Video Vĩnh Tường: CHIẾN TRANH QUA TAY TỔNG THỐNG TRUMP
Tuesday, September 22, 2020
Ai Phỉ Báng Dân Tộc? - Trần Trung Đạo
Ai Phỉ Báng Dân Tộc?
Trần Trung Đạo
Joseph
Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc xã, được xem như là một trong
những người áp dụng thành công nhất về kỹ thuật vận động quần chúng, có lần đã
chỉ thị cho các cán bộ tuyên truyền của đảng Quốc xã Đức không nên tổ chức các
phiên họp quần chúng vào buổi sáng sớm. Theo Goebbels, vào buổi sáng đầu óc con
người sáng sủa, sinh lực được hồi phục sau một giấc ngủ ngon, nhờ đó mà ý thức
phản kháng của họ rất mạnh. Họp hành vào ban đêm sẽ đem lại nhiều hiệu quả hơn
vì con người mệt mỏi, sinh lực cạn dần sau ngày dài làm việc và do đó khả năng
phân biệt giữa đúng và sai, giữa thành thật và dối trá cũng yếu theo. Bộ trưởng
Tuyên truyền của Đức Quốc xã còn nhấn mạnh: “Nếu nói dối đủ to và cứ tiếp tục
lặp đi lặp lại lời dối trá của mình, quần chúng rồi sẽ tin vào lời dối đó”. Kỹ
thuật tuyên truyền như Joseph Goebbels giải thích, tóm lại, là nói dối đúng lúc
và nói dối nhiều lần.
Kỹ thuật “Láo đúng lúc”
Một
trong những ví dụ nổi tiếng của nói dối đúng lúc là bản tin về người hành tinh
khác đổ bộ vào nước Mỹ của Orson Welles, đạo diễn của đoàn kịch Mercury Theatre
on the Air, được phát vào ngày 30 tháng 10 năm 1938. Trong lúc đang lôi cuốn
người nghe trên đài phát thanh với vở kịch Chiến tranh giữa các thế giới (The
War of the Worlds) phỏng theo tác phẩm cùng tên của Herbert George Wells, Orson
Welles đã ngưng lại để công bố một bản tin sốt dẻo. Nội dung của bản tin cho
biết người hành tinh khác đang xâm lăng trái đất tại một địa điểm gọi là
Grover’s Mill thuộc tiểu bang New Jersey.
Trong
số gần 12 triệu người nghe bản tin của Orson Welles, đã có khoảng 1 triệu người
tin rằng người hành tinh khác thật sự đang đổ bộ tại New Jersey.
Thế
là, thành phố bị ngưng trệ, xa lộ kẹt xe vì hàng ngàn người bỏ thành phố để
chạy về các khu vực nông thôn, nhà thờ ngưng thánh lễ, công sở đóng cửa, siêu
thị tràn ngập người mua thức ăn để dự trữ cho cuộc chiến tranh hành tinh khủng
khiếp sắp diễn ra. Hẳn nhiên, đó là tin thất thiệt, thế nhưng vẫn có hàng triệu
người tin bởi vì được phát ra đúng thời điểm người nghe đang bị thu hút vào vở
kịch Chiến tranh giữa các thế giới. Việc áp dụng cách nói dối như vậy được các
nhà nghiên cứu về lý thuyết tuyên tuyền gọi là những viên đạn thần thông (magic
bullets) của kỹ thuật tuyên truyền.
Kỹ thuật “Láo To” (Big Lie) dưới chế độ Quốc Xã và CS
Ngoài
ra, một kỹ thuật khác được gọi là big lie, tạm dịch là “láo to” mà tôi đã trích
trong bài trước. Kỹ thuật láo to rất xưa nhưng rất hữu hiệu. Một lời nói dối
tày trời nếu được lặp đi lặp lại mãi rồi cũng sẽ có người tin. Một ví dụ quen
thuộc với người Việt về phương pháp láo to này là chuyện Tăng Sâm giết người
thời Xuân Thu. Chính mẹ Tăng Sâm còn tin là con mình giết người đừng nói chi ai
khác.
Hitler
phân tích kỹ thuật này trong hồi ký Đời tranh đấu của tôi (Mein Kamf): “Láo to
luôn có một mức độ đáng tin cậy nhất định, bởi vì quảng đại quần chúng trong một
nước bị sa một cách dễ dàng vào tầng sâu của bản chất xúc động hơn là một cách
ý thức hay tự nguyện; và do đó, nhận thức sớm nhất của họ đã trở thành nạn nhân
của láo to hơn là láo nhỏ, vì chính họ cũng thường hay nói dối những chuyện lặt
vặt nhưng cảm thấy thật xấu hổ khi phải nói những chuyện láo tày trời. Việc bịa
ra những chuyện láo to chưa bao giờ xuất hiện trong đầu óc họ và vì thế họ cũng
không tin là những người khác lại có thể vô liêm sỉ đến mức có thể bóp méo sự
thật một cách xấu xa như thế”.
Mặc
dù Hitler phân tích để phê bình người Do Thái đã “láo to” khi đổ lỗi sự thất
bại của Đức trong Thế chiến Thứ nhất cho Ludendorff nhưng chính đảng Quốc Xã đã
tận dụng kỹ thuật này để tiêu diệt dân Do Thái.
Trước
Hitler, trong thế giới cộng sản, từ Lenin, Stalin và hầu hết lãnh đạo các nước
cộng sản đã áp dụng một cách triệt để phương pháp láo to như một loại vũ khí
nhằm triệt hạ uy tín đối thủ và tiêu diệt các thành phần đối kháng, các mầm
mống chống đảng trong mọi lãnh vực. Tuyên truyền là vũ khí quyết định và cũng
là phương tiện sống còn của đảng. Và Việt Nam cũng không ra ngoài khuôn khổ.
Hai
kỹ thuật nói dối đúng lúc và nói dối lặp lại thịnh hành tại Việt Nam từ 1954
tại miền Bắc và từ 1975 trên phạm vi cả nước. Đọc các tài liệu về Cải cách
Ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, các vụ án chống đảng xét lại… để thấy rằng,
trong hơn nửa thế kỷ qua, những viên đạn tuyên truyền độc ác đã sát hại không
biết bao nhiêu người dân vô tội, trong số đó rất nhiều người yêu dân tộc, yêu
hòa bình và tự do dân chủ.
