Monday, February 11, 2019

Đội Lốt - Trần Doãn Nho


Đội Lốt
Trần Doãn Nho
Về miền Tây thăm nàng, lần đầu tiên, tôi được đi xe lôi. Thật ngộ! Một chiếc xe đạp nhỏ nhắn “lôi” theo cái thùng gỗ có hai bánh xe kéo, trên đó là hai chị phụ nữ quang gánh nhùng nhằng và tôi. Hai chị phụ nữ nói chuyện như bắp rang, anh chàng xe lôi im lặng đạp, đạp mãi, còn tôi nhìn quanh, hít hà cái không khí tươi mát, đầy mùi sông nước, cây cỏ, bỡ ngỡ như một kẻ lạc đường. Xuống xe ngoài lộ, đi sâu một đoạn đường đất vào trong làng xa, tập tễnh làm một con khỉ bước qua hai chiếc cầu bám chênh vênh trên hai con lạch, mới đến nhà. Buổi chiều, nước lớn. Nhà nàng, nước đầy sân, ngấp nghé nền nhà, ốc đảo nhỏ bềnh bồng chập chờn sóng gợn. Đứng gọi. Nàng ra, đẩy chiếc ghe nhỏ, đưa tôi vào nhà, cười bảo đừng lo, không phải lụt đâu, nước lên rồi nước sẽ xuống, về đây, anh phải làm quen với nước, yêu nước là yêu em.
Nàng tiếp tôi thân thiết và ngọt ngào. Nàng bảo: em thích người miền Trung. Sao vậy. Không sao cả, thích là thích, anh là của lạ. Tôi nói: anh không thích người miền nào hết, chỉ thích em. Sao vậy? Vì đẹp. Nàng cười, vậy sao, rồi chỉ ngón tay vào trán tôi, em biết anh hay nói láo, nhưng không sao, có yêu mới nói láo, đúng không. Suốt tuần lễ ở chơi, nàng là một niềm vui ríu rít không dứt. Bận học, bận việc nhà, nhưng nàng tìm cách rảnh, dẫn tôi đi loanh quanh, thiên thung man nai, thăm nơi này nơi nọ người người nọ, vào các làng ở sâu trong những vùng kênh lạch ngang dọc, um tùm lau sậy và những cây dừa nước mọc đây đó, ngổn ngang. Nàng cho tôi ăn nhiều thứ trái cây. Nàng nói với tôi đủ điều hồn nhiên, lãng mạn. Lại được hôn thỏa thích. Khi nào tôi muốn hôn là nàng ngẩng mặt lên, chờ đợi, chẳng dè dặt, ngượng ngùng, chẳng gạt tay, xô đầu. Hôn xong, nàng cười tròn đầy bảo, anh hôn thật ngon, như ăn kẹo. Tôi bảo, tưởng gì chứ kẹo thì tôi sẵn sàng vô tận kẹo.
Ngày tôi về lại Sài Gòn, nàng bận đi học. Nhưng trong khi tôi đang sửa soạn đồ đạc ở phòng khách sạn để chuẩn bị đi chuyến xe trưa, thì nàng gõ cửa. Tôi bất ngờ, nhưng nàng bước vào như bước vào cửa một lớp học hè, hồn nhiên, vui vẻ, tay ôm cái cặp sách gọn nhỏ, có cột thêm một giải vải màu hạt lựu. Chiếc quần lãnh đen ghé xuống giường nệm, thân mật. Tôi ngại ngùng nhìn nàng. Nàng cười chúm chím, đừng lo. Nàng mở cặp, kéo ra bộ đồ ngủ, thay. Rồi lại mở cặp, biếu tôi gói kẹo và một đóa hoa. Hôm nay em không đi học? Có chứ, em lấy nửa ngày nghỉ, nói dối đi khám bác sĩ, ghé thăm anh chút, tiễn anh đi xong, em sẽ trở lại học lớp chiều. Nàng nói, anh đi rồi, em nhớ lắm. Tôi nói anh cũng nhớ em lắm, vừa nói tôi vừa hôn nàng tới tấp, khiến cả hai mất thằng bằng, té xuống nền nhà. Không sao, lồm cồm bò dậy, hai đứa lại hôn tiếp, rất vui.
Khi chia tay, nàng hỏi, có phải hai đứa mình là tình đầu phải không anh. Tôi gật. Nàng nói, hỏi cho biết chứ em không tin đâu, nhưng cứ cho là như vậy đi. Em thích tình đầu. Người ta nói chỉ có tình đầu mới quý, vì có ngọt có chua, ngọt ngọt chua chua nếm vào thấy thích, đúng không. Tiễn tôi lên xe, mắt nàng rơm rớm, anh đi mất tiêu, em biết em sẽ buồn thấy mồ! Tôi nói, anh đi, nhưng sẽ không mất tiêu đâu, anh sẽ về thăm em.
Lên xe đò rời thành phố Vĩnh Long, lòng đinh ninh là sẽ gặp lại nàng không lâu sau đó.
*
Thế mà phải mấy chục năm sau, khi ký ức mịt mù bóng chim tăm cá, thì bỗng nhiên gặp lại nàng. Không phải ở một vùng miền Tây đầy kênh lạch mà là ở một con hẻm nhỏ bụi bặm Biên Hòa. Tôi đã là một gã đàn ông đầy thương tích thời cuộc, chẳng còn cái ngọt lịm của một thời sinh viên. Còn nàng là một thiếu phụ dầy dạn, ăn mặc trễ tràng, tóc đen tóc bạc chen nhau, thiếu chăm chút, mắt rạn chân chim, gò má lấm tấm những vết nám nâu. Trông nàng hao hao như bất cứ một người đàn bà tầm tầm nào đó gặp trên đường đi, nhìn xong là quên ngay. Tôi khác, nàng cũng khác, khác lắm, mà không hiểu sao vẫn nhận ra nhau. Cả hai nhìn nhau, chao ôi, chứa chan kỷ niệm, tưởng như cả quãng thời gian mấy chục năm thu gọn vào trong hai đôi mắt mở tròn, sửng sốt và mừng rỡ.
Tôi hỏi nàng một câu, nghe vẫn còn dư vị ấm ức ba mươi năm trước dồn về:
- Đùng đùng cái, em đi lấy chồng. Y như chuyện chơi. Tức ơi là ức. Mà em lấy chồng khi nào vậy?
- Anh ra ngoải được vài tháng thì em làm đám cưới.
- Trời ơi, vậy mà khi chia tay hồi đó, em hứa này hứa nọ…
- Thì em vẫn giữ lời hứa, chứ bộ!
- Giữ lời hứa, sao lại đi lấy chồng?
Nàng cười:
- Em vẫn giữ lời hứa… yêu anh, chẳng phải vậy sao.
- Lấy chồng rồi mà cả năm sau, anh vẫn còn nhận được thư của em.
Nàng tỉnh bơ:
- Ừa thì đó, em đâu có quên anh. Đâu có sao, chồng thì chồng mà người yêu thì là người yêu.
Nàng chỉ vào ngực:
- Trong này hồi đó vẫn có chỗ cho anh mà. Em vẫn nhớ anh, nhớ cái giọng miền Trung nằng nặng, âm ấm, nhớ con mắt lãng đãng của anh, nhớ cái hôn đầu đời ngọt ơi là ngọt… cho đến bây giờ nè…
- Trời ơi là trời, đã lấy chồng mà còn cả gan thư từ với anh, không sợ ông chồng… ghen sao?
- Em mượn địa chỉ con bạn em…
- Thiệt là không giống ai, làm như trò chơi trẻ con không bằng. May sao mà… Nhưng sao không chịu khó đợi anh… xa thì xa nhưng đâu có cách trở…
- Ừa, đợi anh… ừa, biết đâu, nhưng mà, khi chia tay anh, em biết rồi, mình không gặp lại nữa đâu. Mà có gặp, anh cũng chẳng cưới em đâu, em biết mà, khi anh ra ngoài ngoải là em biết em mất tiêu anh rồi. Anh đi rồi em buồn lắm, buồn thấy mồ luôn, nhưng biết làm sao. Mình yêu nhau và biết là mình yêu nhau, thế là vui rồi. Tình đầu mà. Còn chuyện vợ chồng, đúng là duyên số. Vả, hồi đó, em nghĩ thôi thì trước sau cũng lấy, lấy cái cho xong cho rồi.
