Monday, April 30, 2018

Người Lính Già Không Bao Giờ Chết…(Vũ Thanh Thủy & Dương Phục)


                               Người Lính Già Không Bao Giờ Chết…                                                                                             Vũ Thanh Thủy & Dương Phục

Sáng sớm thứ tư, ngày 18 tháng tư – 2018, như thường lệ, lúc 5 giờ sáng tôi ngồi trước màn ảnh tivi để xem tin tức thời tiết và một vài tin tức thuộc “Breaking News” trước khi lái xe đến phòng gym. Trên màn ảnh hiện ra những chữ “Barbara Bush died at 92…”. Thật ra thì tôi không mấy sửng sốt vì biết Bà vừa từ trong bệnh viện về nhà cách nay chỉ ba bốn bữa vì Bà muốn về với gia đình trong những ngày cuối cùng của cuộc đời chứ không muốn chạy chữa thêm nữa. Không hiểu tại sao tôi có cảm tình đặc biệt với vị cựu đệ nhất phu nhân này. Nói một cách rất đơn giản là tôi thấy Bà hiền mặc dù chỉ thấy Bà trên tivi mà thôi. Mái tóc bạc trắng như cước cùng với da mặt nhăn nheo với nụ cười thật hiền hòa dễ mến khiến tôi thấy kính trọng Bà thêm. Cho đến bây giờ tôi mới biết Bà có một người con gái bị bệnh ung thư và qua đời năm mới ba tuổi. Mái tóc của Bà bạc đi từ ngày đó. Chồng của Bà là cựu tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ, con là cựu tổng thống thứ 43, một người khác là cựu thống đốc tiểu bang Florida…
Tôi không viết bài để ca ngợi Bà Barbara Bush cũng như các thành viên trong gia đình của Bà. Dịp này, tôi xin trích đăng câu chuyện có liên quan đến vị thổng thống thứ 41 của Hoa K và Bà Barbara. Bài này được viết bởi hai nhà báo Vũ Thanh Thủy và Dương Phục và được đang trên tờ Sài Gòn-Houston tháng 1 – 2010.
Phong Châu
                                                                                ***
Tạp chí cuối tuần xin được kể câu chuyện về hai người lính già, một Việt một Mỹ. Cả hai đã từng một thời theo đuổi chung lý tưởng bảo vệ tự do dân chủ, tình cờ gặp nhau trong một cảnh huống đặc biệt và diệu kỳ như một cơ duyên lạ lùng. Người lính già Việt Nam Phạm Văn Tư, 74 tuổi, một sĩ quan thuộc chiến dịch Phượng Hoàng của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa cho tới những ngày cuối tháng tư 1975, sau đó ở tù 10 năm trong các trại tập trung cải tạo của cộng sản, và định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình H.O năm 1992.
Người lính già Hoa Kỳ, 85 tuổi, Goerge H.W Bush, một cựu trung úy phi công hải quân Hoa Kỳ trong thời thế chiến thứ hai, gia nhập quân đội khi mới 18 tuổi và trở thành người phi công hải quân trẻ tuổi nhất trong lịch sử nước Mỹ, sau trở thành tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ từ năm 1989 tới 1993.
Ông Tư làm việc tại chiến dịch Phượng Hoàng, được huấn luyện bởi Cục Trung Ương Tình Báo VNCH và tài trợ bởi cơ quan Tình Báo Trung Ương CIA của Hoa Kỳ, nơi mà sau năm 1975, ông George Bush được tổng thống Gerald Ford bổ nhiệm làm giám đốc để củng cố uy tín và hồi phục lại hiệu năng cao độ của cơ quan tình báo nồng cốt của nước Mỹ. Khi đó Miền Nam Việt Nam đã mất vào tay cộng sản bắc việt và tòan bộ nhân viên chiến dịch Phượng Hoàng kẹt lại Việt Nam đều bị nhà cầm quyền cộng sản trù dập và thời gian tù tội lâu hơn mọi quân nhân ngành khác. Lý do vì chiến dịch Phượng Hoàng được thành lập chỉ nhằm mục đích ruồng bắt và tiêu diệt hệ thống hạ tầng cơ sở của mặt trận giải phóng miền Nam chuyên đưa quân du kích cộng sản trà trộn vào các tầng lớp xã hội miền Nam Việt Nam. Trong thời gian từ 1967 tới 1972 chiến dịch Phượng Hoàng  đã làm tê liệt hơn 81,000 quân cộng sản hoạt động trong miền Nam Việt Nam và ngăn chận được những  vụ tấn công tương tự như cuộc tấn công Tết Mậu Thân của quân cộng sản.
Ở hai đất nước khác nhau, nhưng phục vụ chung một lý tưởng chống cộng sản, tuy thời điểm phục vụ khác biệt nên không có cơ duyên gặp nhau, nhưng là một sĩ quan chung thủy với đất nước và đồng đội, ông Tư vẫn mang lòng mến phục ông Bush và Đảng Cộng Hòa một cách đặc biệt.. Khi được đến Hoa Kỳ theo chương trình H.O, tình cảm yêu mến ông Bush trong lòng ông Tư còn nặng thêm ơn nghĩa. Ông Tư cho rằng chính nhờ sự vận động mạnh mẽ của ông Bush, là người phi công trong thế chiến thứ hai xả thân đi cứu đồng đội lâm nạn và chủ trương không bỏ rơi chiến hữu, mà ông Tư cùng hàng trăm ngàn cựu quân, cán, chính VNCH tới được Hoa Kỳ dưới dạng H.O. 
Trong tháng cuối cùng  năm 2009, ông Phạm Văn Tư phải vào bệnh viện sau biến chứng ung thư thyroid mắc phải từ 8 năm qua. Trong những ngày chót của năm, ông Tư nằm tại nhà thương M.D Anderson, lúc mê lúc tỉnh. Dù sự sống của ông thoi thóp dựa vào ống dưỡng sinh nhưng bản năng chiến sĩ trong con người ông Tư vẫn kiên trì chiến đấu với con bệnh, tới độ sau khi y học bó tay, ống dưỡng sinh không còn hiệu quả, ông Tư vẫn không chịu đầu hàng số phận.
Đúng ngày Tết Dương Lịch 1-1-2010, ông Tư chợt tỉnh lại. Dù không nói được nhưng mắt ông nhận biết con cháu và môi luôn mỉm cười theo những câu chuyện của gia đình. Chỉ được một ngày đầu năm, đêm đó ông chìm vào cơn mê man và bác sĩ báo cho gia đình biết ông khó có hy vọng tỉnh lại. Vợ con ông và gia quyến tụ tập quanh giường bệnh chờ giây phút cuối cùng xảy tới.
Ngày hôm sau lúc 2 giờ trưa thứ bảy 2 tháng 1, cả bệnh viện M.D Anderson nhốn nháo tỏa ra hành lang khi nhìn thấy cựu tổng thống Bush và đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ Barbara Bush xuất hiện tại bệnh viện. Ông Bush 85 tuổi, tướng đi dáng đứng còn vững chãi nhưng đã phải chống gậy để việc đi lại được an toàn. Hai ông bà Bush đến bệnh viện thăm người thân nằm gần phòng của ông Tư. Cùng với ông bà có 4 nhân viên mật vụ đi cùng để bảo vệ.
Gia đình ông Phạm Văn Tư theo sự ồn ào bước ra hành lang. Nhìn thấy tổng thống Bush, người mà ông Tư luôn  nhắc nhở gia đình phải biết ơn vì đã góp phần cứu mạng dân H.O, con cháu ông Tư muốn xin chụp một tấm hình với ông bà để làm kỷ niệm. Quỳnh Thi (*), con dâu út của ông Tư tiến đến ngỏ ý này với nhân viên mật vụ. Họ nói ông bà Bush rất bận, sẽ phải đi ngay, không thể chụp hình được. Khi Quỳnh Thi nằn nì, nhân viện mật vụ nói hãy hỏi ông Bush. Trong khi chờ hỏi, nhân viên mật vụ bắt gia đình ông Tư đưa họ kiểm soát máy chụp hình. Không ai mang máy, chỉ có chiếc điện thoại cầm tay dùng thay máy ảnh. Mật vụ bảo gia đình ông Tư đứng sắp hàng sẵn ngay hành lang, để nếu tổng thống cho phép, sẽ chỉ ngừng lại 1 phút để kịp bấm một tấm hình.