Tổng Giám mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt, nạn nhân của “Láo To CS”
Năm
2008, những viên đạn tuyên truyền lại nhắm vào đức Tổng Giám mục Hà Nội Ngô
Quang Kiệt sau bài phát biểu của ngài tại Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội hôm
20 tháng 9 năm 2008.
Các
cơ quan truyền thông, từ các báo phát hành với số lượng lớn như Lao Động, Thanh
Niên, các đài phát thanh, truyền hình, cho đến trang web của các bộ, các ban
ngành nhà nước, theo chỉ thị của đảng, đồng loạt tố cáo đức Tổng Giám mục đã
“phỉ báng dân tộc” vì ngài “cảm thấy nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”.
Đảng
đã dịch chữ “hộ chiếu” thành “dân tộc”. Và một lần nữa chiêu bài “bảo vệ dân
tộc” lại được treo lên, những tiếng kèn thúc quân quen thuộc một thời đã đẩy
hàng triệu thanh niên miền Bắc vào cuộc chiến tranh chém giết biết bao người
miền Nam vô tội lại được thổi to lên và những khẩu hiệu đã từng dẫn đường cho
bao nhiêu thế hệ Việt Nam như những con thiêu thân lao vào lò lửa tham vọng bá
quyền của Trung Cộng và Liên Xô được giương cao trên đường phố.
Báo
Công An Đà Nẵng chạy một tít dài: “Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt là
người nước nào vậy?”
Tờ
Việt Báo trong nước bình luận: “Ông Ngô Quang Kiệt nên xấu hổ với giáo
dân!”
Báo
Công An Nhân Dân tố cáo: “Lộ rõ ý đồ xấu của ông Ngô Quang Kiệt”.
Báo
Hà Nội Mới nhận xét: “Ông Ngô Quang Kiệt đi ngược lại lợi ích của dân
tộc”.
Trên
trang web chính thức của chính phủ: “Lộ rõ bản chất xấu xa và tâm địa
đen tối” và các báo khác đã liên tục viết những bài xã luận lên án
nặng nề tương tự.
Tôi
không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo và cũng không theo dõi một cách chi tiết
từ đầu cuộc tranh chấp Thái Hà nhưng sau khi đọc các bài viết trên báo chí và
những ý kiến mang nặng đầu óc Vệ binh Đỏ trên các trang web trong nước so với
toàn văn bài phát biểu của đức cha Ngô Quang Kiệt, tôi cảm thấy vô cùng bất
nhẫn.
Đức Cha Ngô Quang Kiệt nói gì?
Nguyên
văn câu nói của đức Tổng Giám mục Hà Nội như thế này:
“Do
đó, chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi rất mong muốn xây dựng một khối đại đoàn
kết dân tộc. Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi
cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ,
chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái
hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ
cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm
và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi
đâu chúng ta cũng được kính trọng.”
Nếu
tất cả những người biết đọc biết viết có cơ hội đọc nguyên văn bài phát biểu
của đức cha Ngô Quang Kiệt và ngồi xuống lắng lòng suy nghĩ về những lời nói tự
nhiên và chân thành của ngài mà tôi vừa trích dẫn, họ sẽ hiểu ra rằng chẳng
những đức Tổng Giám mục không nhục mạ dân tộc mà còn là người có lòng yêu nước
sâu đậm.
Câu
nói của đức cha Ngô Quang Kiệt không có một chữ nào dù trực tiếp hay gián tiếp,
dù nghĩa đen hay nghĩa bóng gọi là phỉ báng dân tộc; ngài chỉ nói lên sự quan
tâm, bức xúc của mình trước một Việt Nam yếu kém, thua sút đối với các quốc gia
trong cùng một châu Á như Nhật Bản, Nam Hàn.
Mặc
cảm làm người dân của một đất nước bị phân hóa, hoài nghi, chia rẽ, nghèo nàn,
tham nhũng, không được kính trọng mà đức cha cảm nhận trong những chuyến đi xa
vẫn ngày đêm ám ảnh trong ý thức của ngài. Và đức cha hẳn đã nhiều lần tự hỏi
làm sao dân tộc Việt Nam có thể vượt qua được cái bất hạnh của chính mình để đi
đứng ngang hàng với các quốc gia khác. Nếu không phải là người yêu nước và biết
tủi thẹn với những hy sinh xương máu của tổ tiên, nếu không mang trong lòng
những thao thức về đất nước, đức cha đã không buông ra những câu nói đó.
Càng
yêu nước càng thấy đau cho đất nước, càng yêu lịch sử hào hùng của tổ tiên càng
cảm thấy nhục nhã phải làm người Việt Nam trong thời đại hôm nay. Và hai điều
kiện để có thể vượt qua cái nghèo nàn, yếu kém không gì khác hơn là “đoàn kết
dân tộc” và đưa “đất nước lớn mạnh” như đức Tổng Giám mục đã phát biểu hôm 20
tháng 9. Những ai đang trăn trở về đất nước đều ý thức rằng không có đoàn kết
đất nước sẽ không thể nào lớn mạnh và một đất nước không lớn mạnh sẽ không được
thế giới kính trọng.
Nếu
không đúng như thế, hãy chỉ cho tôi một niềm tự hào dân tộc.
Tự hào đã đánh thắng đế quốc Mỹ ư?
Có
lẽ đó là chuyện mà những người có ý thức không ai còn muốn nhắc hay đem ra
tranh cãi. Không phải vì thời gian đã trôi qua hay muốn quên đi quá khứ mà vì
ngày nay sách vở viết về mưu đồ của Trung Cộng và Liên Xô trong cuộc chiến Việt
Nam không còn hiếm hoi như trước. Sự thật về cuộc chiến đã phơi bày một cách
chi tiết về con số bao nhiêu ngàn quân Trung Cộng đã tham chiến tại Việt Nam
cũng như bao nhiêu vũ khí mà các đế quốc cộng sản đã đổ xuống Việt Nam. Nếu có
một thống kê chính xác, tôi tin số người dân Việt Nam vô tội bị giết bằng súng
đạn của Liên Xô và Trung Cộng còn vượt xa số người chết do bom đạn Mỹ gây ra,
bởi vì chiến trường diễn ra ở miền Nam chứ không phải miền Bắc. Thế thì ai mới
đáng gọi là quân xâm lược đây? Nói như thế để so sánh chứ không có nghĩa là
binh vực Mỹ. Đế quốc nào cũng là đế quốc và trò chơi của họ được tính bằng
xương máu của các dân tộc nhược tiểu, trong đó có Việt Nam.