Ngừng một lát, nàng tiếp:
- Ra trường sư phạm xong, trước khi đi nhận nhiệm sở là ông già giục đêm giục ngày làm đám cưới. Anh ở tận ngoài ngoải, lúc đó, dù có nói với anh cũng đâu có giải quyết được gì, đúng không? Em đã nói…
Tôi ngắt ngang:
- Mà lấy ai vậy?
- Trời ơi, mấy ông già hứa hẹn với nhau từ hồi nảo hồi nao, đùng đùng, em vừa ra trường thì hai ổng tổ chức cho hai gia đình gặp nhau, bàn chuyện đám cưới.
- Em không phản đối sao?
- Sao không. Em bỏ đi ở nhà con bạn (con bạn mà em mượn địa chỉ gửi thư cho anh ấy) cả hai tuần. Nhưng rồi… nhưng rồi… em chịu thua, đành phải cho anh ấy gặp. Và rồi, nói chuyện với nhau thấy anh ấy cũng… được, anh cũng sư phạm trước em mấy khóa, mà lúc đó, anh lại sắp lên đường nhập ngũ, thế là rụp rụp, đám cưới. Hì…hì…
- Trời ơi, lấy vợ lấy chồng thời buổi này mà cứ như hồi xưa không bằng… Phải chi em cứ đợi.
Nàng bỗng thở dài:
- Ừa, mà biết đâu, hồi đó lấy anh thì biết đâu mọi chuyện sẽ khác…
Tôi hỏi:
- Cái gì mà biết đâu?
Khuôn mặt nàng sa sầm xuống. Hai mắt nàng chợt tối. Giọng nghe buồn buồn:
- Kể lại thêm buồn. Để em nói cho nghe. Giải phóng xong là Thượng phải đi trình diện cải tạo. Chắc anh cũng có đi cải tạo…
Tôi nói:
- Đúng rồi. Mà em biết không, lúc đó, vợ anh mới sinh… Thấy tội nàng quá. Thế mà chiều hôm đó…
- Ừa, … anh thì buổi chiều, còn Thượng thì là buổi sáng. Ừa, Thượng là tên anh ấy. Sáng đó, công an tới đưa giấy. Anh biết không, lúc giải phóng, Thượng là đại úy. Ừa, anh ấy nhập ngũ rồi được biệt phái về đi dạy, nhưng sau Mậu Thân, anh bị gọi lại vào quân đội. Biết trước sau gì cũng đi, nên nhận giấy cũng vui, đi sớm về sớm. Em cũng cứ tưởng vài ba ngày rồi về, nên ngày đó, em làm tiệc đưa tiễn đàng hoàng… Anh đừng cười, nói tiệc là nói cho vui vậy, thật ra là em làm con gà, mua mấy két bia cho anh với bạn bè anh ấy nhậu. Ngày hôm sau, anh đi trình diện, em đi tiễn, Thượng nói tiễn làm gì, mươi mười ngày sau, anh về rồi. Ừa, thì thôi.
Tôi chuyển câu chuyện:
- Còn anh, vợ anh sinh nên ngày anh đi, chẳng ai, chẳng ai…
- Em thì khác, khi đó con em đã lớn… Mà anh biết không, Thượng đi rồi, khoảng một tuần sau, em lại đi mua con gà, đợi anh học tập về đoàn tụ. Thượng vẫn chưa về. Ừa, thì đợi thêm một tuần nữa, đâu có sao. Rồi em lại đi mua con gà. Lại cũng chưa về. Rồi thêm một tuần nữa, em lại đi mua con gà…
- Chồng em sướng thật, sướng hơn anh… Ngày anh đi trình diện, em biết không…
- Ừa, em biết, em biết… Anh nói Thượng sướng, đúng không. Ừa, Thượng sướng thật, nhưng mấy con gà lại buồn. Gà buồn, bia buồn, em cũng buồn. Rồi tuần sau nữa…
Tôi sốt ruột:
- … Thượng cũng không về, em lại làm con gà, đúng không. Rồi khi nào anh ấy mới về?
- Bảy năm, đúng hơn là bảy năm ba tháng mười một ngày…
Tôi lại cắt ngang:
- Bảy năm thì chưa ăn nhằm gì. Em biết anh thì phải đi ở tù mấy năm không?
- Ừa thì mấy năm, sĩ quan thì ai cũng phải mấy năm trở lên. Nhưng mà anh biết không, ngày Thượng về, lúc đó… lúc đó…
- Ai đi cải tạo về thì cũng giống nhau. Như anh đây, em biết không, …
- Sao mà giống nhau được. Ngày Thượng về, Thượng về… hoàn toàn khác.
Nàng bỗng ngừng lại, cúi đầu tiếp tục vân vê mấy cuộn chỉ. Ngạc nhiên, tôi hỏi tiếp:
- Khác thì khác, ai chả khác, nhưng chắc là vui lắm, đúng không?
- Ừa, thì vui. Nhưng mà lúc đó… lúc đó, tiếc thay, em đã có… chồng.
- Có chồng?
- Ừa, có chồng. Em lấy chồng khác.
Tôi sửng sốt nhìn nàng, không hiểu. Nàng tiếp tục, nhưng chuyển qua một chuyện khác, giọng chợt vui lên:
- Mà mắc cười lắm nghen. Lúc đầu mới gặp anh chàng chi viện này, quê ơi là quê. Đã quê mà còn ăn nói cục cục hòn hòn, giọng ngoài ngoải, có khi em chẳng hiểu gì cả, đành phải nhờ một cô cán bộ khác dịch lại giùm.
- Anh chàng nào vậy, tôi ngạc nhiên hỏi.
- Thì chồng em chứ anh chàng nào. Nghĩ lại, em thấy tình cảm con người cũng lạ. Lúc đầu thấy ghét thế mà dần dần, thấy ít ghét rồi dần dần, thấy thương thương… và rồi dần dần thương hồi nảo hồi nào không hay. Thế mới kỳ.
Tôi hỏi một câu rất thừa:
- Vậy thì em có đến… hai chồng?
Khuôn mặt nàng bỗng như khựng lại. Nét hồn nhiên nảy giờ như bị một sợi mây lướt qua. Lặng đi một khoảng. Nàng nói:
- Ừa, hai chồng…
Nàng cúi đầu xuống một lúc. Và thở dài:
- Biết làm sao được anh. Em nhờ chồng này mà nuôi được… chồng kia.
Tôi lại ngạc nhiên một cách thành thực:
- Chồng này nuôi chồng kia?
- Ừa, làm sao mà anh hiểu được. Đàn ông đi cải tạo, ai cũng nghĩ là khổ, quá khổ. Ở tù ở đày sao mà không khổ cho được, em biết. Nhưng có ai biết rằng vợ con ở nhà còn trăm bề gian khổ hơn. Khô đến nổi, nhiều lúc, em nghĩ, thà cho mình đi ở tù thay chồng có khi còn khỏe hơn.
Thì hoàn cảnh nàng nào có khác gì hoàn cảnh tôi. Tôi nói:
- Anh biết. Vợ anh cũng đi bới xách cực khổ…
Nàng cắt ngang:
- Không bằng em đâu. Em bới… em chờ đợi rồi lại bới rồi chờ đợi. rồi hy vọng. Lúc đầu hy vọng tuần sau, rồi dần hy vọng tháng sau rồi lần lần hy vọng năm sau. Cứ thế cho đên lúc trong em mất hẳn hai chữ… hy vọng. Cả năm trời, em không đi thăm Thượng. Anh ấy nhắn về nhiều lần, em chỉ biết lặng im, chịu trận, lòng đau như muối xát… May sao, lúc đó, có Quỳ…
- Quỳ?
- Ừa, Quỳ, chồng sau em đó.
Tôi nhìn nàng, chờ. Nàng im lặng, đầu cúi xuống, ngẫm nghĩ. Rồi ngẩng đầu lên, nói nhanh:
- Quỳ là cán bộ phường. Thương hoàn cảnh em, Quỳ giúp em vào làm một chân trong cửa hàng bán thịt tươi sống. Nhờ, nhờ… mùi thịt tươi mà con nhỏ Kiên này tươi lên, có thu nhập, vừa nuôi con lại vừa có chút bới cho Thượng.