Nhưng mục đích thực sự của gia đình ông Tư là không phải xin được chụp hình với cựu tổng thống Bush. Khi được phép hỏi ông Bush, Quỳnh Thi nói cha cô là một chiến binh Việt Nam Cộng Hòa và đã từng bị ở tù cộng sản 10 năm, rất mến mộ ông Bush và cám ơn ông đã giúp đưa ông Tư và các đồng đội đến Hoa Kỳ. Cô xin ông một món quà đặc biệt cho người chiến binh đang hấp hối: đến thăm cha cô và chào ông một tiếng như một lời chúc lành cho ông Tư và gia đình.
Tổng thống Bush ngần ngại. Nhưng khi nghe Quỳnh Thi nói cha cô là một chiến sĩ không ngừng chiến đấu, trước đây thì chiến đấu bảo vệ tổ quốc, bây giờ vẫn tiếp tục chiến đấu chống cơn bệnh ung thư suốt 8 năm qua. Ông Bush chấp thuận. Tuy nhiên, ông nói chỉ có thể đến đứng tại cửa phòng và just say hello thôi.
Ông Bush đứng lại tại cửa nhìn vào phòng. Chợt ông làm mọi người ngạc nhiên khi bỗng chống gậy đi thẳng đến giuờng ông Tư. Y tá đưa chiếc áo khoác và khẩu trang cho ông Bush, nhưng ông khoác tay từ chối. Ông Bush đi vào phía trái ông Tư và đứng nhìn. Ông Tư khi đó đang nằm quay mặt về phía bên phải nên ông Bush không nhìn được mặt. Ông chống gậy đi vòng trở lại cuối giuờng rồi vòng qua bên phải. Vừa đi ông vừa đưa tay sờ bàn chân ông Tư, vuốt cánh tay và ngực ông Tư.
Trí, con trai út của ông Tư đứng cạnh đầu giường, lay cha miệng gọi… “Ba ơi! Ba ơi! có tổng thổng Bush tới thăm Ba nè. Tổng tống Bush mà Ba nhắc hoài đó. Tổng thống tớí thăm Ba đây.” Tổng thống Bush giang hai tay nhẹ nhàng đẩy Trí sang một bên để giành chỗ cạnh ông Tư. Ông nhìn ông Tư một cách trìu mến, rồi đưa bàn tay vuốt lên trán và má ông Tư, miệng dịu dàng chào “Hello Fighter! (Chào người chiến sĩ!)
Một điều không ai ngờ, đang từ cơn hôn mê, ông Tư bỗng mở mắt nhìn ông Bush, rồi mở lớn hơn, đầy vẻ vui mừng và cảm động. Rồi ông nhoẻn miệng cười. Gia đình ông Tư cuống quýt trước sự nhiệm mầu, vui mừng và rối rít gọi Ba. Tổng thống Bush ra hiệu cho gia đình yên lặng. Ông tiếp tục vuốt trán ông Tư trong nhiều phút đồng hồ. Sau đó ông chào ông Tư rồi đi ra. Tới cửa ông dừng lại bên bà Bush, cả hai ông bà tiếp tục chuyện trò hỏi thăm gia đình.
Cũng ân cần như chồng, bà Bush dịu dàng hỏi ông Tư bị tù năm nào. Khi biết từ năm 1975 tới năm 1985, bà nói thời gian 1975 ông Bush đang là đặc sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc và rất lo lắng cho số phận của Miền Nam Việt Nam và quân đồng minh Việt Nam Cộng Hòa. Bà kể ông Bush nóng lòng nói nước Mỹ làm sao cứu cho được các chiến hữu đồng minh của mình. Sau đó hai ông bà bắt tay từng người trong gia đình ông Tư, chúc gia đình mùa lễ hạnh phúc rồi ra về.
Từ giây phút đó ông Tư tỉnh táo hẳn lại, ánh mắt sáng rỡ nhìn gia đình đầy vẻ cảm động và hài lòng. Ông gật đầu khi các con hỏi “Ba có vui không? Có biết đó là tổng thống Bush không? Có thấy đó là cơ duyên hãn hữu của gia đình hay không?
Đêm đó sau khi người em gái ông Tư từ California qua tới Houston lúc nửa đêm, ông vẫn tỉnh táo và siết mạnh tay người thân. Đến khoảng gần sáng ông dần thiếp đi và hôn mê luôn, không còn tỉnh lại cho đến khi thở hắt ra ba hơi nhẹ nhàng và êm đềm ra đi vào lúc 4 giờ sáng ngày thư hai, 4 tháng 1.
                                                         ***
Câu hát “Người lính già không bao giờ chết - họ chỉ tan biến đi” (Old soldier never die, they just fade away…) nổi tiếng của người lính Mỹ  hay được nhắc lại mỗi lần các quân nhân tưởng niệm một chiến hữu đã nằm xuống hay tiễn một người lính  về hưu, như thống tướng Douglas Mac Arthur của nước Mỹ đã nói lời này để giã biệt Quốc Hội Mỹ khi ông về hưu. Câu hát này hôm nay như được vang lên dạt dào trong bối cảnh gặp gỡ diệu kỳ giữa hai người lính già cùng theo đuổi lý tưởng đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản.
Tấm lòng “người lính” của cựu tổng thống Hoa Kỳ George H.W Bush – tấm lòng yêu thương đồng đội và không bỏ quên chiến hữu- đã không hề phai nhạt, dù ông giã từ vũ khí đã hơn nửa thế kỷ qua. Tấm lòng “người lính” tình báo Phạm Văn Tư – với tâm hồn chung thủy và quảng đại – vẫn nặng lòng biết ơn người bạn đồng minh, tin rằng dù phải bỏ nhau nửa đường vì áp lực chính trị nhưng bạn vẫn mang canh cánh  bên lòng nỗi ngậm ngùi cho các chiến hữu đồng minh đã từng chiến đấu bên mình.
Ông Bush cha – vị tổng thống Hoa Kỳ thứ 41 được lịch sử nêu danh về nổ lực đem những giá trị đạo đức truyền thống của nước Mỹ vào tòa Bạch Ốc – đã quyết tâm áp dụng những giá trị này để làm nước Mỹ thành một quốc gia tử tế và ân cần hơn. Vị tổng thống này, trong bài diễn văn nhận chức năm 1989 đã hứa hẹn dùng sức mạnh của nước Mỹ thành quyền năng làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn.
Ông đã chung thủy với lời hứa của mình khi, trong một ngày đầu năm tình cờ, ông dừng chân cảm động trước lời yêu cầu của một người Việt Nam xin chúc lành cho người cha đang hấp hối như món quà tử biệt để người cựu chiến binh an lòng ra đi. Từ cái mềm lòng này, ông Bush tiến xa hơn một bước, tìm lại được sự tha thiết của tình đồng đội cùng chiến tuyến, dù khác biệt chủng tộc, ngôn ngữ và địa vị, để ngưng lại thân mật bên người lính già Việt Nam, ân cần cầm tay, xoa trán và dịu dàng lời chào chiến hữu.
Có lẽ là hình ảnh ân cần tử tế của cựu tổng thống Bush là món quà tiễn biệt đẹp nhất của cuộc đời trần thế đưa ông Phạm Văn Tư vào cõi vĩnh phúc. Bao năm chiến đấu nhọc nhằn, bao năm tù đày khổ ải, bao năm lao động mỏi mệt dường như không còn để lại vết tích buồn thảm nào nơi lòng ông Phạm Văn Tư trong giây phút cuối đời, dù nước mắt ông có tràn ra nơi khóe mắt. Vì cùng với giọt nước mắt xúc động là nụ cười vui thỏa khi ông nhìn thấy khuôn mặt dịu dàng bình an của cựu tổng thống nước Mỹ, người lính già George H.W Bush đã ghé mặt chào tiễn người đồng minh cũ của mình trong buổi chiều Tết Dương Lịch 2010.
Quả thật, “tình người lính già không bao giờ chết được…”. Cho dù họ là cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tỵ nạn cộng sản Phạm Văn Tư đang đối diện cái chết, hay là vị tư lệnh tối cao của toàn nước Mỹ như cựu tổng thống George H.W Bush!
Vũ Thanh Thủy & Dương Phục
(*) Quỳnh Thi là ái nữ của PC
            