Khi
gài Liên Xô vào chiếc bẫy Afghanistan để trả thù cho thất bại của Mỹ tại Việt
Nam, Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Jimmy Carter,
chắc chắn đã không quan tâm đến số phận của hàng triệu dân Afghanistan sắp sửa
chết dưới bàn tay của Liên Xô xâm lược. Và hôm nay, hai mươi năm sau khi quân
đội Liên Xô rút đi và cả hệ thống cuối cùng đã sụp đổ, Afghanistan vẫn còn là
một bãi chiến trường. Khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, kẻ ngậm đắng nuốt cay
không phải là Mỹ mà chính là Trung Cộng khi biết rằng thằng em cộng sản mà họ
đã tốn bao nhiêu công sức nuôi nấng từ lúc khó khăn đã quay lưng phản bội đàn
anh. Cuộc chiến Việt Nam đã mang Trung Cộng và Mỹ lại gần nhau hơn và trong
trận chiến tranh Việt – Trung năm 1979, để lôi kéo Trung Cộng vào phe chống
Liên Xô, các cơ quan tình báo Mỹ đã cung cấp cho Trung Cộng các tin tức về khả
năng quân sự của phía Việt Nam. Mỹ đưa quân sang Việt Nam ồ ạt từ giữa 1965
chẳng phải vì chính nghĩa quốc gia. Chính nghĩa quốc gia, lý tưởng tự do dân
chủ là của nhân dân miền Nam, những người đã sống, chiến đấu và chết trong cuộc
chiến tự vệ đầy anh dũng từ 1954 đến 1975. Có hay không có người Mỹ, nhân dân
miền Nam cũng đứng lên bảo vệ các giá trị tự do mà họ đã chọn lựa và theo đuổi.
Tự hào về giang sơn gấm vóc ư?
Hãy
nhìn ra Biển Đông, hai quần đảo quan trọng về cả quân sự lẫn kinh tế đang nằm
trong vòng kiểm soát của hải quân Trung Cộng. Lịch sử như đang diễn ra theo một
chu kỳ. Sau gần hai thế kỷ ngập chìm trong khói lửa, tương quan kỹ thuật quân
sự giữa Việt Nam và Trung Cộng cũng không khác gì thời quân đội nhà Nguyễn đánh
nhau với liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Cái thuở tầm vông vót nhọn đương đầu với
súng thần công và thuyền buồm ghe gỗ đương đầu với tàu chiến được đóng bằng sắt
thép lại tái diễn. Từ xưa đến nay, Trung Cộng luôn chọn chiến tranh thôn tính
như là phương pháp thích hợp nhất để giải quyết mọi cuộc xung đột với các nước
nhỏ láng giềng. Khi dùng những chữ “trừng phạt” hay “dạy Việt Nam một bài học”
theo giọng điệu của vua quan phong kiến thời nhà Tống, nhà Minh, trong đầu óc
của lãnh đạo Trung Cộng, Việt Nam vẫn còn là một trong số chư hầu của họ.
Việt
Nam và Trung Cộng có thể vài năm hay vài chục năm nữa rồi cũng sẽ đánh nhau.
Tuy nhiên, nếu chiến tranh nổ ra vào thời điểm này, toàn bộ khả năng quân sự
của Việt Nam có thể bị Trung Cộng vô hiệu hóa trong vòng vài giờ.
Cái
may mắn cho Việt Nam là vị trí của Trung Cộng ngày nay trên chính trường quốc
tế không phải là một Trung Cộng mới bắt đầu chương trình hiện đại hóa vào năm
1979 khi họ xâm lăng Việt Nam. Trung Cộng ngày nay là một trong những siêu
cường quốc hàng đầu thế giới nhưng đồng thời cũng là một siêu cường quốc dễ vỡ
(fragile superpower) theo giáo sư Susan L. Shirk trong tác phẩm nghiên cứu về
Trung Cộng. Trung Cộng đang cần sự ổn định để duy trì mức phát triển và chạy
đua với các cường quốc trong G8. Đối tượng cạnh tranh của Trung Cộng là Mỹ,
Nhật, Đức, Pháp, Ý, Anh, Canada, Nga chứ không phải Việt Nam. Một cuộc chiến có
tác động quốc tế như năm 1979 có thể không diễn ra trong thời gian trước mắt,
nhưng những đụng chạm ở tầm địa phương sẽ xảy ra liên tục.
Trung
Cộng biết rằng trong một cuộc chiến tranh toàn diện với Việt Nam, dù có thắng
về quân sự thì phần bất lợi kinh tế chính trị cũng nghiêng về phía họ, nhưng
đồng thời họ sẽ không bao giờ để yên cho Việt Nam phát triển.
Hải
quân Trung Cộng sẽ tiếp tục bắn giết ngư dân Việt Nam như họ đã làm suốt ba
chục năm qua, hạm đội Trung Cộng sẽ tiếp tục đe dọa hải lưu Việt Nam và lãnh
đạo Trung Cộng sẽ ngăn chặn bất cứ một quốc gia nào hợp tác với Việt Nam để
khai thác nguồn dầu khí quan trọng trong thềm lục địa của Việt Nam. Việt Nam sẽ
làm gì? Đưa cuộc tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa ra Liên Hiệp Quốc? Liên Hiệp
Quốc là ai nếu không phải là một Trung Cộng có quyền phủ quyết? Cầu viện Mỹ làm
trung gian giải quyết chăng? Đế quốc không có bạn hay thù mà chỉ có quyền lợi,
và với chính sách đối ngoại hàng hai của Việt Nam hiện nay, cái lợi Mỹ thu về
chưa hẳn lớn bằng cái lợi họ có thể bị mất đi.
Tự hào về quá khứ oai hùng của dân tộc ư?
Không
một người Việt Nam có ý thức dân tộc nào mà không biết hãnh diện với lịch sử
hào hùng của dân tộc, nhưng đừng quên rằng dân tộc nào cũng có niềm tự hào
riêng của họ.