Giọng nàng đột nhiên chậm lại, rời rạc:
- Và rồi… chuyện đến là nó đến… Nói thiệt với anh, em chẳng có thì giờ để suy nghĩ, đắn đo nữa. Nhờ Quỳ mà em được đi thăm nuôi Thượng đều đều cho đến ngày Thượng về…
Tôi thắc mắc:
- Nhưng khi Thượng về, rồi sao?
Nàng xua tay, im lặng. Lâu lắm, nàng mới nói:
- Rồi sao? Rồi sao? Thì cái gì đến là nó đến… Mà lạ lắm anh, em nghiệm cuộc đời em biết, khi người ta khổ quá rồi, thì mọi chuyện cứ như là chuyện của ai đó chứ không phải của mình. Y như mình đọc tiểu thuyết của… Dương Hà vậy thôi. Mà anh có bao giờ đọc tiểu thuyết Dương Hà chưa nhỉ?
- Chưa. Mà truyện Dương Hà giống chuyện của em hay sao?
- Không. Chẳng giống cái gì cả. Truyện Dương Hà làm gì có cảnh nuôi chồng cải tạo. Nhưng mà có cái giống. Giống như đúc…
- Như đúc?
Nàng bỗng bật cười, cười rất tươi:
- Ừa, giống ở chỗ bên nào cũng như từ… tưởng tượng mà ra… Mà thôi, truyện lật qua chương khác rồi. Cái gì qua rồi thì chỉ là tưởng tượng.
Tôi nhìn nàng, bỡ ngỡ. Ý nghĩ nàng thật bất ngờ. Tôi chợt tìm thấy trên khuôn mặt nàng một nét tương phản kỳ lạ. Thoắt cái, như bông hoa, lắc lay, nhí nhảnh. Thoắt cái, như bức tượng, lạnh lùng, khô cứng. Nàng như chính câu chuyện của nàng. Và câu chuyện của nàng là tất cả, nhập vào nàng, làm thành nàng, không tách rời ra được. Tôi nản chí, không muốn nhắc chuyện mình nữa, lập lại câu hỏi, vướng chút tò mò:
- Thượng về, rồi sao?
Nụ cười tan nhanh. Khuôn mặt đanh lại. Nàng không trả lời tôi, tiếp tục chuyện của nàng:
- Những tưởng là cái gì xong thì xong, không ngờ chúng cứ dây dưa dây dưa. Bây giờ em lại khổ. Khổ vì chuyện khác…
- Em mà khổ thì cũng lạ!
- Em mà không khổ thì ai mà khổ nữa. Mà khổ lần này là chuyện con.
Nàng châm nước thêm vào ly tôi, tiếp, lần này giọng nghe chừng kể lể:
- Em có với Thượng hai con. Có với Quỳ hai con. Đứa nào cũng hết sức thương mẹ. Nhưng hai đứa này không bao giờ thương hai đứa kia. Chúng trở thành hai phe. Hễ gặp là chúng gây nhau, gây dữ dội. Đã có lần chúng nó đánh nhau chảy máu, em phải xông vào la hét, khóc lóc, chúng mới chịu buông ra. Chúng đổ lỗi cho nhau, chúng thù nhau. Hai đứa này nói vì cha hai đứa kia mà chúng khổ. Gây nhau mãi, không vừa ý nhau, bốn đứa chúng lại gây lẫn nhau, không đứa nào chịu nhường đứa nào. Đứa nào cũng đầy sáng tạo, luôn luôn tìm ra những cách nói mới để xỉa xói nhau.
- Em là mẹ, sao em không giải thích… mà sao em không hòa giải chúng. Thương mẹ, chúng phải…
- Còn khuya! Em đã thử đủ cách, nhẹ có, nặng có, ôn hòa có, quyết liệt có. Có lần em đòi tự tử nữa kìa. Nhưng vô ích, anh ạ. Em cố phân xử, nhưng hễ bênh đứa này thì thấy đứa kia nói nghe cũng… đúng. Thực hết biết! Gặp nhau, ngồi chưa nóng chỗ là rủa sã nhau y như kẻ thù. Cái này thì thiệt tình không giống Dương Hà.
Tôi đùa:
- Lại Dương Hà. Truyện Dương Hà là truyện tưởng tượng, sao em cứ ưa nhắc hoài vậy?
Nàng quả quyết:
- Thì đấy, em nhắc là vì chuyện con em là thực, thực hoàn toàn.
- Thì chuyện nào em kể chả là chuyện thực.
- Không. Cái gì bây giờ mới là thực. Còn cái gì qua rồi là…giả.
Nàng nói rất nghiêm. Và bỗng cười. Tiếng cười nở ra trên khuôn mặt duyên dáng một nét lạ rơi rớt lại từ thăm thẳm xa cũ, nghe thả lỏng, hồn nhiên như hồi nào, mấy chục năm trước, nàng bước vào phòng khách sạn Thái Bình ở bến xe Vĩnh Long, tìm tôi, tươi tắn, nhẹ nhàng, dâng hiến.
…..
*
Tôi ghi lại đôi dòng gửi nàng:
gặp lại em…
mấy mươi năm rồi, lạ hoắc
chào. sửng sốt. mừng
em khác xưa, tất nhiên, nhưng nói chung
vẫn còn dăm ba nét cũ
đủ để nhắc tôi thuở ấy, lạ lùng
mấy mươi năm rồi, tưởng quên
và mọi điều chẳng hề có thực
thời gian trôi, chở nặng cuộc đời
người. vật. buồn. vui
tang thương dâu bể
cay đắng ngọt bùi
hỏi có lúc nào trong khoảng dài thăm thẳm ấy
nhớ đến tôi. Em cười: hình như cũng có
rồi vội quên, vì biết làm sao
thế rồi em nói, nói, nói
chuyện chồng chuyện con
chuyện hạnh phúc gian truân
bao điều ăm ắp
mấy mươi năm
tôi lẵng lặng nghe, buồn
chẳng hề có chút gì tôi trong đó
mấy mươi năm trời, gặp lại
tưởng là em
té ra là một người khác
đội lốt em.
Không có hồi âm.
Nàng đi vào tưởng tượng. Mênh mang.
Trần Doãn Nho
(12/2018)


Cứ thêm một lời hứa, thêm một lần khả nghi - Đỗ Ngọc Thống (Nhà Giáo)


Cứ thêm một lời hứa, thêm một lần khả nghi
Đỗ Ngọc Thống (Nhà Giáo)
Mấy hôm trước, tôi hứa chiều mùng 1 tết đưa 2 mẹ con người bạn lên sân bay vào 15 giờ. Điện thoại tôi tắt từ giao thừa, quên không bật lại. Gần giờ đi, bạn gọi không được. Cô ấy nghĩ chắc do tôi có chuyện gì hoặc quên lời hứa nên định gọi taxi-grap. Vừa lúc đó tôi đến, nhìn đồng hồ:15g kém 7. Bạn tôi nói: “tớ tưởng cậu xảy ra chuyện gì mà gọi mãi không được”. Tôi cười và bảo: “nếu có chuyện gì thì phải báo cho cậu rồi, mà đây lại là lời hứa vào ngày tết làm sao sai được?”. Trong bụng nghĩ, bà này chưa hiểu tôi. Trên đường cứ nghĩ về lời hứa đầu năm, rồi nhớ tới câu chuyện xảy ra cách đây không lâu.