                                 Quỳnh Thi gặp cựu TT George H. Bush ngoài hành lang bệnh viện

                       
                                    Ông bà Bush chuyện trò với con và vợ của ông Phạm Văn Tư

 Cựu TT Bush sờ trán và thăm hỏi ông Phạm Văn Tư

                                  
Ông Phạm Văn Tư mở mắt nhìn vị tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ
                                                                                                                           Góp thêm: Bà Barbara Bush mất ngày 17 tháng tư – 2018. Ba hôm nay tại thành phố Houston, người ta sắp hàng để vào viếng thăm lần cuối vị cựu đệ nhất phu nhân của Hoa Kỳ tại nhà thờ St. Martin’ Episcopal Church. Tại tòa thị chánh cũng có buổi lễ tưởng niệm trọng thể để vinh danh và ca ngợi những đức tính cao đẹp tuyệt vời của vị đệ nhất phu nhân. Ngày thứ sáu, 20 tháng tư, số người đến viếng càng đông từ trưa cho đến 12 giồ khuya. Sáng hôm sau, thứ bảy, đám tang sẽ được cử hành tại thành phố College Station – nơi có thư viện và trường học được mang tên vị tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ. Chỉ có 1,500 người được mời dự tang lễ.
Vài mẩu chuyện nghe và đọc được trong ba ngày qua nói về Bà Barbara Bush.
1.      Bà Barbara Bush là đệ nhất phu nhân thời vào tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ, đồng thời cũng là mẹ của vị tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ. Trường hợp này giống Bà John Adams là đệ nhất phu nhân thời tổng thống John Adams, vị tổng thống thứ nhì của Hoa Kỳ và cũng là mẹ của vị tổng thống thứ 6 của Hoa Kỳ là John Quincy Adams.
  2.   Bà là người rất khiêm tốn và gian dị trong cách ăn mặc, trang sức. Bà không bao giờ mặc những trang phục đắt tiền như các vị đệ nhất phu nhân khác. Bà thường chỉ đeo các chuỗi hạt trai màu trắng quanh cổ. Có người hỏi tại sao thì Bà trả lời là một phần để che bớt các đường nhăn trên cổ của Bà.
3.  Hai ông bà cựu tổng thống và đệ nhất phu nhân sống tại thành phố Houston, trong khu Memorial mà người ta nói là khu của những người giàu có sang trọng. Khu vực này luôn có cảnh sát riêng để giữ gìn sự an toàn cho cư dân trong vùng. Nhà cửa ở đây dĩ nhiên là đắt cỡ từ 3 - 4 triệu trở lên. So sánh thế này cho dễ: bạn nào ở Cali có căn nhà khoảng 6 - 7 trăm ngàn, thì nhà đó ở Houston chỉ khoảng hai trăm ngàn là cùng. Nghe kể rằng nếu trong khu vực này có nhà để bảng bán, người “da trắng” vào hỏi thì họ tiếp, nhưng khách muốn mua là người “da màu” đến hỏi thì được trả lời nhà đang đang ngả giá (pending). Da màu đi chỗ khác mà mua.
4. Hai ông bà George Bush thường hay đi ăn ở một tiệm Pizza nổi tiếng trên đường Westheimer, góc Fondren. Riêng tại thành phố Ryan, gần College Station, ông bà thường ăn ở tiệm có người chủ tên là Christopher, lúc nào cũng ngồi ở một chiếc bàn ở góc gần cửa ra vào. Theo lời chủ quán thì ngồi ở đây hai ông bà có thể nhìn thấy tất cả mọi người trong nhà hàng (riêng tôi: đây là cách sắp xếp để hai ông bà ngồi cho an toàn của những người mật vụ). Hai ông bà lúc nào cũng thân thiện với mọi người và đặc biệt nhất là, sau khi ăn xong, ông bà đều vào sau nhà bếp để cám ơn những người nấu nướng các món ăn.
5. Sau khi Bà Barbara mất, trên các xa lộ toàn nước Mỹ người ta đã dựng lên 470 tấm Billboards để tưởng nhớ vị đệ nhất phu nhân, trên đó nổi bật là chuỗi hạt trai mà Bà vẫn đeo trên cổ mọi lúc mọi nơi.



Sunday, April 29, 2018

Dự luật mới tại California nhằm bảo tồn di sản của người tị nạn Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ


Dự luật mới tại California nhằm bảo tồn di sản của người tị nạn Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ
Nguyễn Tuấn
2018-04-27
Nghe: https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/senate-bill-895-historic-legislation-for-the-vietnamese-community-in-usa-04272018154530.html/sb895.wav
Dự luật SB895
Dự luật SB895 được đệ trình vào tháng Giêng năm 2018, nhằm đòi hỏi Ủy Ban Soạn Thảo Chương Trình Giảng Dạy Tiểu Bang California (IQC) thiết lập một chương trình giảng dạy về Cuộc chiến Việt Nam Cộng Hòa và những đau thương mất mát của người tỵ nạn trên đường tìm hai chữ tự do, đưa vào tất cả các học khu khắp tiểu bang California, tiểu bang có đông người Việt sinh sống nhất tại Hoa Kỳ.
Ngày 25/4 vừa qua, rất đông các thành viên Cộng đồng Người Việt khắp tiểu bang California đã có mặt tại Quốc Hội Sacramento để ủng hộ Dự Luật SB895 của Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn. Sau khi Ủy Ban Điều Trần nghe về các lý do ủng hộ Dự Luật này từ các thành viên trong cộng đồng người Việt và các Cựu Chiến Binh, Ủy Ban Điều Trần Thượng Viện đã đồng chuẩn thuận thông qua Dự Luật SB895.
Thông cáo báo chí được văn phòng Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn đưa ra cho biết về tầm quan trọng của việc gìn giữ những câu chuyện trung thực của người Việt Tỵ Nạn trong chương trình giáo dục lịch sử cho tất cả trường học tại California và cần phải hành động ngay để bảo vệ trước khi các chứng nhân cũng như dữ kiện bị thất thoát theo thời gian.
Chúng ta đến đây vì hai chữ tự do và chúng ta rất hy vọng con cháu chúng ta hiểu giá trị của hai chữ tự do quan trọng như thế nào.
-Thị trưởng. Tạ Đức Trí
Anh Việt Nguyễn một cư dân đang sinh sống tại khu vực thành phố Westminster, tiểu bang California cho chúng tôi biết: “Nếu đạo luật thành công thì không những tụi cháu, tụi con mà toàn thể người việt tại california và cộng đồng bạn bè cũng biết đến lịch sử của ông cha ta cũng như tại sao người việt chúng ta phải vượt biên vượt biển qua bên này để tìm tự do.”
Sau khi Ủy Ban Điều Trần Thượng Viện đồng chuẩn thuận thông qua, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn cho biết dự luật SB895 sẽ được chuyển sang Ủy Ban Chuẩn Chi Thượng Viện để xem xét vào tháng năm tới đây. Đây cũng được xem là bước quan trọng trong tiến trình lập pháp. Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn kêu gọi cộng đồng người Việt Tỵ Nạn tiếp tục ký tên vào Bản Kiến Nghị.
Dự luật này được sự ủng hộ khá lớn từ các vị dân biểu dân cử tại California. ông Tạ Đức Trí thị trưởng thành phố Westminster, tiểu bang California Trong buổi họp báo nói về dự luật SB895 hồi tháng giêng năm 2018, ông chia sẻ về dự luật này:
“Người việt chúng ta tới đây bằng hai chữ tự do và hơn bốn thập kỷ qua, tất cả chúng ta đều có những câu chuyện, những kinh nghiệm của mình, nhưng kinh nghiệm đau thương hy sinh của những người đi trước, hy sinh của các chiến sĩ VNCH, chúng ta đến đây vì hai chữ tự do và chúng ta rất hy vọng con cháu chúng ta hiểu giá trị của hai chữ tự do quan trọng như thế nào.”
Cuộc chiến nhìn từ hai phía
Cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1955 – 1975 là giai đoạn thứ hai và cũng là giai đoạt được xem là khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh trên chiến trường Đông Dương. Đây là cuộc chiến giữa một bên là Việt Nam Cộng Hòa với sự viện trợ từ Hoa Kỳ và một bên là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được sự viện trợ quân sự từ các nước Liên Xô và Trung Quốc.
Cuộc chiến này được Mỹ gọi là chiến tranh Việt Nam vì chiến sự chủ yếu diễn ra tại Việt Nam nhưng đã lan tỏa ra toàn khu vực Đông Dương đã lôi cả hai nước Lào và Campuchia vào vòng chiến nhưng ở những mức độ khác nhau. Cuộc chiến này chính thức kết thức vào ngày 30/4/1975. Hoa Kỳ rút toàn bộ lực lượng quân sự và di tản ra khỏi Đông Dương sau sự kiện này.
Sau ngày 30/4/1975, hàng triệu người dân Việt Nam đã tìm cách vượt biên để rời khởi Việt Nam sang các nước khác bằng nhiều hình thức khác nhau trong đó đường biển là chủ yếu.
Khi chưa có chiến tranh, miền Nam trù phú, sung túc lắm, xuất cảng rất là khá, đời sống rất cao, được ví là hòn ngọc Viễn Đông.
- Nhà báo Nam Nguyên
Tại Việt Nam, chính quyền Hà Nội đã đưa thông tin truyền thông và sách vở vào trường học để dạy cho học sinh về cuộc chiến này với tên gọi Kháng chiến chống Mỹ hay Kháng chiến chống Mỹ cứu nước và khẳng định cuộc chiến là của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của Mỹ.
Còn theo ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo của RFA với bút danh Nam Nguyên, đồng thời ông cũng là một trong những phóng viên thời chiến tranh Việt Nam trong lần trả lời phỏng vấn gần đây với đài RFA thì cho rằng cuộc chiến này không phải là chống Mỹ cứu nước.
Tôi nghĩ là trong lúc học các bạn tin vào những câu chuyện như vậy. Tôi không nghĩ là chống Mỹ cứu nước, Việt Nam Cộng Hòa khi đó được thành lập và được viện trợ từ Hoa Kỳ để xây dựng lại đất nước. Khi chưa có chiến tranh, miền Nam trù phú, sung túc lắm, xuất cảng rất là khá, đời sống rất cao, được ví là hòn ngọc Viễn Đông”.
Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc 43 năm về trước và đã khiến hơn hai triệu người Việt Nam thuộc cả hai phía Nam Bắc và 58.000 người Mỹ thiệt mạng. Cuộc chiến này cũng từng được ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ tướng của Việt Nam sau này nói rằng đã khiến hàng triệu người vui và hàng triệu người buồn.