Một
nước Bamahas có nền độc lập chỉ mới được ba mươi lăm năm (1973) nhưng không có
nghĩa là người dân Bahamas ít hãnh diện về đất nước họ bằng một người Việt Nam
có hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Ngoài
ra, một truyền thống nếu không được kế thừa và phát huy một cách thích nghi với
thời đại thì truyền thống đó sẽ sớm trở thành một thói quen lạc hậu và sẽ chết
dần theo thời gian. Biết bao dân tộc vốn đã có một nền văn minh rực rỡ, có
truyền thống tốt đẹp từ mấy nghìn năm trước nhưng các thệ hệ sau đã không biết
giữ gìn và phát huy, cuối cùng cũng đi vào viện bảo tàng, và nếu còn được nhắc
nhở chăng cũng chỉ trong giáo trình của các khoa văn minh hay nhân chủng học.
Đức TGM Ngô Quang Kiệt phát biểu nhân chuyến viếng thăm Vũng Áng,
tỉnh Hà Tĩnh nơi xảy ra thảm họa ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do nhà máy
Formosa gây ra.
Tôi
chia sẻ tâm trạng của đức cha Ngô Quang Kiệt. Tôi cũng có dịp đi khá nhiều,
tham dự nhiều hội nghị, làm việc trong một môi trường nơi các đồng nghiệp đến
từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ đem
chuyện Việt Nam ra bàn trước với ai và rất khó chịu mỗi khi nghe ai nhắc đến
Việt Nam, đơn giản bởi vì tôi biết sẽ không có câu bình luận nào tốt đẹp theo
sau. Việt Nam cho đến hôm nay vẫn còn đồng nghĩa với chiến tranh, nghèo đói,
độc tài.
Có
gì đáng tự hào khi Việt Nam vẫn còn bị xếp vào một trong những nước tham nhũng
trầm trọng trên thế giới. Trong thống kê 2008 vừa được tổ chức Transparency
International công bố, Việt Nam bị xếp vào hàng 121 trong tổng số 180 nước được
thăm dò. Phần lớn những nước đứng sau Việt Nam là các quốc gia Á – Phi nghèo
nàn, lạc hậu. Báo chí Việt Nam đồng loạt đăng tải thống kê như loan báo một tin
mừng bởi vì Việt Nam được tăng hai bậc so với thống kê 2007, mặc dù nước đứng
sau Việt Nam không phải là thứ 122 mà là 126, vì có 5 quốc gia cùng hạng với
Việt Nam.
Trong
lúc tham nhũng tại nhiều nước trong thế giới phát xuất từ lòng tham có tính
cách cá biệt, tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng, từ trong cơ chế mà ra và sẽ
tồn tại cùng với cơ chế. Làm sao xây dựng một chế độ chính trị trong sạch khi
toàn bộ quyền hành nằm trong tay một thiểu số người nắm quyền sinh sát cả một
dân tộc?
Mỗi
khi có một ý kiến mới không hợp với chủ trương của đảng gióng lên là toàn đảng
xúm vào đánh hội đồng, như vậy thì đất nước làm sao thăng tiến? Một đức Tổng
Giám mục, lãnh đạo tinh thần của nhiều triệu tín đồ và có một vị trí quốc tế mà
còn bị đối xử như vậy thì một người dân thấp cổ bé miệng ở các thôn làng xa xôi
hẻo lánh sẽ bị đối xử ra sao?
Có
người còn chiêm bao rằng một ngày nào đó Việt Nam sẽ trở thành một Singapore và
đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ hoạt động giống như đảng Nhân dân Hành động
Singapore (People Action Party, gọi tắt là PAP) với các nhà lãnh đạo tài ba và
liêm khiết. Đó chỉ là một mơ ước hão huyền. Trứng ngỗng chỉ có thể nở ra ngỗng.
Nguồn gốc hình thành, cơ cấu lãnh đạo và mục tiêu của PAP hoàn toàn khác biệt
so với đảng Cộng sản Việt Nam. PAP là tập hợp những chuyên gia trí thức
Singapore có tinh thần độc lập dưới sự lãnh đạo của Lý Quang Diệu, một nhà chính
trị có tầm nhìn vượt xa thời đại và đã thắng cử qua một cuộc bầu cử tự do hợp
pháp năm 1959. Các thành phần đối lập tại Singapore thời đó tuy thất cử nhưng
vẫn hoạt động và tiếng nói của họ vẫn có một ảnh hưởng quan trọng trong đời
sống chính trị quốc gia trong giai đoạn vừa giành được nền độc lập một cách hòa
bình từ thực dân Anh.
Trong
lúc các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam phải sang chầu Trung Cộng hàng năm
để xin súng đạn, Lý Quang Diệu không thấy cần thiết ngay cả việc thừa nhận nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một nước có chủ quyền toàn vẹn.
Những
biện pháp cứng rắn của chính phủ Lý Quang Diệu sau khi Singapore tách khỏi Liên
bang Mã Lai vào năm 1965 là nhằm bảo vệ sự tồn tại mong manh của hòn đảo nhỏ
này và ngăn chặn sự xâm nhập của cộng sản với sự yểm trợ tích cực của Trung
Cộng. Mãi đến tháng 10 năm 1990, khi Singapore đủ mạnh về kinh tế và ổn định về
chính trị, Lý Quang Diệu mới thừa nhận Trung Cộng.
Trong
thời kỳ mà “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” vào Nam “chống Mỹ cứu nước” thì
các nhà lãnh đạo Singapore và nhiều lãnh đạo sáng suốt ở châu Á đã lợi dụng
chính sách chống cộng của Mỹ ở châu Á để hợp tác và phát triển kinh tế, nhờ đó,
không chỉ nền kinh tế Singapore mà nhiều nước nhỏ khác ở châu Á như Nam Hàn,
Đài Loan cũng đã lần lượt cất cánh và trong một thời gian ngắn được thế giới ca
ngợi như là những con rồng châu Á.
Có
gì đáng tự hào khi Việt Nam, một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến nhưng
ngoại trừ một thời gian ngắn ở miền Nam trước 1975, đại đa số nhân dân chưa bao
giờ có một cơ hội để bầu người đại diện cho mình trong các cơ quan nhà nước?
Cuộc
chiến tranh lạnh đã chấm dứt. Sự phân cực thế giới dựa trên ý thức hệ không còn
nữa. Lịch sử văn minh nhân loại được lật sang một chương khác. Hành trình của
loài người đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên dân chủ và phát triển
toàn diện. Các quốc gia cộng sản trước đây đã bừng tỉnh sau cơn ác mộng dài và
đang hăng say làm lại cuộc đời. Từ một thời được xem là chư hầu của Liên Xô,
các nước Đông Âu đã trở thành những thành viên kinh tế thương mại và cả chính
trị quân sự quan trọng của cộng đồng châu Âu và thế giới.