Hôm ấy tôi làm việc ở nhà, cứ 10 phút lại check mail một lần. Dễ đến 10 lần rồi mà vẫn không thấy cái thư mình mong đợi. Chả là do công việc, tôi cần xin lại bản mềm của một cuốn sách đã xuất bản. Gọi điện 5 lần 7 lượt, lần nào người ấy cũng hứa như đinh đóng cột:“sẽ gửi ngay qua email”. Thế rồi vẫn chẳng thấy, tôi phải đến tận nơi gặp gỡ và nhờ vả trực tiếp. Vừa thấy mặt, anh ta đã hồ hởi cả cười: “em gửi ngay bây giờ đây”. Thế rồi tôi yên tâm về và ngồi đợi cho tới…9 giờ đêm cũng chẳng thấy, chắc anh ta lại thất hứa rồi. Gọi điện thì thấy tắt máy… Thế là tôi lỡ hết việc đã hứa với người khác. Buồn quá. Buồn do không xong việc thì ít mà buồn vì sự thất hứa thì nhiều. Cứ nghĩ mãi mà vẫn không hiểu nổi tại sao lại có người coi rẻ lời hứa đến vậy.
Người xưa rất cọi trọng chữ tín,“một lần bất tín, vạn sự bất tin”. Muốn có chữ tín phải biết giữ lời hứa, không thất hứa, thất hẹn, nói phải đi liền với làm. Ngày nay không hiểu sao chuyện sai hứa, thất hẹn là rất bình thường. Hứa hẹn rất nhiều, hẹn hứa như không, hẹn rất nhanh và hứa rất dễ. Nhưng hẹn xong rồi quên luôn, hứa thật nhiều nhưng không làm gì cả. Sao thế nhỉ? Hay là do tôi “cũ” quá rồi nên cứ một mực đề cao và bận tâm về chuyện hứa hẹn thề nguyền? Chỉ một lần hẹn bạn đi chơi, do công việc bận phải trì hoãn mãi, thế mà khi thực hiện rồi vẫn thấy ngượng ngùng… Rồi một lần khác vốn chỉ thầm hứa sẽ viết một bài về cuốn sách bạn tặng, ý đã có mà bài mãi vẫn chưa thành, mỗi lần nhìn cuốn sách cứ thấy như mình mắc lỗi… Thế mà lạ, nhiều người vừa thất hứa hôm qua, hôm nay gặp cũng chẳng thấy bối rối hay ngượng ngùng gì. Cứ như không. Cứ như không hẹn hứa, hứa hẹn gì… Nhiều khi cũng đành chua chát buông câu thơ ngán ngẩm của Trần Hòa Bình: “Cứ thêm một lời hứa/ Lại một lần khả nghi”(Thêm Một).
Lời hứa của ai cũng cần coi trọng. Chính khách, lãnh đạo hứa trước dân càng phải cẩn trọng hơn. Xưa “vua không nói chơi”, “nhất ngôn cửu đỉnh”. Nay hình như không phải thế. Có lần bạn tôi bảo: “sướng nhé, giáo viên sắp sống được bằng lương, ông Nguyễn Thiện Nhân hứa rồi”. Tôi cười và nói: “chỉ có những thằng đần mới tin lời hứa của quan chức”. Chức càng to quên càng nhanh. Thằng hứa, vừa hứa đã quên luôn. Chỉ có người được hứa là nhớ mãi.
Hà Nội, mồng 5 tết Con Lợn ( Kỷ Hợi)



Con heo trong hội đồng thi - Đoàn Dự


Con heo trong hi đng thi
Đoàn Dự

Kỳ chấm thi phổ thông trung học (tú tài) năm ấy, tôi được Ty Giáo dục tỉnh cử làm tổ trưởng Tự nhiên, trông coi việc chấm thi 3 môn: Toán, Lý hoá, Sinh vật, còn tổ trưởng Xã hội gồm 3 môn: Văn, Sử địa, Ngoại ngữ thì do giáo viên của trường khác làm. Sự thực, không phải Ty Giáo dục biết mặt, biết tên chúng tôi mà đề cử (hồi đó mới sau 75, còn gọi là “Ty” Giáo dục, sau này mới đổi thành “Sở” Giáo dục & Đào tạo), mà là do anh – hiệu trường tôi được cử làm chủ tịch hội đồng giám khảo nên đề nghị ty cử tôi làm tổ trưởng Tự nhiên chứ tôi cũng chẳng có tài cán gì. Anh này là hiệu trưởng từ ngoài Bắc vào, quê ở Hà Tĩnh, đã từng tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội và đi bộ đội về, đảng viên khá nhiều tuổi đảng (hiệu trưởng một trường cấp 3 tất nhiên phải là đảng viên cốt cán). Tính anh nghiêm túc, bắt các giáo viên trong trường làm việc quá chừng nên chúng tôi thường nói ngầm với nhau là anh “hắc ám” nhất trong các hiệu trưởng của 9 trường cấp 3 trong tỉnh.
Giáo viên đi coi thi thì gọi là giám thị, thuộc hội đồng giám thị. Sau đó khi đi chấm thi thì gọi là giám khảo, thuộc hội đồng giám khảo. Mỗi ngày mỗi người chúng tôi được 1$ công tác phí ngoài số lương khoảng 40$/ tháng, tức tương đương với 20.000$ thời cũ. Trước năm 75, lương tôi 43.000$/tháng, lại đi dạy thêm tại các trường tư nữa, nay chưa được một nửa, không còn trường tư nên nghèo là ở chỗ đó. Trên nguyên tắc, 1$ tương đương với 500$ thời cũ vì mới đổi tiền, một đồng ăn 500 đồng, nhưng trên thực tế, tiền mất giá khủng khiếp, cái gì cũng khan hiếm nên không thể so sánh 1$ tiền mới với 500$ tiền thời cũ được. Các giáo viên nghèo xơ xác. Dân chúng phải ăn bo bo, khoai lang, khoai mì mà cũng không đủ.
Lễ khai mạc hội đồng giám khảo diễn ra rất long trọng vì có ông bí thư tỉnh uỷ đến dự. Tiếp theo, ông ta chỉ thị cho chúng tôi rằng năm ngoái, năm kia, năm nào tỉ lệ thí sinh thi đậu cũng đạt từ 95 phần trăm trở lên, vậy thì năm nay ít nhất cũng phải như thế, không thể kém hơn.
Ngay sau đó anh chị em về ban của mình, bắt đầu chấm bài theo lối “chấm kép”, ngày trước thường gọi là “double correction” theo tiếng Pháp. Nghĩa là mỗi xấp do hai người chấm, cho điểm riêng biệt với nhau, khi xong xấp thì sẽ hội ý để cho mức điểm chung nếu có chênh lệch.
Buổi trưa, mọi người xuống phòng ăn bên cạnh bếp ăn cơm, riêng tôi và cô Thủy, tổ trưởng Xã hội, giáo viên môn Văn trường Cấp 3 Thị xã, tức trường Thánh Giuse cũ nay đã bị lấy làm trường công lập, thì phải ở lại làm báo cáo đã chấm được bao nhiêu bài, số bài bị 0 điểm, số bài được trung bình từ 4 đến 5 điểm, số bài từ 6 – 7 điểm trở lên…, rồi đem báo cáo đó và các xấp bài chưa chấm hoặc đang chấm dở lên nộp trên văn phòng, chiều cũng sẽ làm như vậy.
Tôi rất đói bụng mà cũng uể oải nữa, vì từ sáng đến giờ chưa được miếng gì vào bụng. Lý do đơn giản là trường Trịnh Hoài Đức ở Lái Thiêu sau 75 đổi tên thành trường Bồi Dưỡng Cán Bộ – nơi chúng tôi đang chấm thi – nằm bên cạnh quốc lộ 13, chung quanh không có hàng quán gì cả, muốn ăn thì phải xuống Búng. Mà ở Búng cũng chẳng có gì ngoài một quán bán bánh bèo bì rất nổi tiếng, nhưng ăn vừa mắc lại vừa không thể no bụng, tiền đâu mà sáng nào cũng xuống và làm gì có thì giờ.
Bụng đói nhưng trong phòng ăn, cơm đựng trong những chiếc rổ đã nguội ngắt, thức ăn gồm hai món là cá đuối khô kho lõng bõng nước với củ cải khô xắt lát và “canh” rau muống bằm nhỏ nấu với muối trắng thêm tí bột ngọt, tôi nuốt không nổi. Lạ lùng là cá đuối khô mà kho có nước là nó tanh òm, vừa tanh lại vừa có mùi ngai ngái rất kỳ lạ.
