm, bản dịch từ sách Souvenirs et Pensées của thân mẫu ông là bác sĩ Nguyễn Thị Đảnh tại Trung tâm SAIM (Service d’ Adaptation et d’Integration de Montréal) do Khối Y giới Cao niên và Cơ sở Truyền Thông Montreal tổ chức. Ngoài lời trình bày trên đây của giáo sư Đỗ Văn Thành, ba tài liệu sau đây cũng trình bày câu chuyện gần như thế:

1) Bài báo “Sàigòn trong cơn hấp hối 30-04-1975” của Nhan Hữu Mai, cận vệ của cựu thủ tướng Vũ Văn Mẫu, đăng trên                                                                   http://sucmanhcongdong.info 
và được luân lưu trên các e-mail group. Trong bài báo nầy, ông Nhan Hữu Mai viết : “Khoảng 12 giờ trưa ngày 30 tháng 4, xe tăng cộng sản tiến vào dinh Độc Lập mà không gặp một sức kháng cự nào vì cổng chính đã được mở rộng từ trước”.

2) Thứ hai là bài “Dinh Độc Lập, ngày tháng đợi chờ” của Ý Yên, đăng trên DCVOnline.net ngày 10-04-2012, theo đó : “Lúc 11:15 ngày 30-4-1975, toán xe tăng Bắc Việt tới cổng dinh theo đường Thống Nhứt, trương cờ Mặt Trận GPMN. Một người lính trên xe ra lệnh cho lính gác khóa cánh cổng lại; anh lính chần chờ, quay vô hỏi lệnh viên sĩ quan trực, bị người bộ đội trên xe bắn chết tại chỗ. Một bộ đội khác nhảy xuống, khép cánh cổng, lấy khóa xích vòng chặt lại để chiếc T-54 rồ máy húc nghiêng cánh cổng màu xanh, dây xích bung ra. Đại liên trên xe và lính tùng thiết đồng loạt tác xạ dữ dội, làm như có sức chống trả từ trong dinh. Xe tăng tràn vô đến giữa sân cỏ, mấy người lính Bắc Việt nhảy xuống...”

3) Thứ ba, theo tác giả Huy Đức, trong sách Bên thắng cuộc, tập I : Giải phóng, Saigon : Osinbook 2012, chương I : Ba mươi tháng Tư, mục : Sàigòn trong vòng vây, tr. 32 thì sáng 30-4-1975, cựu tướng Nguyễn Hữu Hạnh đến nhà số 3 đường Trần Quý Cáp (dinh Hoa Lan) tìm Tổng thống Dương Văn Minh nhưng không có ; Tướng Hạnh liền đến dinh Độc Lập, “vào thẳng dinh bằng cổng chính, cổng dinh mở, không có lính gác”.  Lúc ông Hạnh đến, cổng dinh Độc Lập mở, không lính gác thì ngay sau đó, quân CS đến, đâu có ai đóng hay gác cổng ? Chú ý : Đây là tài liệu do một nhà báo CS trong nước viết. Hiện người nầy còn sống và hành nghề trong nước.

Như thế, qua hai câu hai câu hỏi đặt ra từ đầu, qua câu chuyện kể của tiến sĩ Đỗ Văn Thành, và qua các bài báo trên đây, nhứt là qua tài liệu của một nhà báo CS, thì rõ ràng vào ngày 30-4-1975, cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn, còn việc chiến xa CS ủi sập cổng dinh Độc Lập chỉ là một màn kịch do CS dàn dựng để tuyên truyền, bắt trẻ em học tập trong các sach giáo khoa lịch sử CS. Tài tình quá ! Giống như xi-nê-ma Hồ Ly Vọng!

Đây không phải là lần đầu CS đóng kịch. Năm 1954 cũng vậy. Các sách lịch sử CS đều đăng hình cờ đỏ của CS được bộ đội CS cắm trên hầm chỉ huy của Thiếu tướng Pháp De Castries khi tấn công Điện Biên Phủ. Trận nầy kết thúc ngày 7-5-1954, kết thúc luôn cuộc chiến 1946-1954. Sau đó là hội nghị Genève, đưa đến Hiệp định Đình chiến và chia hai đất nước ở vĩ tuyến 17.

Tuy nhiên điện báo Tuần Việt Nam ở trong nước ngày 07-05-2009 đã đăng bài phỏng vấn Thiếu tướng Lê Mã Lương, giám đốc Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (CS), theo đó Thiếu tướng Lương đã phủ nhận điều nầy.

Thiếu tướng Lê Mã Lương cho biết tại Điện Biên Phủ, chỉ có một lá cờ duy nhứt được cắm trên đồi mà CS gọi là đồi Him Lam (tức đồi cứ điểm Béatrice), còn lá cờ cắm trên nóc hầm của Thiếu tướng De Castries lần đầu tiên xuất hiện trong bộ phim Việt Nam trên đường thắng lợi của nhà quay phim Liên Xô là Roman Karmen, tức cảnh lá cờ CS trên hầm chỉ huy của Thiếu tướng De Castries chỉ là cảnh xi-nê-ma mà thôi, không có thật.

Thiếu tướng Lê Mã Lương cho biết : “Sau khi Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ghi nhận chính xác điều đó, chúng tôi đã cất lá cờ tung bay trên nóc hầm Đờ Cát trước đây có trưng bày ở bảo tàng”. Điện báo ViệtLand ở hải ngoại ngày 07-05-2009 đã chụp hình và đăng lại toàn bộ bài của điện báo Tuần Việt Nam.

Những chuyện tầm thường và rõ ràng như thế mà CS còn thay trắng đổi đen, theo chủ trương của đảng CS, huống gì là những sự kiện lịch sử trọng đại. Sử học CSVN chỉ để phục vị chủ nghĩa CS, phục vụ đảng CS và phục vụ nhà nước CS. Vì vậy, ngày nay, trong nước thầy không muốn dạy sử, học trò không muốn học sử.

Thế đó ! “Học sử ngày nay đã chán rồi”. Không ai lạ gì lịch sử viết theo lệnh của đảng CSVN !



30.04.2020