Việt
Nam thì sao? Việt Nam là một trong chỉ 5 nước cộng sản của phong trào cộng sản
thế giới còn sót lại, nơi con người sống trong bất an, nơi tất cả những quyền
căn bản mà phần lớn mà nhân loại thụ hưởng đã không được tôn trọng. Một trong
những chương trình thống kê gây nhiều chú ý nhưng cũng nhiều tranh cãi là thống
kê về “Những quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới”. Cánh chỉ trích cho rằng
hạnh phúc là một trạng thái của ý thức, không thể đem ra cân, đo, đếm và xếp
hạng như các đơn vị vật lý. Cánh ủng hộ cho rằng mục đích thực sự của thống kê
không phải để so sánh giữa một người Đan Mạch và một người Zimbabwe ai hạnh
phúc hơn ai, mà để đánh giá xu hướng ý thức của con người về hạnh phúc chuyển
đổi theo thời gian.
Xem
xét kết quả 2008 không có ý nghĩa gì nếu không so sánh với kết quả 2007, 2006
cũng như với suốt 25 năm trước đó. Và theo giáo sư Ronald Inglehart, người điều
hành thống kê World Values Survey trong 20 năm qua, kết luận sau buổi công bố
kết quả thống kê năm 2008: “Nói chung, ý thức toàn cầu đang gia tăng về tự do
trong phần tư thế kỷ qua đã che khuất các lý do thuần túy kinh tế về hạnh
phúc”, và ông cũng tìm thấy quan hệ hỗ tương giữa hạnh phúc và dân chủ. Giải
thích của giáo sư Ronald Inglehart cho thấy hạnh phúc gắn liền với tự do dân chủ
và đó cũng là xu hướng của thời đại. Việt Nam được xếp hàng thứ 36 trong bảng
thống kê. Lẽ ra phải cao hơn. Rất tiếc Bắc Hàn không nằm trong danh sách các
nước được thăm dò, nếu có, họ đã được xếp vào hàng thứ nhất.
Giới
lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam có tật giật mình nên hiểu chữ “nhục” theo nghĩa
tiêu cực như một hình thức cúi đầu, chịu làm tay sai cho ngoại bang.
Đúng
ra, cảm thấy nhục nhã không phải là thái độ phản quốc; trái lại trong hoàn cảnh
đất nước hôm nay, biết nhục càng nhiều càng tốt. Ngoại trừ những kẻ ngày đêm
sống trong bóng tối mới không thấy được cái yếu kém của đất nước. Muốn vượt qua
cái nhục, cái yếu hèn, không nên trốn tránh mà phải đối diện với chúng. Nỗi
nhục chính là phân bón cho cây xanh hy vọng của tương lai dân tộc được vươn lên
tươi tốt. Trong suốt dòng lịch sử, dân tộc Việt Nam đã hơn một lần chịu nhục.
Lời trách mắng của Hưng Đạo Đại Vương hơn bảy trăm năm trước như còn văng vẳng
đâu đây: “Ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; Thân chịu quốc sỉ mà không biết
thẹn”. Vâng, cũng từ cái đau xót, cái nhục nhã, cái nhược tiểu của dân tộc Việt
Nam mà thời đó tổ tiên chúng ta đã đứng lên đánh bại cả một đạo quân Nguyên
hùng mạnh mà vó ngựa đã giẫm nát cả một phần lớn châu Âu và châu Á.
Ai phỉ báng dân tộc?
Việt
Nam đang đứng trước nhiều khó khăn nhưng không phải là không có một phương pháp
giải quyết. Như đức cha Ngô Quang Kiệt đã nhấn mạnh trong buổi gặp gỡ Ủy ban
Nhân dân Thành phố Hà Nội hôm 20 tháng 9, phương pháp đó là: “Còn người Việt
Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn
kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được
kính trọng”. Đảng đã xé ra thì đảng phải rào lại.
Đoàn
kết dân tộc là trách nhiệm của đảng, nhưng đoàn kết không bao hàm nghĩa đầu
hàng mà phải dựa trên sự bình đẳng, tương kính giữa các thành phần dân tộc và
tôn trọng nhân phẩm con người với tất cả quyền tự do bẩm sinh của họ. Và nếu
không làm được điều đó thì chính các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam chứ không
ai khác là những người phỉ báng dân tộc Việt Nam.
(Bài viết được trích từ Chính Luận Trần
Trung Đạo, được đăng trên FB của tác giả tháng 09/2020)
Monday, September 21, 2020
· Cuộc Hôn Nhân Lý Tưởng giữa nền Chính Trị Cộng Hòa và nền Kinh Tế Tư Bản Hoa Kỳ-Đỗ Ngọc Hiển
· Cuộc Hôn Nhân Lý Tưởng giữa nền Chính Trị
Cộng Hòa và nền Kinh Tế Tư Bản Hoa Kỳ
(Một
góc nhìn)
Đỗ Ngọc Hiển
Giáo
sư Kinh Tế trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
LỜI
MỞ ĐẦU
Vì không phải là một sử gia và kinh tế gia
chuyên nghiệp, người viết chỉ muốn đưa ra một góc
nhìn
khách quan về sự tương quan mật thiết ngẫu nhiên hay có chủ đích giữa nền Chính
trị Cộng
hòa
và nền kinh tế Tư bản Hoa Kỳ hiện nay, người viết xin quí vị người đọc thông
cảm, nếu cần
xin
điều chỉnh và bổ túc. Người viết xin thành tâm lãnh hội và cám ơn.
Qua những học hỏi và nghiên cứu sách vở ở Đại
học Hoa Kỳ cùng những trải nghiệm thực tế
trong
6 năm như một du sinh học bổng về kinh tế học và 40 năm sinh sống tại Hoa Kỳ,
người
viết
chỉ có chủ đích trình bày một cách hết sức trung thực sự tương quan mật thiết
lý tưởng, hay
như
một cuộc hôn nhân lý tưởng, hạnh phúc và bền bỉ giữa nền chính trị Cộng hòa và
nền kinh tế
Tư
bản Hoa Kỳ từ ngày lập quốc 1776 cho tới nay 2020 trải dài 244 năm.
Cuộc hôn nhân này là ngẫu nhiên hay có chủ
đích bởi các nhà lập quốc Hoa Kỳ ngay từ ngày
lập
quốc 1776 và đã mang lại những gì cho người dân Koa Kỳ trên bình diện vật chất
cũng như
tinh
thần sau đây.