Các bàn khác anh em ăn xong đã lên phòng cả, chắc cũng nuốt không nổi nên cơm và hai món thức ăn còn ê hề, các “chị nuôi” chưa kịp dọn. Tôi vào trong bếp xin một ít muối trắng ra ăn rồi húp thêm nước “canh”, cũng trôi xuống bụng được chừng hai lưng chén.
Buổi chiều cũng như vậy, vẫn canh rau muống bằm nhỏ nấu với muối trắng thêm chút bột ngọt và cá đuối khô kho lõng bõng nước với củ cải khô xắt lát. Hồi còn dạy ở Bạc Liêu, tôi thấy đồng bào người Miên gọi là xá- bấu, rẻ mạt, người Việt rất ít khi ăn.
Tôi nói với các chị nuôi:
– Khổ lắm các chị ơi, con heo nó ăn người ta còn nấu rau muống với cám. Đằng này chúng tôi ăn, các chị chỉ nấu rau muống với muối trắng thêm tí bột ngọt thì nuốt sao nổi. Đề nghị từ mai trở đi các chị cho thêm ít cám vào để chúng tôi được bằng con heo.
Chị nuôi lớn tuổi nhất trong số ba chị nuôi nói:
– Em biết chớ, cũng tội nghiệp các thầy lắm chớ. Nhưng thầy thử nghĩ coi, mỗi ngày các thầy đóng được 1 đồng với nửa ký gạo. Gạo thì đủ, hổng thiếu, còn tiền thì 1 đồng chỉ đủ mua củi, muối, nước mắm, bột ngọt chớ đâu có dư. Rau muống là tụi em xin rau già người ta bán ế ở chợ. Còn khô cá đuối với củ cải xá- bấu họ cũng bán ế, giá rẻ mạt thì tụi em mua. Tiền ít, các thầy chịu vậy chớ biết sao bây giờ.
Thì ra thế. Tôi nhớ lúc anh em mới lên, đóng tiền và gạo, anh Ba Thiện phó ty đặc trách đời sống cũng có mặt ở đấy, tôi nói với anh, mỗi người đóng 1 đồng một ngày không đủ đâu anh, chấm thi coi vậy chứ ngồi suốt ngày cũng mệt, mọi thứ đắt đỏ, phải 2 hay 3 đồng ăn uống kha khá mới đỡ mệt. Anh Ba Thiện là cán bộ ngoài Bắc vào sau 75, tôi với anh có dịp chuyện trò mới biết là người cùng quê, nên anh coi tôi nửa như đứa em vì tôi nhỏ tuổi hơn anh, nửa như bạn đồng nghiệp vì anh vốn coi trọng dân “Bắc kỳ di cư 54” sống ở trong Nam, do họ có trình độ. Anh nói, có, tớ có góp ý với ông Chín Đức, nhưng ông ấy bảo 2 hay 3 đồng nhiều quá, sợ anh em có người đóng nổi, người không đóng nổi, đóng 1 đồng vừa bằng với tiền công tác phí của ty cho thì ai cũng đóng được, tớ thấy hợp lý nên cũng im lặng.
Sáng hôm sau, ông Chín Đức đến hơi sớm, cỡ khoảng 6 giờ 30 và nói là muốn tìm tôi. Gặp tôi ở sân do bạn bè chỉ, ông hỏi: “Đồng chí là tổ trưởng Tự nhiên phải không?”. Ông Chín Đức là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc năm 54, người cao và gầy, môi thâm mắt trắng, rất khó tính, không bao giờ có được nụ cười nên chúng tôi rất e dè mỗi khi có việc lên Ty gặp ông. Tôi trả lời rất lễ phép chứ không dám xuề xoà như đối với anh Ba Thiện: “Vâng ạ”. “Đồng chí thấy tình hình bài thi thế nào?”. “Dạ thưa rất kém. Hôm qua mới bắt đầu chấm nên mỗi người mới chấm được khoảng 2 xấp, sáng một xấp, chiều một xấp. Các bài đa số đều dưới trung bình, cỡ 1 – 2 điểm. Thậm chí có bài môn Toán, nó làm không nổi nhưng không được phép ra sớm nên ngồi viết lăng nhăng, mở đầu bằng hai câu thơ của Hoàng Trung Thông: “Bàn tay ta làm nên tất cả. Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” rồi bảo đấy là thơ trong truyện Kiều của cụ… Nguyễn Trãi và lan man tán dóc đặc kín cả 4 trang giấy”. “Không phải nó tán dóc đâu, nó có tinh thần cách mạng đấy. Giám khảo cho bao nhiêu điểm?”. “Dạ thưa zê- rô. Anh ấy bảo môn Toán là phải chính xác, nó viết như vậy lạc đề hoàn toàn nên cho zê- rô”. “Không được, phải cho điểm nó chứ, công lao động viết 4 trang giấy của nó để đâu”. Rôi ông hỏi tôi: “Theo đồng chí dự đoán, tỉ lệ thí sinh thi đậu năm nay khoảng bao nhiêu phần trăm?”. “Dạ thưa chưa rõ, chấm xong mới biết. Nhưng theo tôi nghĩ, số thí sinh thi đậu có lẽ rất thấp, chắc chỉ khoảng 20 – 21 phần trăm là nhiều”. Nét mặt ông Chín Đức tự nhiên sa sầm, ông bảo tôi: “Không thể được, tôi đã hứa với ông bí thư tỉnh uỷ và ông trưởng ty Giáo dục là trên 95 phần trăm rồi mà. Anh kiếm cho tôi cô gì tổ trưởng Xã hội được không?”. “Dạ được chứ ạ”. Tôi định đi, ông Chín Đức đi theo: “Tôi phải đi với anh cho lẹ chớ không thôi nóng ruột quá…”.
Cô Thủy ở với các bạn trong các phòng học phía bên trái dẫy nhà lầu. Cô và các bạn đã mặc đồ đàng hoàng để chuẩn bị lên phòng lo việc chấm thi, nên nghe các bạn nói có ông Chín Đức kiếm là cô ra ngay. Ông Chín Đức cũng hỏi cô những điều như đã hỏi tôi. Đặc biệt, về tỉ lệ thí sinh thi đậu, cô cũng nói cô đoán khoảng 20- 21 phần trăm đúng như tôi đã nói. Ông Chín Đức bồn chồn nói: “Thôi chết, thế này thì chết, hư bột hư đường hết trơn hết trọi!…” rồi ông xăm xăm đi lên phía văn phòng ban lãnh đạo hội đồng.
Có lẽ ông Chín Đức đã gặp anh Liêm chủ tịch hội đồng và coi lại điểm các bài thi đã chấm, nên một lát sau tôi nghe có tiếng micro phụt phụt “a- lô, a- lô” trên loa phóng thanh rồi giọng anh Liêm ra lệnh cho toàn bộ giám khảo phải tạm ngừng chấm, tập trung lên phòng khánh tiết nghe đồng chí Chín Đức phó chủ khảo phổ biến một số việc cần.
Chúng tôi xuống phòng khánh tiết, không ai dám vắng mặt. Một lát, ông Chín Đức đi vô nhưng chỉ có một mình, không có anh Liêm đi cùng vì anh muốn tránh mặt, không can thiệp vào việc thí sinh thi đậu nhiều hay ít.
Khởi đầu, ông Chín Đức cho biết ông đã coi lại các bài thi đã chấm. Điểm cho như vậy là tốt nhưng quá khắt khe, không thể đạt được tỉ lệ 95 phần trăm trở lên như ông đã hứa với ông bí thư tỉnh uỷ và ông trưởng ty Giáo dục. Tiếp theo, ông tâm sự: “Nói thiệt với các đồng chí, tuy các đồng chí là giám khảo nhưng tất cả đều là giáo viên thuộc 9 trường cấp 3 trong tỉnh, bạn bè với nhau. Học trò các lớp 12 đều do các đồng chí dạy. Trường nào tỉ lệ học sinh thi đậu dưới 95 phần trăm có nghĩa là giáo viên trường đó lười biếng, dạy kém, không đạt yêu cầu, sẽ bị ty trừng phạt, đổi đi trường khác hoặc cho nghỉ dạy. Tình nghĩa bạn bè của các đồng chí như vậy không tốt. Chỉ vì các đồng chí chấm thi quá khắt khe nên bạn bè của các đồng chí bị trừng phạt, các đồng chí có sung sướng không? Tại sao các đồng chí hổng cho rộng điểm để ai cũng vui vẻ về thành tích hội đồng chúng ta đã đạt được?”.