Việt Nam: Nhịn và giới hạn chịu đựng


Việt Nam: Nhịn và giới hạn chịu đựng
Nguyễn Hà HùngGửi tới BBC từ Hà Nội
Di chuyển tại Hà Nội và nhiều thành phố lớn trên đất nước xinh đẹp này, nhiều người nhịn thở vì mùi hôi thối. Nhịn là một phản xạ tự nhiên, khi sợ, khi không thể làm khác.
Sống nhịn là một phương châm cản trở sự phát triển xã hội Việt Nam. Thật nguy hiểm khi cả cộng đồng mặc kệ rác rưởi ung dung phát tán mầm bệnh đến giống nòi và kiên trì tô điểm bộ mặt dân tộc. "Một điều nhịn, chín điều lành" là một triết lý khiếm khuyết. Rất dễ nhận thấy điều đó, khi xét đến yếu tố nghĩa vụ công dân, hay chỉ số hữu ích cho cộng đồng. Càng áp dụng nó rộng rãi, càng nhiều người thực hành, càng tồn tại lâu, càng bộc lộ hư hỏng.
'Càng nhịn càng tốt'
Điểm yếu cơ bản của triết lý nêu trên là nhấn mạnh lợi ích bản thân và gia đình. Nó không đề cập, không khuyến khích trách nhiệm, bổn phận cá nhân đối với cộng đồng, ứng xử theo luật pháp. "Chữ nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu", tục ngữ Việt Nam. Đọc Khúc ca trăm chữ nhẫn, (Bách nhẫn ngâm, một kinh điển nhường nhịn, xuất bản tại Việt Nam từ thế kỷ 19 bằng chữ nôm), đối tượng hưởng lợi từ thái độ và hành vi nhẫn nhịn cũng là cá nhân, gia đình người thực hành, rộng nhất chỉ là bạn bè của họ. Vì được cổ xúy, nhiều người tin càng nhịn càng tốt.
Một xã hội nhịn, mọi người sống theo phương châm bưng mắt (nhẫn mục), bịt tai (nhẫn nhĩ), không lên tiếng (nhẫn khẩu), đấu tranh với ngang trái thì bất công tồn tại công khai. Nó không bị đe dọa, không đối mặt nguy cơ bị loại bỏ. Không lên tiếng thì không biết khi nào không gian sống của chúng ta sạch sẽ, tránh sao được "Việt Nam có số lượng bệnh nhân ung thư nhiều nhất thế giới". Nếu không có điều kiện trải nghiệm phố phường Hà Nội, xin đọc bài "Sáng nay, nhiều tuyến đường ở Hà Nội bỗng dưng bốc mùi thối khủng khiếp khiến người đi đường kinh hãi" đăng trên trang điện tử thuộc Thế giới di sản, hay bài "Rác thối xộc vào mũi, nín thở đi trên đường Hà Nội" trên Vietnamnet và nhiều bài khác.
Người Việt đã nhịn rất lâu. Từ thời bao cấp, nhịn đói, nhịn khát đã đành, ở nhà nhịn ỉa, đi học nhịn đái, yêu cũng nhịn. Vì không có chỗ, không chịu nổi chuồng xí xú uế. Nhịn lâu quá, kiên định "không chịu phát triển". Bo bo lo giữ mình và gia đình, bỏ mặc cộng đồng. Người Việt chỉ quét nhà mình, vứt rác dọc đường, nên phố bốc mùi thành chuyện nhỏ, chuyện của người khác. "Khi nào họ đổ rác vào nhà mình hẵng hay". Vì con người thờ ơ, quan niệm và lối sống vị kỷ, những điều vô lý nghiễm nhiên tồn tại, thu phí bò ăn cỏ, vịt ra đồng. Đường ống nước sạch (nước ăn) vỡ đến hơn 20 lần cũng ngó lơ, chừng nào vỡ ống nhà mình hãy nói. Đánh thuế nhà có giá trị từ 700 triệu đồng ư? Mới chỉ là dự thảo thôi. Cứ từ từ.
Cho rằng, "nếu không nhịn, làm sao giữ được hòa khí?", ý kiến này đặt không khí bình lặng, ổn định lên trên, không kể đúng - sai. Theo lẽ đó, người chăn vịt cứ nhẹ nhàng nộp phí, cán bộ cứ nhẹ nhàng thu tiền của dân, người chứng kiến cứ nhẹ nhàng "hết sức bình tĩnh", bố mẹ cứ nhẹ nhàng mất ngủ, hàng xóm cứ nhẹ nhàng "chuyện nhỏ", người đọc cứ nhẹ nhàng lướt sang tin khác, vợ cứ nhẹ nhàng thức đêm kiếm việc làm thêm, con cái cứ nhẹ nhàng "học tăng cường" năm này qua năm khác. Cái sai cứ nhẹ nhàng sống khỏe, sống lâu, rút kinh nghiệm sâu sắc.
"Nếu không nhịn, để cảm xúc chi phối làm đầu óc tăm tối, không phân biệt được phải - trái, phạm sai lầm". Quan điểm này cũng không đầy đủ. Thay vì nêu ý kiến của mình đứng về phía nào, bảo vệ lẽ phải hoặc lên án cái xấu, nó vẫn chú trọng quản lý cảm xúc bản thân, làm họ thiếu tự tin, trở nên yếu đuối, thậm chí nhu nhược. Nó làm cho người thực hành tin rằng, việc khống chế cảm xúc của mình là quan trọng nhất, thậm chí là nhiệm vụ duy nhất. Nó biến cái sai của người thành cái sai của mình. Khi ống nước ăn vỡ, ngay từ lần đầu, phải bày tỏ ngay lập tức, ngăn chặn tái diễn, chứ không chờ vỡ hết lần này đến lần khác.
Chúng ta đã sống gần hết thập niên thứ hai thế kỷ 21, đang nhiệt liệt biểu dương tinh thần cách mạng công nghệ 4.0, nhiều thành phố lớn là đầu tàu cả nước, chúng ta không thể để tình trạng nhà nhà trồng rau, người người nuôi lợn, tự cung tự cấp cho mình do thực phẩm nhiễm độc tràn lan. Nhẫn nhịn bỏ qua mọi thứ biến con người trở nên vô cảm, "nhẫn tâm" để cái bất hợp lý, cái ác trong xã hội thành chuyện đương nhiên. "Một nhịn, chín lành" chỉ phù hợp phần nào trong không gian hẹp, cách sống này không tạo xung lực để xã hội phát triển. Người trưởng thành là người có trách nhiệm với cộng đồng, với môi trường sống. Xã hội văn minh là nơi con người sống theo luật và đặt luật pháp trên tất cả.


Xứ "Thiên đường" và "cuộc giải phóng"