A. Những
Ân sủng từ Tạo hóa.
1/
Mọi người sinh ra đều bình đẳng.
Dù mang những màu da khác nhau, trắng, đen,
vàng, nâu và đỏ, từ lúc lọt lòng mẹ, mọi cá nhân
đều
yếu đuối, bất lực và phải nhờ vào dòng sữa mẹ rồi thực phẩm để tồn tại và khôn
lớn.
Mọi người sinh ra trừ những trường hợp bệnh
tật bẩm sinh, đều giống nhau với một bộ nảo, một
trái
tim, một lá gan, 2 lá phổi, hai mắt hai tay và hai chân ..v..v…
Không cá nhân nào biết trong tương lai mình
sẽ là gì. Tạo hóa không chọn lựa và chỉ định cá
nhân
này sẽ là tổng thống hay thường dân, người tự do hay nô lệ, người nổi danh hay
hèn mọn
và
người này sẽ là bác sĩ, người kia là kỹ sư, người này giàu kếch sù, người kia đói khát rách
rưới
. Cũng không một sắc dân nào là con trời hay siêu việt và thông minh hơn sắc
dân khác.
2/
Tạo hóa cho mỗi cá nhân món quà Tự do.
Khi
tạo ra con người, Tạo hóa ban tặng cho mỗi cá nhân quyền Tự do tuyệt đối, tự
quyết định
cuộc
sống và mưu cầu hạnh phúc cá nhân mà không cá nhân nào hay một mô thức tổ chức
xã hội
(Model
of social Organization) nào có quyền tước đoạt quyền tự do thiên định này. Mỗi
cá nhân
·
2
có
quyền tự do bất khả xâm phạm trong mọi lãnh vực như quyền sống, tư tưởng, tín
ngưởng, lập
hội,
di chuyển, lao động, kinh doanh và mưu cầu hạnh phúc cá nhân ..v…v..
3/
Quyền tư hữu do sức lao động thể lực hay trí lực.
Theo giáo lý Thiên Chúa giáo, ông tổ của nhân
loại là Adam và Evà (Adam and Eva) được
Thiên
Chúa (Tạo hóa) cho sống tự do trong Thiên đàng có đầy đủ trái cây hoa trái và
lương thực
không
phải lao động để sinh sống. Chỉ có một cây quả gọi là “Cây trái cấm” không được
hái ăn.
Bà
Evà bị con rắn (ma quỷ) cám dổ nói nếu Adam ăn quả này sẽ có quyền năng như
Thiên Chúa.
Bà
Evà nghe theo lời cám dỗ hái một quả đưa cho chồng ăn. Đang ăn giữa chừng Thiên
Chúa bắt
gặp
nên cả hai ông bà bị đuổi ra khỏi địa đàng và Chúa phán từ nay ông bà phải tự
lao động để
sinh
tồn. Tội bất tuân lời Chúa được gọi là tội Tổ Tông mà Chúa Giêsu, ngôi hai
Thiên Chúa
giáng
trần làm người chịu chết trên thập giá để chuộc tội cho loài người, con cái của
Adam và
Evà
Theo truyền thuyết dân gian một cục u nhô ra
ở giữa cuống họng người đàn ông đó là trái cấm
chưa
nuốt xuống hết. Như vậy lao động là một
giáo lệnh của Thiên Chúa.
Trong cuộc sống thực tế, tư hữu là kết quả
của sức lao động cá nhân mà không một ai hay một
tổ
chức xã hội nào có quyền tước đoạt. Đó là một sự công bằng tuyệt đối. Một cá
nhân bỏ sức lao
động,
mồ hôi và có khi cả nước mắt khai quang và trồng trọt hoa trái một mảnh đất
thiên nhiên
trên
một hoang đảo, thì họ là chủ nhân và hưởng toàn thể kết quả trên mảnh đất đó.
Đó là quyền
tư
hữu không một ai hay một tổ chức nào nhân danh tập thể mà được quyền chiếm
đoạt. Cá nhân
hiện
diện trước tổ chức xã hội ra đời. Tổ chức xã hội chỉ là phương tiện chứ không
phải là chủ và
đứng
trên con người.
B. Christopher
Columbus và vùng Đất Mới Mỹ Châu.
Christopher Columbus, tiếng Ý là Cristoforo
Colombo và tiếng Tây Ba Nha là Crístobal Colón,
1451
- 1506. Ông Columbus sinh tại thành phố Genois, Tây Ba Nha (Spain) là một nhà
hàng hải
(Navigator)
và người khám phá (discoverer) ra thế giới mới Mỹ Châu.
Ông được sự bảo trợ từ Vua Cardinan V và nữ
hoàng Isabella của Tây Ba Nha cho dự án đi
thuyền
buồm theo hướng Tây nhằm sang Á đông
(Orient). Ông rời thành
phố Palos tháng
3,
1492
với ba thuyền buồm Pinta, Nina và Santa Maria và tới Bahamas tháng 10, 1492,
sau đó tới
Cuba
và Haiti trước khi trở về Tây Ba Nha tháng 10, 1493.
Cuộc du hành thuyền buồm thứ 2 đưa ông tới
Lesser Lentilles, Puerto Rico và Jamaica thuộc
vịnh
Caribé. Cuộc du hành thứ ba 1498 - 1500 đưa ông tới Trinidad và bờ biển
Venezuela. Cuộc
du
hành thứ 4, 1502 - 1504 đưa ông tới vùng duyên hải Trung Mỹ gồm Panama và
Mexico.
Như vậy Columbus đã khám phá ra các quốc gia
nằm trong vịnh Caribé chứ không khám phá ra
Bắc
Mỹ gồm Hoa Kỳ và Gia Nả Đại.
Tóm lại, ông Columbus là ân nhân vĩ đại của
các quốc gia Châu Mỹ (American Continent) gồm
Bắc
Mỹ có Hoa Kỳ và Gia Nả Đại, Trung Mỹ có Panama và Mexico, và Nam Mỹ có 17 quốc
gia
·
3
như
Venezuela, Columbia, Brazil, Peru, Chilé ..v..v..và một vài đảo quốc nhỏ trong
vịnh Caribé
như
Cuba và Dominican Republic ..v..v..