Ông còn nói nữa. Cuối cùng, ông đem câu chuyện một thí sinh thi môn Toán đã đưa hai câu thơ của Hoàng Trung Thông ra viết tầm bậy mà tôi đã nói với ông ra làm ví dụ:
– Tôi hỏi các đồng chí, nếu bây giờ một thí sinh thi môn Toán nhưng nó làm bài không nổi, đem hai câu thơ gì đó ra tán dóc từ đầu đên cuối đặc kín hết 4 trang giấy thì các đồng chí cho điểm như thế nào?
Mọi người im lặng không dám trả lời. Ông hỏi lại lần nữa, không đừng được, một anh phải giơ tay đứng lên:
– Thưa anh, toán học là một khoa học chính xác, trong trường hợp thí sinh làm bài hoàn toàn lạc đề như vậy chúng tôi cho không điểm.
Nói xong anh vẫn đứng đấy, ông Chín Đức vẫy cho anh ngồi xuống rồi hỏi:
– Ai đồng ý với anh bạn đó?
Không ai trả lời. Ông lại hỏi:
– Ai không đồng ý với anh bạn đó?
Cũng không có ai trả lời.
Ông chỉ thẳng tay vào mặt người vừa phát biểu và nói gằn giọng:
– Anh là một tên phản động, không có lập trường giai cấp. Công lao động viết đặc kín hết 4 trang giấy của nó anh để đâu? Mặc dầu nó hoàn toàn lạc đề nhưng phải tính công lao động cho nó chớ. Anh không tính công lao động cho nó là bắt chước bọn tư bản bóc lột, là hạng phản động theo đuôi đế quốc!
Ông còn mắng nữa, sau đó dịu giọng:
– Nói vậy chớ các đồng chí cũng nên thông cảm. Con em của chúng ta suốt bao nhiêu năm bị Mỹ Nguỵ dày xéo, áp bức bóc lột, các em học hành chưa đến nơi đến chốn, làm bài nếu có sai sót là do bọn Mỹ Nguỵ chớ không phải lỗi tại các em. Vậy tôi đề nghị các đồng chí chấm bài thiệt nương tay. Chúng ta nhứt quyết đạt được tỉ lệ thí sinh thi đậu từ 95 phần trăm trở lên, nắm lá cờ đầu toàn quốc. Các đồng chí nhất trí chưa nào? Ai đồng ý thì giơ tay?
Mọi người bắt buộc phải giơ tay, đồng ý trăm phần trăm.
– Rồi, xong, bây giờ mời các đồng chí lên phòng tiếp tục làm việc.
Nói xong ông đi ra. Chúng tôi nhìn theo, một anh cười cười nói đùa: “Nhất trí trăm phần trăm! Thành công mỹ mãn! Cho điểm lớn nắm lá cờ đầu toàn quốc!”.
Buổi tối anh Ba Thiện từ nhà tập thể trong Ty đến chơi thăm anh em. Anh ngồi nói chuyện với tôi trên thành hành lang:
– Cậu có biết hôm qua đứa nào phát ngôn bừa bãi, nó bảo với các chị nuôi là cho thêm cám vào canh rau muống cho được bằng con heo chứ anh em ăn uống thua con heo.
Tôi nói:
– Em đấy anh ạ. Em nói thật chứ không phải phát ngôn bừa bãi.
– Biết ngay mà. Tao hỏi vậy thôi chứ không hỏi cũng biết là mày. Cái mồm mấy thằng Thái Bình Thái lọ độc địa, cứ hễ nói ra là chết trâu chết bò. Mày coi chừng cái mồm mày đấy mày!…
– Đã nói là em không sợ, đã sợ là em không nói. Thế bộ anh không phải dân Thái Bình Thái lọ?
– Tao khác, mày khác. Tao là cán bộ, đã đi bộ đội đánh nhau suýt chết mấy lần ở bên Campuchia về, chẳng ai làm gì được tao.
Sau đó anh hạ thấp giọng, thân mật:
– Chỗ anh em cùng quê, tao biết mày từ hồi mày còn mặc quần thủng đít nên nói cho mày để ý vậy thôi. Mày loan báo giùm với anh em là kể từ ngày mai trở đi, tao đã xin được bánh mì của cửa hàng thực phẩm quốc doanh, mỗi sáng mỗi người sẽ được nửa ổ bánh mì ăn cho đỡ đói.
Rồi anh nói thêm:
– Tao cũng đã nói chuyện với ông Chín Đức, từ trưa mai mỗi bàn 4 người sẽ được tăng cường một đĩa thịt kho nho nhỏ. Vậy là không còn ai than phiền gì nữa phải không?
– Vâng, cám ơn anh.
Đúng như lời anh Ba Thiện đã nói, sáng hôm sau mỗi người chúng tôi được nửa ổ bánh mì đã cắt sẵn, do cửa hàng thực phẩm quốc doanh huyện Thuận An tức hai huyện Lái Thiêu và Dĩ An nhập lại, bán ế từ hôm trước, nguội ngắt, đựng trong chiếc bao tải để trên hành lang. Nhiều anh đứng ăn ngay tại chỗ còn các cô thì lấy chung cho nhau đem về phòng. Buổi trưa thì mỗi bàn ăn 4 người được “tăng cường” thêm một dĩa thịt kho bé tí, mỗi người gắp được vài miếng, anh em phấn khởi ra mặt.
Do đã được ông Chín Đức “lên lớp” và thức ăn đã được tăng cường nên điểm của các bài thi tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, tỉ lệ thí sinh thi đậu dù tăng đến đâu cũng chỉ vào khoảng 40 – 45% là cùng chứ không thể hơn.
Ông Chín Đức lại hỏi, tôi lại nói tôi thấy như thế. Ông ngớ người có vẻ không hài lòng: “Tại sao anh em vẫn cứ chấm khe khắt?”. “Không phải khe khắt đâu anh ạ, tại vì tình hình kinh tế khó khăn, học sinh nhiều đứa bỏ học hay không chịu học nên đi thi làm bài quá kém, không thể cho điểm lớn chứ không phải anh em khe khắt”. “Thôi được, để tôi bàn lại với ông Sáu Việt xem sao chớ tỉ lệ thi đậu như vậy thì chết rồi!”. Tiếng “chết” ông Chín Đức nói theo giọng Bắc nghe không ra Bắc cũng chẳng ra Nam.
Gần trưa hôm sau, cỡ 10 giờ 30, anh em nghỉ giải lao, nhiều anh xuống sân cho được thoải mái. Bỗng có tiếng còi xe tin tin và tiếng xe lam kêu lạch bạch, khói phun ra bình bình ở cái ống bô dưới gầm xe. Chú gác dan vội chạy ra mở rộng cả hai cánh cổng. Chiếc xe hơi Mỹ màu đen bóng loáng có tài xế lái của ông Sáu Việt đi trước, theo sau là chiếc xe lam cũ kỹ. Lạ lùng là trên xe lam có một con heo to bự như con bê, đứng thò mõm ra ngoài kêu ụt ịt. Ở khoảng giữa tai bên phải của con heo có một cái lỗ có lẽ lâu ngày nên đã rộng ra, cột sợi dây thừng. Tôi chưa từng thấy heo xỏ lỗ tai cột dây thừng giống như con trâu xỏ lỗ mũi bao giờ cả.
Anh em xúm lại xem, có anh nói con heo có lẽ nặng tới một tạ rưỡi, có anh nói hai tạ, thậm chí có anh nói ba tạ. Toàn là nói mò nhưng anh nào cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao ông trưởng ty lại đem một con heo to bự đến hội đồng thi như vậy.
Ông Sáu chỉ cho chú gác dan cột sợi dây thừng vào chỗ gốc cây có bóng mát rồi cười cười, xoa hai tay vào nhau:
– Heo mua trong trại heo Mồng 3 Tháng 2 dưới Dĩ An đấy, nhưng chưa trả tiền. Mua để vài bữa nữa làm thịt, liên hoan ăn mừng tổng kết hội đồng.