X "Thiên đường" và "cuc gii phóng"
J.B Nguyễn Hữu Vinh
2018-04-28
Ngày 27/4/2018, hai nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) đã bắt tay nhau, hứa hẹn một hiệp ước chấm dứt chiến tranh trong năm nay.
Hai kẻ thù địch đã từng không ngại ngần dành cho nhau những ngôn từ thù địch, gọi nhau bằng những hỗn danh không mấy đẹp đẽ và thể hiện cho thiên hạ biết họ có thể nhai tươi xé xác nhau nếu có thể.
Họ cũng đã từng nã súng vào nhau và đe dọa biến một nửa đất nước thành tro bụi, chi biết bao nhiêu sức dân, tiền của để diễu võ dương oai đe dọa lẫn nhau dù người dân Bắc Hàn đang chết đói.
Nay đã tươi cười bắt tay nhau hứa hẹn một sự hòa bình.
Sự kiện này trùng vào những ngày Việt Nam đang hô hào kỷ niệm "Chiến thắng 30/4, giải phóng Miền Nam" gợi lại cho người ta nhiều suy nghĩ.
Thiên đường và địa ngục
Khi thế giới chia phe, hệ thống cộng sản đang trên đà phát triển làm mưa, làm gió gây bao tại họa trên thê giới, nhiều đất nước đã là nạn nhân của nó.
Trừ những đất nước hứng trọn những cuộc chiến tranh, những đất nước đã hoàn toàn nằm trong cơn bão cộng sản, rồi thoát ra và từ bỏ nó sau khi đã thấm đòn đại họa ấy, thì vẫn có những đất nước bị chia cắt bằng những cuộc chiến tranh hoặc phân chia ranh giới, giới tuyến. Thế rồi những người đồng chủng, đồng huyết trở lại trở thành kẻ thù của nhau, và xương máu lại cứ vậy mà đổ theo năm tháng.
Những đất nước bị họa cộng sản chia cắt có thể kể đến như Đức, Triều Tiên, Việt Nam và Trung Cộng.
Sở dĩ chúng ta nói rằng việc chia cắt là do đại họa cộng sản, dù ở đó có đủ cả hai bên. Chỉ vì những sự chia cắt đó,có nguyên nhân là sự tồn tại của cộng sản. Bởi sau đó, khi người dân đã hiểu ra thế nào là cộng sản, thế nào là dân chủ, thì họ sẵn sàng vứt bỏ và bằng mọi cách để trốn khỏi "Thiên đường Cộng sản".
Cộng sản bằng hệ thống tuyên giáo hùng hậu thường xuyên tuyên truyền về chế độ và đất nước Cộng sản như một "thiên đường nơi trần thế" với những chiếc bánh vẽ mang tên "Ngày mai". Thế rồi họ lại đánh tráo khái niệm tạo nhầm lẫn giữa cái "Ngày mai" và cái hiện tại, để ca ngợi cuộc sống khốn khó ở các vùng cộng sản như là khuôn mẫu và là mơ ước của loài người.
Ngược lại, cũng qua hệ thống tuyên truyền cộng sản, thì tại các lãnh thổ khác không cộng sản, chỉ có nghèo đói, lạc hậu, man rợ và... không đáng sống.
Thế nhưng, thực tế được sáng tỏ hơn sau khi bức màn sắt vây kín những vùng cộng sản cách biệt thế giới bên ngoài được gỡ bỏ.
Khi đó, cả đất nước, cả dân tộc giật mình.
Điều có thể nhìn thấy trước mắt không thể chối cãi, là cùng một dân tộc, cùng một màu da, cùng điều kiện thiên nhiên, địa lý và con người. Nhưng hễ vùng nào theo cộng sản, thì ở đó hiện diện sự nghèo đói, khốn khổ, lạc hậu và con người không còn nhân phẩm bởi quyền con người không được hiện diện.
Cùng là người Hán, nhưng thử nhìn xem vùng đại lục của Trung Cộng và Đài Loan, Hong Kong, Ma Cao là những nơi mà "bọn tư bản giãy chết" đã "cai trị nhân dân lao động" thì cuộc sống kinh tế, xã hội cũng như đời sống người dân hai bên ra sao.
Thử nhìn xem, cuộc sống của người dân Đông Đức và Tây Đức như thế nào khi một bên theo Chủ nghĩa Cộng sản.
Và hãy nhìn xem, Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, hai miền của một đất nước, cùng một dân tộc, cùng màu da và điều kiện địa lý thì ở đâu mới là địa ngục và ở đâu thật sự là thiên đường.
Và ước mơ của những vùng đó, khu vực đó của người dân là mong rằng sớm có ngày để được có cuộc sống như những người dân đồng chủng, đồng tộc của mình bên kia giới tuyến.
Tôi đã đến Thâm Quyến, một thành phố đặc khu mới xây dựng và phát triển bên cạnh HongKong, Con sông Thâm Quyến ngăn chia giữa hai khu vực chưa đủ, giữa sông có cả một bức tường bê tông rất cao và trên đó là hệ thống dây điện trần.
Người dân ở đây cho chúng tôi biết rằng: Khi đất nước Trung Quốc dưới thời Cộng sản sắt máu nhất lính Trung Quốc lập đồn dọc theo bờ sông, sẵn sàng xả đạn bất cứ ai vượt qua ranh giới.
Thế nhưng, hàng năm vẫn có hàng đoàn người từ các làng trong nội địa đại lục, di chuyển ra bờ sông và đổ bộ vượt sông bất chấp mọi nguy hiểm bởi sông sâu, bởi lính xả đạn, bởi điện cao thế. Họ công kênh nhau qua hàng rào để vượt sang "địa ngục" dù cho trăm người chỉ có một ít người thoát.
Cũng bức tường Berlin là nơi đã chứng kiến những người liều mình vượt qua cõi chết để chạy trốn khỏi "thiên đường cộng sản".
Điều đó, hầu như ai cũng biết, kể cả hệ thống tuyên giáo.
Thế nhưng, cái thói dối trá thành bản năng, sự lỳ lợm cố hữu và tính kiêu ngạo cộng sản đã không để cho họ nhìn nhận lại, lấy lợi ích của người dân, của dân tộc và đất nước làm trọng. Họ chỉ giữ chắc cái "chính quyền" mà họ đã cướp được từ tay người dân bằng mọi giá.
Và họ càng không thể từ bỏ cái ngai vàng cướp được để lo cho đời sống xã hội và đất nước.
Và vì thế, họ đày đọa cả dân tộc, cả đất nước chìm vào sự khốn khó, cái chết, sự nhục nhã và tối tăm.
Mặt khác, những người cộng sản luôn mồm kêu gào sẽ tiến hành "giải phóng" người dân ở bên kia giới tuyến. Mới đây thôi, Bắc Triều Tiên còn hô hào toàn dân chuẩn bị "Giái phóng" miền Nam.
Những cuộc "Giải Phóng"
Thế rồi các vùng lãnh thổ, đất nước cũng dần dần được thống nhất, hòa nhập với nhau. Điển hình là giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức.
Hai nước Đức đã sáp nhập ngoạn mục mà không cần tiêu hao một viên súng đạn. Có điều, bên "địa ngục" CHLB Đức đã phải oằn mình để chấp nhận cưu mang và gánh đỡ cho bên "thiên đường" CHDC Đức vốn nghèo đói, lạc hậu và chậm phát triển hơn nhiều lần. Mấy chục năm đã qua, gánh nặng đó vẫn chưa được thanh toán hết.
Các vùng lãnh thổ như HongKong và Macao cũng dần dần được trả về cho Trung Quốc. Tuy nhiên, nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc buộc phải chấp nhận để các vùng lãnh thổ đó một chế độ hành chính khác biệt bởi người dân ở đó không chấp nhận sự thống trị của hệ thống Cộng sản.
Và dù nhiều lầ tuyên bố, dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa... nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc cũng không thể thuyết phục được Đài Loan "trở về" để thống nhất với đại lục. Chỉ bởi mọi người dân nơi đây sợ hãi chế độ "thiên đường cộng sản".
Và giờ đây, Bắc và Nam Triều Tiên cũng bước đầu có những cái bắt tay hữu nghị để nói đến vấn đề hòa bình.
Tuy nhiên, để sáp nhập hay thống nhất làm một, thì chắc chắn bên "địa ngục" Nam Triều Tiên còn phải xem lại nhiều điều. Bởi những hệ lụy khi phải gánh cả một cái "thiên đường" mà ở đó, hàng triệu người dân chết đói thê thảm chỉ để cho cha con họ Kim đua nhau xây lâu đài tráng lệ và ăn chơi xa hoa rồi đổ tiền chế bom dọa cả thế giới cho xứng với danh hiệu "Côn đồ quốc tế" là vô cùng to lớn.
Thế mới hiểu là dù Bắc Triều Tiên có mời sang "xâm lược", thì Nam Triều Tiên đâu dễ đồng ý.
Cho nên, những ngôn từ quen thuộc để tuyên truyền của hệ thống cộng sản như "Đế quốc Mỹ xâm lược" hay chế độ ngụy quyền, giải phóng... đã dần dần bị thực tế bác bỏ thẳng thừng.
Còn ở Việt Nam, sau khi "Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam" mới ký ráo mực được 2 năm, thì miền bên "thiên đường miền Bắc" đã mở cuộc tấn công bằng đại bác, bom đạn, súng và xương máu người dân để... "giải phóng" một vùng lãnh thổ giàu có, văn minh và hiện đại hơn mình rất nhiều lần.
Và ngày 30/4/1975, đánh dấu một "chiến thắng" của bên "thiên đường" trong cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc mà mục đích là bảo vệ cho hai hệ thống tư tưởng khác nhau và đối tượng cũng chính là nạn nhân, là người dân Việt Nam cả hai miền đã phải bỏ mạng hàng chục triệu người.
Qua hệ thống tuyên truyền cộng sản, người dân cứ tưởng rằng, khi họ được "giải phóng" thì người dân sẽ được hưởng cuộc sống "độc lập - tự do - hạnh phúc" như người cộng sản rêu rao.
Nhưng, đã gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày được "giải phóng" người dân không chỉ miền Nam, mà cả đất nước đang đứng trước một tương lai mù mịt về số phận người dân.
Tài nguyên đất nước cạn kiệt bởi dưới sự lãnh đạo "thống nhất, tuyệt đối của đảng" cả hệ thống đua nhau đào lên bán, đua nhau tranh cướp tham nhũng và phá hoại.
Nợ nước ngoài chồng chất, hầu như công việc nhà nước có thể làm, là nghĩ ra đủ các loại thuế, phí, và cướp của dân bằng mọi cách để đổ cho đầy túi đám quan tham chỉ biết ăn tàn, phá hại.
Mỗi người dân được đảng và nhà nước chia đều và để lại cho món nợ nước ngoài hàng chục triệu đồng, tha hồ để làm hồi môn cho các thế hệ sau.
Con người bị tha hóa về mọi mặt, xã hội được "lãnh đạo" bởi hệ thống các "cháu ngoan của Bác" và là "con người mới XHCN" đưa đất nước sang lệ thuộc Bắc Kinh, lãnh thổ dần dần mất vào tay giặc, dân tộc lầm than và bị khinh miệt.
Môi trường sống về vật chất, chính trị, không khí cho đến văn hóa, tư tưởng và tâm hồn luôn bị đầu độc bằng mọi cách. Sự suy đồi được coi là chuyện bình thường, đạo đức xã hội chỉ là một khái niệm.
Đã gần nửa thế kỷ qua đi, nhưng, những thế lực "thắng cuộc" vẫn chưa hả hết cơn thù địch và tàn ác của mình với chính đồng bào ruột thịt chứ chưa nói đến cái bắt tay hoặc câu chào đối với bên "thua cuộc".
Đó là tai họa của dân tộc này, khi sự thù địch vẫn được nuôi dưỡng hằng ngày một cách cực đoan thì đất nước, xã hội không thể tiến bộ.
Và tương lai đất nước, dân tộc mù mịt người dân lại tìm cách thực hiện "Cuộc bỏ phiếu bằng chân" lần thứ 3 với Chủ nghĩa Cộng sản - Chạy ra nước ngoài dù phải làm nô lệ.