Thật rất tiếc, một số người trong nhóm cấp
tiến thiên tả “Black lives matter” và Antifa gần đây
đã
vô ơn đập phá bức tượng vinh danh và tưởng nhớ công ơn Ông..
C. Giáo
quyền (thần quyền) và Thế quyền.
Trên thế giới hiện nay
chỉ có ba tôn giáo tin
vào một đấng
Tạo hóa (The
Creator) hay một
Thiên
Chúa (The God), đó là Thiên Chúa giáo (Christian),
Hồi giáo (Islam) và Do Thái giáo
(Judaism).
Phật giáo (Budhism)
không phải là
một tôn giáo
mà chỉ là một triết
lý sống (A
philosophy
of life) hay một lối sống (A way of life) vì không tin vào một đấng Tạo hóa hay
một
Thiên
Chúa nào cả. Đức phật (Budha) cũng chỉ là một con người đã tu đắc đạo thành Phật, đưa
ra
một con đường sống cứu khổ cho nhân loại.
Trong bài này người viết chỉ đề cập tới Thiên
Chúa giáo (Christianity) vì liên hệ tới sự thành
lập
nền chính trị Cộng hòa (Republic) và nền kinh tế Tư bản Hoa Kỳ (Capitalism).
1/
Thiên Chúa giáo (Christianity).
Thiên Chúa giáo xuất hiện khoảng 30 năm trước
Công nguyên (30 A.D) khi các tông đồ của
Chúa
Giêsu nhận quyền năng từ Thiên Chúa, Ngôi Ba, tức Chúa Thánh Thần (The Holly
Spirit)
đi
rao giảng sự phục sinh (Resurrection) và những lời
rao giảng của Chúa Giêsu Kyto (Jesus
Christ).
Chúa Jesus cho rằng nước Do Thái là vương quốc (The Kingdom of God) của Thiên
Chúa
và là trọng tâm của những bài rao giảng rằng Thiên Chúa hiện hữu ở bất cứ nơi
nào con
người
có tình yêu thương (Love) mà Thiên Chúa đang tìm kiếm liên hệ tình thương yêu
với họ.
Sự
liên hệ tìm kiếm yêu thương này là cái giá Ngài phải trả bằng cái chết trên
thập tự bởi những
người
phủ nhận lời rao giảng tình yêu thương này.
Sự tương quan tình yêu thương giữa Thiên Chúa
và con người được truyền đạt qua thời gian và
không
gian và các môn đệ (tông đồ) cảm nhận được tình yêu thương này giữa họ với Ngài
và dẫu
bị gián
đoạn bởi cái chết
của Ngài trên
thập giá, nhưng được
hồi phục bởi sự sống lại
(Resurrection)
của Ngài.
Một trong những môn đệ có ảnh hưởng nhất là
Phaolồ (Paul), là sáng lập viên của Thần học
Thiên
Chúa giáo (Christian Theology) và những
cuộc du hành thuyết giáo của ông xác quyết
Thiên
Chúa giáo không phải là một giáo phái chi nhánh của người Do Thái.
2/ Giáo hội Công giáo La mã (The Roman Catholic
Church).
Giáo hội Công giáo La mã phát triển mạnh về
giáo quyền và chính trị (thế quyền) trong thời đế
chế
La mã (Roman Empire) thế kỷ IV sau công nguyên và thống trị Tây Âu trong suốt
thời kỳ
Trung
cổ (Middle Ages). Tông đồ được Chúa Giêsu tin cậy và thương yêu nhất là Peter
(tiếng
Pháp
là Pierre, có nghỉa là viên đá) và như trong Tân Ước ghi chép lại Chúa Giêsu đã
xác quyết
xây
dựng Hội thánh Ngài trên viên đá này, ám chỉ Peter (Pierre) là người được chỉ
định sáng lập
Giáo
hội Công giáo La mã tiên khởi.
·
4
Hai tông đồ thân tín nhất của Chúa Giêsu là
Phêrô (Peter - Pierre) và Phaolồ (Paul) đi rao giảng
lời
Chúa khắp vùng Âu Châu một thời gian rất lâu và cuối cùng hai vị này bị sát hại
bởi nhóm
người
ngoại giáo chống đối.
Tín lý của Giáo hội Công giáo dựa trên nền
tảng đức tin tuyệt đối Thiên Chúa ba Ngôi, Ngôi
Cha,
Ngôi Con (Jesus Christ) và Ngôi Ba Thánh thần (The Holy Spirit) và có 7 phép bí
tích như
Rửa
tội (Baptism), Thêm sức
(Reconformation), Rước Mình Máu
Thánh Chúa (Communion)
..v..v..
Giáo hội Công giáo La mã tin vào sự “không
thể sai lầm” (Infallibility) của vị Giáo hoàng, đại
diện
Hội thánh, có hỏa ngục, đức Mẹ vô nhiểm nguyên tội và đồng trinh ..v..v… Các
hàng giáo
phẩm
trong hội thánh phải sống độc thân.
Giáo hội Công giáo La mã phát triển mạnh bắt
đầu từ giữa thế kỷ XV với vài trăm triệu tín hữu
rải
rác trên khắp năm châu với hàng trăm quốc gia. Ở Tây Ba Nha, 85% dân số là Công
giáo La
mã.
Ở các quốc gia khác có khoảng 30% dân số như Ireland, Luxembourg, Belgium,
Germany,
Austria,
France, Poland, Italy v..v… theo Công giáo La mã.
Giáo hội Công giáo La mã cũng đã trải qua
những trang sử đen tối qua việc can thiệp, cấu kết
và
lủng loạn thế quyền và đã tham dự vào nhiều cuộc thánh chiến với Hồi giáo, gây
ra biết bao
chết
chóc đau thương.
3/
Giáo hội Chính thống giáo phương Đông (The Eastern Orthodox Church).
Giáo hội Chính thống Phương đông cũng là một
phần của Thiên Chúa giáo và tách khỏi Giáo
hội
Công giáo La mã năm 1054 vì không chấp nhận quyền lực của vị Giáo Hoàng La mã.
Chính
thống
giáo cũng tin vào Chúa Giêsu, Chúa Ngôi hai xuống thế cứu chuộc nhân loại và
những lời
rao
giảng của Ngài về tình thương yêu của Thiên Chúa đối với con người. Chính thống
giáo có
rất
nhiều nghi thức thờ phượng Thiên Chúa như Công giáo La mã.