Rồi ông vẫn cười cười, nói tiếp nửa như thật, nửa như đùa:
– Hễ tỉ lệ thí sinh thi đậu trên 95 phần thì liên hoan, còn nếu dưới 95 phần trăm sẽ trả con heo lại cho trại, không liên hoan liên đồ gì hết ráo trọi. Các đồng chí muốn ăn thịt heo thì ráng cho điểm lớn vô…
Chúng tôi cười xoà vui vẻ. Kể từ hôm đó cả hội đồng đều biết chuyện ông trưởng ty mua con heo đại bự để sẽ liên hoan ăn mừng tổng kết hội đồng nếu tỉ lệ thí sinh thi đậu trên 95 phần trăm. Nhiều anh nói đùa: “Cho điểm lớn vô bà con ơi! Ráng nhắm mắt vô mà cho điểm!”, khiến ai cũng cười.
Điểm cho tưng bừng, thậm chí không cần chấm kép nữa, cứ một người chấm, người kia thêm vô một ít rồi ký tên, coi như đã cho điểm thống nhất. Có hôm, một cô hỏi tôi: “Bài nó chỉ viết có hai chữ bài làm rồi bỏ trống hết thì cho điểm thế nào hả anh?”. Tôi chỉ xuống dưới sân: “Kia kìa, cô muốn ăn thịt heo thì cho điểm, còn nếu không muốn ăn thì thôi, cho nó số không cũng được”. “Nhưng chỉ có hai chữ bài làm, biết cho thế nào?”. “Kệ, cô cho nó một điểm hay nửa điểm tuỳ ý. Hễ cô cho một điểm hay nửa điểm thì tôi khỏi phải làm báo cáo, còn nếu cho số không, tôi phải làm báo cáo giải thích lý do tại sao cô cho số không rồi cô ký tên xác nhận, mất công”. “Vậy thì em cho nửa điểm, chứ có hai chữ bài làm mà cho một điểm thấy hơi kỳ kỳ”. “Vâng, tuỳ cô”.
… Thế rồi việc chấm thi cũng xong. Hôm làm lễ tổng kết hội đồng, ngoài ông bí thư tỉnh uỷ ra còn có ông chủ tịch UBND tỉnh và các ban bệ khác tham dự nên buổi lễ lại càng long trọng. Khởi đầu, anh Liêm nhân danh chủ tịch hội đồng giám khảo lên báo cáo kết quả kỳ thi đã đạt được. Nói chung, thí sinh cả tỉnh đậu 97,5% so với 95,2% năm ngoái và 94,5% năm kia. Riêng trường tôi đậu 98,5%, trường cấp 3 Lái Thiêu 98,2%, trường cấp 3 Tân Uyên 97,8%, còn các trường khác trường nào cũng đậu từ 97% trở lên. Hội nghị vỗ tay và người hãnh diện nhất có lẽ là ông Chín Đức. Tiếp theo, ông Sáu Việt trưởng ty Giáo dục lên khen ngợi các trường đã đạt thành tích tốt nhất. Sau đó, ông chủ tịch UBND tỉnh lên thay lời ông bí thư tỉnh uỷ phát biểu, khen ngợi toàn thể ban lãnh đạo ty Giáo dục và hội đồng giám khảo… Cuối cùng, buổi lễ chấm dứt, anh Ba Thiện phó ty đặc trách đời sống cầm micrô đứng tại chỗ mời tất cả các anh chị em xuống phòng ăn bên dưới dự tiệc liên hoan, còn quý vị đại biểu và quý vị trong ban lãnh đạo cũng như các nhân viên trong Ty Giáo dục thì xin mời sang phòng bên cạnh.
Chúng tôi xuống sân, anh nào cũng xách theo túi xách đã để sẵn trước cửa phòng hội nghị lúc vào dự lễ tổng kết, hễ ăn uống xong, có xe buýt tới là sẽ dông liền.
Khốn nỗi, khi vào phòng ăn, thức ăn bày trên các dẫy bàn dài thì nhiều nhưng toàn những món được làm theo kiểu cỗ bàn nhà quê ngoài Bắc: thịt heo luộc, lòng heo luộc, xôi đậu xanh, nước suýt (nước luộc thịt, luộc lòng) bỏ hành lá… Những năm trước, liên hoan tổng kết tuy không giết heo nhưng anh nuôi, chị nuôi là người Nam, làm các món ăn miền Nam như cà- ri bánh mì, bún thịt nướng, thịt phá lấu, thịt kho tàu…, chúng tôi ăn rất ngon lành. Năm nay không hiểu sao lại đổi anh nuôi, chị nuôi là người Bắc, nấu theo kiểu Bắc, chúng tôi ăn không quen nên rất ngại ngần, chẳng anh nào muốn ngồi vào bàn.
Bỗng bên ngoài có tiếng ai đó nói: “Xe buýt tới, xe buýt tới…”, vậy là mọi người vội vàng xách theo túi xách chạy ra cổng, hối hả lên xe buýt, những anh lên chậm phải chờ chuyến khác nhưng chẳng ai ở lại ăn uống.
Xe chạy. Một anh đứng bên cạnh tôi, tay bám vào thành ghể đã có người ngồi, chuyện trò:
– Sao năm nào thi cử họ cũng tìm cách bắt tụi mình cho điểm thật lớn cho có tỉ lệ thí sinh thi đậu thật cao thế nhỉ?
Tôi nói:
– Tại bệnh thành tích đấy. Ông nào cũng muốn có thành tích cao để giữ địa vị hoặc thăng tiến địa vị. Đấy, ông thấy, ông Sáu Việt trưởng ty thì đi xe Mỹ bóng loáng có tài xế lái, còn ông Chín Đức với ông Ba Thiện phó ty thì đi xe Honda. Tôi nghi cái xe Honda đó chắc các ông ấy cũng kiếm ở đâu chứ từ ngoài Bắc vào, nghèo muốn chết làm gì có xe Honda.
Người bạn nói:
– Muốn thí sinh thi đậu bao nhiêu phần trăm là quyền của họ, tại sao họ cứ bắt tụi mình nhúng tay vô, cho thí sinh đậu thật nhiều trước khi họ tăng lên tới 97,5 phần trăm một cách vô lý?
– Vấn đề tâm lý vậy thôi. Ví dụ thí sinh thi đậu 20 – 21 phần trăm, các ông ấy bắt tụi mình tăng lên 60 – 70 phần trăm trước khi họ tăng lên tối đa thành 97,5 phần trăm thì họ thấy thoải mái hơn đang từ 20 – 21 phần trăm cho vọt thẳng lên 97,5 phần trăm, đúng không?
– Đúng, nhưng thi với cử, chán muốn chết. Thà đừng thi thố gì nữa còn hơn!
***
Mọi chuyện qua đi, ít lâu sau tôi được đổi về một trường tại Sài Gòn nên không biết ở tỉnh có còn cái vụ “đạt thành tích cao, nắm ngọn cờ đầu toàn quốc” như trước nữa hay không.
Thế rồi thời gian trôi qua, có lẽ khoảng 10 hay 12 năm tôi không nhớ rõ. Một hôm tôi bị cảm sốt, uống loanh quanh Paracetamol và Panadol mãi không khỏi, bèn ra tế phường khám bệnh.
Bác sĩ còn khá trẻ, cỡ ngoài 30 tuổi trông rất quen, sau tôi nhớ ra đó là Nguyễn Văn Quý, học trò cũ của tôi ở D.A khi tôi còn dạy ở đấy. Sở dĩ tôi tôi nhớ mặt, nhớ tên vì Quý học rất kém, lớp 12 A2 Quý học lại do tôi làm chủ nhiệm nên biết rất rõ từng người. Quý kém đến nỗi anh Liêm hiệu trưởng định không ghi tên trong danh sách thí sinh thi tốt nghiệp phổ thông vì sợ làm giảm tỉ lệ học sinh thi đậu của nhà trương. Nhưng vì ông già hay chú bác gì đó của Quý làm lớn trong tỉnh ai cũng biết tiếng nên đành phải cho đi thi. Thế rồi với tỉ lệ thí sinh thi đậu 97,5% của tỉnh, tất nhiên Quý cũng đậu.