Những ngày cuối cùng của VNCH


Những ngày cuối cùng của VNCH
Nam Nguyên, RFA
2015-04-20


Bốn mươi năm trước, vào ngày 30/4/1975, cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 2 thập niên đã kết thúc. Cuộc chiến quốc-cộng đã làm 2 triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc bỏ mạng cùng sự hy sinh của hơn 58 ngàn người thuộc lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh.
Nam Việt Nam lúc đó đã kết thúc sứ mệnh “tiền đồn của thế giới tự do” một cách nhanh chóng và cay đắng. Những ngày cuối cùng của VNCH đã diễn ra như thế nào?
Vỡ trận
Tháng 3/1975 trước thực tế tiềm lực quân sự suy yếu, đạn dược chỉ còn đủ dùng trong 30 ngày, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định tái phối trí lực lượng. Tuy vậy quyết định triệt thoái khỏi cao nguyên Trung phần tức Quân khu II và cách thức mà các tư lệnh chiến trường thực hiện nó là một sai lầm lịch sử. Sự hỗn loạn dẫn tới việc mất luôn cả khu vực Quân khu I ở phía Bắc Việt Nam Cộng Hòa, Huế rồi Đà Nẵng thất thủ và sự sụp đổ dây chuyền kéo dài tới quê hương của Tổng thống Thiệu là Phan Rang.
Trước áp lực từ nhiều phía, ngày 21/4/1975 Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu quyết định từ chức và rời khỏi Việt Nam hai ngày sau đó.
“Thưa đồng bào, anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức tổng thống và theo Hiến pháp, Phó Tổng thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức Tổng thống…”
Khi nhà giáo Trần Văn Hương trở thành vị Tổng thống thứ ba của chế độ VNCH, thì cũng là lúc mặt trận Xuân Lộc tuyến phòng thủ cuối cùng của Saigon đã vỡ, các lực lượng của VNCH can trường chịu thiệt hại nặng và giữ vững được 12 ngày đêm.
Bàn giao - Diễn văn lịch sử
Giữ chức Tổng thống VNCH được 5 ngày và bất lực trước tình hình sụp đổ nhanh chóng, ngày 26/4/1975 Tổng thống Trần Văn Hương yêu cầu Quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hòa bình hòa giải dân tộc. Quốc hội VNCH ra nghị quyết chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh vào chức vụ Tổng thống. Trên thực tế Hiến pháp VNCH đã không còn được thi hành từ thời điểm này.
Chiều 28/4/1975 lễ bàn giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập. Nam Nguyên của ban Việt ngữ RFA lúc đó là Đặc phái viên của Hệ thống Truyền thanh Quốc gia đã thực hiện cuộc Trực tiếp Truyền thanh cuối cùng của mình từ Dinh Độc Lập. Đoạn ghi âm lịch sử mà quí thính giả sắp nghe là những lời của Tổng thống Trần Văn Hương đan xen với tường thuật của Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến thuộc Hệ thống Truyền thanh Việt Nam:
Tổng thống Trần Văn Hương: “…Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của Đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của đại tướng…(vỗ tay)
Phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến : “…Sau khi nguyên Tổng thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu Tổng thống hai con rồng bay xuống…và thay thế bằng một huy hiệu Tổng thống mới với hình một hoa mai năm cánh…Đây là Phóng viên Hệ thống Truyền thanh Việt Nam, quí thính giả đang theo dõi Trực tiếp Truyền thanh lễ trao nhiệm chức Tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu Đại tướng Dương Văn Minh…Thưa quí thính giả vào lúc này bên ngoài dinh Độc lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Saigon đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước…”
Một trong hàng triệu thính giả đã nghe cuộc trực tiếp truyền thanh lịch sử ngày 28/4/1975 là ông Nguyễn Quốc Thái, một nhà báo thuộc nhóm tạp chí Hành Trình, Đất Nước và Trình Bầy. Ba tờ báo này do một nhóm trí thức công giáo được cho là thiên tả chủ trương và có khuynh hướng đối lập với chính phủ. 40 năm sau cuộc bàn giao lịch sử giữa hai vị Tổng thống Trần Văn Hương và Dương Văn Minh, từ Saigon ông Nguyễn Quốc Thái cho biết cảm nhận của ông vào thời điểm chiều 28/4/1975:
“Lúc đó tôi biết mọi chuyện đã xong rồi; có một hiển hiện rõ ràng là tất cả những người có thể giữ lại miền Nam thì đã rời khỏi miền Nam. Đây là một cuộc bàn giao theo sắp xếp, nhưng có người hoang tưởng rằng việc đảm nhận chức vụ đó có thể trao đổi thỏa thuận với phía bên kia là Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam… Nếu nhìn lại cuộc bàn giao đó thì thấy rằng đây là một cái gạch nối quá ngắn, mà chỉ làm một cái việc đã được sắp xếp, đã được hứa hẹn trong hoang tưởng của người nhận trách nhiệm lúc đó.”
Khí tiết Việt Nam: tướng chết theo thành
4 thập niên sau ngày sụp đổ của Miền Nam Tự do dưới danh xưng Việt Nam Cộng Hòa, nhiều tài liệu lịch sử đã được bạch hóa cho thấy Hoa Kỳ chỉ mong muốn việc rút quân của họ được an toàn trong một khoảng thời gian nhất định và thích hợp; tương lai của VNCH hầu như đã được quyết định trong Hiệp định Paris 27/1/1973. Nam Việt Nam rơi vào số phận nghiệt ngã vì bị đồng minh bỏ rơi, những mật ước của Tổng thống Nixon với TT Thiệu đã đi vào quên lãng. Hoa Kỳ đã không can thiệp quân sự khi phía Cộng sản vi phạm Hiệp định Paris lấn chiếm lãnh thổ với những cuộc tấn công qui mô.
Vào những ngày cuối cùng của Nam Việt Nam, Đại tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng; mặc dầu bản thân ông Minh và bộ tham mưu của ông có thể có những người vẫn còn tin vào giải pháp chính phủ liên hiệp như Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Nhậm chức chưa đầy 48 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, tuyên bố của ông được phát đi trên hệ thống Truyền Thanh Quốc gia vào buổi trưa ngày 30/4/1975.
“Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận Lễ bàn giao Chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào…”
Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập đi lập lại lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh, cũng như nhật lệnh tương tự của Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm phụ tá cho Trung tướng Vĩnh Lộc vị Tổng Tham mưu trưởng sau cùng, quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước. Nhiều vị tướng lãnh, sĩ quan cao cấp đã tuẫn tiết sau lệnh đầu hàng như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai…