Chẳng những thi đậu tốt nghiệp cấp 3 mà Quý còn được học Y khoa tại Đại học Y Dược Sài Gòn. Chúng tôi rất ngạc nhiên. Thi vô Y khoa rất khó, hàng ngàn người mới đậu vài người, làm sao Quý có thể đậu được? Thì ra, Quý học Y khoa theo hệ “học gửi”. Ở Việt Nam hiện nay, Đại học Y Dược đào tạo các bác sĩ theo 3 hệ: Thứ nhất, hệ chính quy, sinh viên thi vào rất khó, học trong 6 năm cộng thêm 1 hay 2 năm chuyên ngành, tức 7 đến 8 năm, loại này rất giỏi. Thứ hai, hệ “học gửi”, không phải thi cử gì cả, chỉ do địa phương chịu đóng mọi chi phí rất lớn cho nhà trường rồi gửi lên học. Các sinh viên “học gửi” này thường ỷ mình là do địa phương quản lý, không bắt buộc phải chăm chỉ như các sinh viên chính quy nên thường lơ là, ít để ý đến việc học. Thứ ba, hệ “đôn cấp”, các y tá hoặc y sĩ trung cấp sau khi đã phục vụ tại các bệnh viện hoặc các phường, xã từ 3 đến 5 năm, nếu được cấp trên cứu xét, gửi lên Đại học Y Dược và cũng chịu các khoản phí tổn giống như sinh viên học gửi thì sau 2 hay 3 năm sẽ ra bác sĩ.
Theo nguyên tắc, các bác sĩ “học gửi” hoặc “đôn cấp” sau khi ra trường sẽ về làm việc tại địa phương, nhưng không hiểu Quý chạy chọt thế nào lại được làm bác sĩ ở Sài Gòn tại phường tôi.
Quý chỉ chiếc ghế trước mặt cho tôi ngồi rồi mở sổ hộ khẩu tôi vừa nộp coi sơ tên tuổi, địa chỉ của tôi và hỏi:
– Hồi trước ông là giáo viên dạy ở trương Cấp 3 D.A phải không?
– Vâng.
– Ông có nhớ tui là ai không?
– Nhớ, Nguyễn Văn Quý, lớp 12 A2 tôi làm chủ nhiệm.
Quý nói có vẻ hãnh diện:
– Ông thấy không, hồi đó mấy giáo viên dạy lớp ai cũng la tui học dở, bây giờ tui cũng bác sĩ như ai chớ có thua kém ai đâu.
Rồi hắn hỏi tiếp:
– Sao nào, thầy bịnh gì nào?
Tôi nói tôi bị cảm sốt, uống Paracetamol và Phanadol mãi không khỏi. Hắn lấy ống thính chẩn nghe ngực, nghe lưng rồi ghi toa cho tôi gồm 3 thứ thuốc tôi nhớ là Dectancyl, Ampiclox và Vitamin C, chữ nguệch ngoạc như người tập viết.
– Ngày uống ngày 3 lần sáng chiều tối, mỗi lần mỗi thứ 1 viên tui đã ghi rõ.
– Vâng, cám ơn bác sĩ.
Tôi cầm cuốn sổ hộ khẩu trên bàn rồi đi như một người hoàn toàn xa lạ.
Buổi tối hôm ấy ăn cơm xong tôi mới uống 1 viên Dectancyl, 1 viên Ampiclox còn Vitamin C để lại vì sợ ban đêm khó ngủ thì cỡ 2 giờ sáng bỗng thức giấc vì bụng đau như cắt. Đau đến mức tôi cứ vừa bóp bụng rên la vừa bò từ trên giường xuống đất vẫn không đỡ đau. Lại ói nữa, trong chất nhớt dãi ói ra có lẫn với máu. Cả nhà sợ hãi nhưng không biết phải làm sao. Mẹ tôi nói: “Hay sang gọi cửa nhờ cô y tá cô ấy qua coi giùm xem sao…”. Nhà tôi định đi, em gái tôi nói: “Để em đi cho”, rồi em tôi đi.
Nhà của cô y tá thường gọi là cô Năm ở cách nhà tôi mấy căn. Lát sau cô sang, cầm theo ống thính chẩn và chiếc túi xách đựng các đồ y tề. Thấy tôi đang bò dưới đất hai tay bóp bụng cho đỡ đau, cô hỏi đau thế nào, tôi cố nín đau kể lại chuyện hồi chiều đi khám bệnh ngoài phường, buổi tối mới uống hai viên thuốc Dectancyl và Ampiclox, cỡ hai giờ sáng bị đau dữ dội lại ói cả ra máu nữa. Cô bóp bóp bụng tôi: “Thôi chết, vậy là bị hai thứ thuốc đó phá bao tử rồi. Tôi chích cho cậu một mũi Atropin đặng đỡ đau rồi phải đưa đi bệnh viện cứu cấp lập tức. Nếu để lâu, trong vòng 3 tiếng đồng hồ nữa, bao tử bể ra, bị xuất huyết nội thì cậu sẽ chết”. Cô chích cho tôi một mũi Atropin sau đó gia đình đưa tôi đi bệnh viện.
Vị bác sĩ tương đối đã lớn tuổi trực phòng cấp cứu tại Bệnh viện Bình Dân đêm ấy lại là học trò cũ của tôi ở Bạc Liêu ngày trước. Anh hỏi nhà tôi: “Thầy là giáo sư dạy tại Trung học Bạc Liêu hồi xưa phải không cô?”. Nhà tôi nói vâng. Anh quay sang tôi: “Em là Hứa Ngọc Xướng, học trò cũ của thầy ở Bạc Liêu hồi đó đây thầy. Thầy đau thế nào phải đi cấp cứu?”. Tôi nói tôi uống lầm thuốc giống như đã nói với cô y tá. Anh Xướng hỏi ngay: “Thầy có đem theo toa thuốc đó không, đặng em biết cách chữa?”. Cũng may là từ hồi chiều về đến giờ tôi vẫn để cái toa thuốc trong túi áo ngực nên lấy đưa ra. Vị bác sĩ coi xong, nói: “Cái thằng cha đó tầm bậy thiệt, bộ vừa nghe lời thầy giảng vừa ngủ gục hay sao mà nó hổng biết Dectancyl và Ampiclox là hai loại thuốc chống viêm, trị cảm sốt rất tốt nhưng không được uống chung với nhau. Nếu uống chung, nó phá bao tử bịnh nhơn sẽ chết”. Rồi anh bảo tôi: “Thầy ói ra máu nghĩa bao tử đã bắt đầu đứt các mạch máu nhỏ rồi đó thầy. Phải mổ ngay nếu không nó bể tung ra, bị xuất huyết nội không cứu được nữa”. “Vâng, tuỳ anh. Nếu cần làm giấy tờ gì nhà tôi ký sau cũng được”. “Dạ”. Xướng phụ với nhà tôi đỡ tôi lên cái giường có bánh xe rồi tự tay anh đẩy đi. Tới phòng nào anh cũng đều nói: “Thầy cũ, thầy cũ, mổ gấp, mổ gấp, làm lẹ giùm”. Chỉ nửa tiếng sau là tôi đã được đưa vào phòng mổ và được cứu thoát…
Thưa quý bạn độc giả, tôi kể lại câu chuyện “Con heo trong hội đồng thi” trên đây không phải để nói xấu hay chỉ trích ai cả mà chỉ muốn thưa với quý bạn rằng vấn đề giáo dục quan trọng như thế đó, nó sẵn sàng “trả đũa” con người ta một cách nhanh chóng, trông thấy nhãn tiền. Trong kỳ chấm thi tôi không làm gì cả, chỉ trông nom cho anh em chấm và liên lạc giữa ban lãnh đạo hội đồng với anh em mà thôi, nhưng đã bị nó quật như vậy. Ngoài ra, một người học trò cũ “thời mới” suýt làm tôi nguy hiểm, một người học trò cũ “thời đó” cứu tôi, cả hai đều là bác sĩ nhưng trình độ của họ khác nhau do hai nền giáo dục khác nhau, đó mới là điều đáng nói phải không thưa quý bạn?
Đoàn Dự