Xe tăng Cộng sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập, bộ đội xe tăng treo lá cờ của Mặt trận Giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11g 30 trưa ngày 30/4/1975, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Miền Nam tự do hay VNCH là một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản và được Hoa Kỳ hỗ trợ. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hòa và tồn tại được 21 năm. Cuộc chiến Quốc - Cộng giữa những người cùng chung giòng máu nhưng khác ý thức hệ đã làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam-Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58.000 quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ khác của các nước đồng minh như Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.
Tiếp thu dinh Độc Lập
Thưa quí thính giả, cũng là một sự tình cờ lịch sử, khi cờ của Mặt trận Giải phóng đã tung bay trên Dinh Độc Lập, thì các đại diện chính trị của bên Cộng sản chưa vào tới Saigon để tiếp nhận Chính quyền. Do vậy ông Bùi Tín lúc đó là Trung tá trong vai trò một nhà báo Cộng sản Bắc Việt, cũng là người có cấp bậc cao nhất và được bộ đội xe tăng ủy quyền vào Dinh gặp Chính quyền Dương Văn Minh. Ông Bùi Tín hiện nay tỵ nạn chính trị ở Pháp. Năm 2005 từ Paris ông Bùi Tín kể lại giây phút lịch sử khi ông giáp mặt ông Dương Văn Minh và toàn thể nội các Vũ Văn Mẫu:
SB: “ Tôi là người đầu tiên tiếp xúc, ông Dương Văn Minh và tất cả đứng dậy…ông Minh nói là chúng tôi chờ quí vị tới từ sáng nay, đặng chuyển giao chính quyền….Tôi có trả lời là, tất cả chính quyền các ông không còn nữa qua cuộc tấn công của chúng tôi…cho nên không thể bàn giao cái gì đã không còn nữa…”
Do sự kiện cựu Đại tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Nhân dân đã tỵ nạn chính trị khi sang Pháp dự Hội Báo L’humanité năm 1990, kể từ đó báo chí Hà Nội tường thuật những câu chuyện hoàn toàn khác với lời kể của ông Bùi Tín.
Vào những thời khắc sau cùng của chế độ VNCH, chuyện gì xảy ra ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ? Câu hỏi này đã được chúng tôi đặt ra với ông Robert Funsett, người vào thời điểm đó đang là Người Phát Ngôn cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Năm 2005 ông Funsett kể lại với Ban Việt Ngữ chúng tôi như sau:
“Ðúng giờ này, vào chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, giờ Washington tức rạng sáng 30/4 theo giờ Việt Nam, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ Trung Tâm Ðiều Hành ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Phillip Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Ðại Sứ Graham Martin.
Ðại Sứ Martin chưa muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị  ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Tòa Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội. Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.”
Đồng minh bội ước
Sau 4 thập niên từ khi chấm dứt chiến tranh các tài liệu hồ sơ của Tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã được bạch hóa. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa đã được định đoạt và Nam Việt Nam sẽ chỉ tồn tại cho đủ thời gian để Hoa Kỳ rút chân khỏi cuộc chiến một cách an toàn. Đây là một thực tế phũ phàng của lịch sử. Việt Nam Cộng Hòa có cái giá phải trả khi hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ.
Bị Washington cắt viện trợ quân sự và kinh tế, VNCH đơn độc trong cuộc chiến chống cộng. Vào năm 1975 không có nhiều người ở miền Nam tự do thấy trước là số phận của mình đã được các siêu cường sắp đặt. Khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và ra đi, quân dân VNCH chịu nhiều nỗi thống khổ với muôn vàn oán hận ông. 15 năm sau sự sụp đổ của VNCH, xuất hiện tại California Hoa Kỳ năm 1990, cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đăng đàn trả lời chất vấn của cộng đồng người Việt. Sau đây là một trích đoạn những biện giải của ông Nguyễn Văn Thiệu:
“ Tổng Thống Nixon có nói nếu như không có vụ Watergate thì tình trạng Việt Nam không đến nỗi như vậy. Chúng ta tin hay không tin là quyền của chúng ta. Nhưng chúng ta chỉ làm việc trên sự kiện người ta cúp viện trợ quân sự, cúp viện trợ kinh tế, ngoại giao thì áp lực và không có phản ứng mãnh liệt. Trong lúc đó Nga Xô và Trung Cộng thì tăng cường viện trợ cho cộng sản và họ thừa thắng xông lên để xâm chiếm miền Nam đặt thế giới và Hoa Kỳ trước một việc đã rồi. Cho nên tôi phải từ chức, cái hành động mà tôi từ chức ngay lúc đó chính tôi cũng đã thấy khó chịu rồi. Nhưng mà tôi không có một sự lựa chọn nào khác, nếu như tôi còn ngồi thì tôi mang tội với nhân dân, là vì ông còn ngồi mà Mỹ không viện trợ bởi vì ai nấy cũng được cho hiểu như vậy, vì ông còn ngồi mà Việt Cộng không thương thuyết, phải có Dương Văn Minh lên mới được thương thuyết vì ông còn ngồi mà chiến tranh còn triền miên chết chóc. Tôi thấy lịch sử sẽ chứng minh cái đó trúng hay trật, cái đó để cho lịch sử và nhân dân, nhưng bổn phận của tôi là một Tổng thống lúc đó tôi phải ra đi.”
Lịch sử đã sang trang từ 40 năm qua, những người chịu trách nhiệm hay là chứng nhân một giai đoạn lịch sử của VNCH đều đã khuất bóng. Việt Nam đã thống nhất từ năm 1976 nhưng 40 năm qua những người cộng sản chiến thắng đã tự ru ngủ mình, theo cách nói của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
4 thập niên sau chiến tranh, vào tháng 3/ 2015 Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận Việt Nam phát triển quá chậm, kém xa 6 nước sáng lập ASEAN, hiện nay có nhiều lãnh vực còn thua kém cả Lào và Campuchia.
Nước Việt Nam thống nhất đã 40 năm nhưng vẫn còn quá nhiều câu hỏi được đặt ra về sự tụt hậu cũng như vấn đề dân chủ, dân quyền và nhân quyền. Click == >
      Tin, bài liên quan