Tôma (Thomas) một môn đồ của Chúa Giêsu đi
rao giảng lời Chúa ở Phương Đông và lập ra
Giáo
hội Chính thống phương Đông. Chính thống giáo phát triển mạnh tại các quốc gia
phương
Đông,
nhất là Trung Đông như Ai Cập, Thổ Nhỉ Kỳ, và cả ở Nga nữa. Đại đa số người Nga
theo
chính
thống giáo. Các giáo phái Chính thống giáo đều độc lập tại các quốc gia khác
nhau..
Đứng đầu hàng giáo phẩm là các vị Giáo chủ có
quyền lập gia đình, mang mũ nĩ và trang phục
phần
lớn màu đen sặc sở không khác gì các vị Giáo hoàng Công giáo La mã thường mặc
trang
phục
màu trắng.
4/
Giáo hội Tin Lành (Protestant Churches)
Vào khỏang giữa thế kỷ XVI dưới ánh sáng tư
tưởng cải cách của nhà thần học người Pháp
John
Calvin (Jean Cauvin,
1509-1564) và nhất
là trước đó,
nhà thần học
người Đức Martin
Luther
1483-1546. Martin Luther
là một linh
mục công giáo
tu dòng thánh
Augustin 1507.
Martin
Luther công kích quyền lực giáo hoàng La mã vì vậy ông bị rút phép thông công
(loại trừ
(excommunion)
ra khỏi Giáo hội Công giáo La mã. Protestants có nghĩa là những người chống
đối
(To protest) và từ tư tưởng của Ông, Giáo hội Lutheran Church ra đời.
·
5
Ngoài ra cũng khoảng giữa thế kỷ XVI, một
phong trào phản kháng rầm rộ đối với giáo hội
Công
giáo La mã dưới ánh sáng của các tư tưởng cấp tiến như Khai sáng (Enlightment),
Cảỉ cách
(Reformation),
Duy lý luận
(Rationalism), chủ nghĩa
Tự do (Liberalism)
và Cách mạng
(Revolution)
bị đả phá. Ảnh hưởng bởi các chủ trương trên, các giáo phái Tin lành tách khỏi
Giáo
hội Công giáo
La mã như Anglica Church ở
Anh quốc, Baptist,
Congregationlist,
Evangelical,
Lutheran, Methodist, Reformed và Presbyterian.
D. Cuộc
di dân từ Âu Châu.
1/
Bối cảnh tổng quát.
Vì những can thiệp và thao túng của giáo
quyền Công giáo La mã vào thế quyền do các vua
chúa
cai trị tại khắp các quốc gia Âu Châu gây ra những hành động kỳ thị và áp chế
tôn giáo
(Religious
persecutions), bất công, tham nhủng và lạm quyền, người dân theo đạo Tin lành
thuộc
mọi
hệ phái ngày càng trở nên bất mãn và phản kháng.
Phần đông dân chúng theo Tin lành cảm thấy bị
ức hiếp và bị đối xử bất công. Họ thuộc thành
phần
trung lưu năng động, chiụ khó và cầu tiến, muốn có một cuộc sống vật chất thăng
tiến và
một
môi trường sống tự do, thoải mái hơn, nên không ngần ngại từ bỏ quê hương đi
tìm một
vùng
đất mới hứa hẹn hơn.
Chiếc tàu di dân đầu tiên “Mayflower” 1620
chở di dân từ Anh quốc theo đường biển Thái bình
dương
mà Christopher Columbus đã chỉ dẩn chỡ nhiều ngàn người di dân cập bến Nửu Ước
phía
đông
Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ XVI và sau đó nhiều cuộc di dân từ Âu Châu tiếp tục tìm
tới thế
giới
mới.
Tại các quốc gia có đội thương thuyền hùng
mạnh của chính quyền hay tư nhân như Anh quốc,
Pháp
quốc, Tây Ba Nha và Bồ Đào Nha, các quốc gia này bắt đầu tham dự và tổ chức các
cuộc
di
dân một phần vì muốn giảm bớt áp lực dân số, phần khác tìm kiếm nguồn tài
nguyên thiên
nhiên
dồi dào và nuôi ý định chính sách thuộc địa sau này tại vùng đất mới.
Phần đông
các di dân Anh quốc
sang định cư
tại các vùng
đất miền Bắc
như New York,
Pensylvania,
Maryland, Virginia, New Jersey, New Hampshire .v..v..
Di dân Pháp sang định cư tại phía Nam vùng
Lousiana và vùng Montreal-Quebec thuộc Gia Nả
Đại.
Di dân Tây Ba Nha định cư ở Trung Mỹ gồm Panama và Mexico và hầu hết các quốc
gia
Nam
Mỹ ngoại trừ Brazil do người Bồ Đào Nha định cư nên là quốc gia duy nhất ở Nam Mỹ
dùng
tiếng Bồ Đào Nha. Di dân Tây Ba Nha cũng có mặt tại Florida. Tại vùng đất mới này,
người
dân vẫn giữ liên lạc chặt chẻ chính trị và kinh tế với mẫu quốc. Do đó chính
quyền mẫu
quốc
ngày càng ảnh hưởng và thâm nhập sâu vào sinh hoạt chính trị địa phương để rồi
sau cùng
biến
vùng đất mới thành những thuộc địa trong nhiều thập niên.
2/
Thành lập Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ (The United States of America - USA)
a. Bối
cảnh.
·
6
Nền
Cộng hòa Liên
Bang năm 1776
có diện tích
khoảng 3,618.770 dậm vuông
với dân số
khoảng
2.5 triệu người với các sắc dân da trắng, da đen Phi châu, bộ lạc da đỏ
Mullato, người
Trung
hoa, người Đông Nam Á và người Phi Luật Tân. Ngôn ngữ là Anh ngữ và một số ngôn
ngữ
thuộc nhóm thiểu số và di dân.
Về tôn giáo 51% dân số là Tin lành của 30
giáo phái chính, 22% là Công giáo La mã, 3% là Do
thái,
2% là Chính thống giáo.
Các thuộc địa phát triển mạnh và ngày càng
trở nên phồn thịnh. Nền kinh tế căn bản tựa vào
nông
nghiệp, đặc biệt là các tiểu bang miền Nam nơi mà các đồn điền thuốc lá và bông
goòng sử
dụng
dân nô lệ từ Phi Châu, và các thổ dân da đỏ bị đuổi về vùng phía Tây.
Sự phát triển và phồn vinh tại các thuộc địa
ngày càng quyến rủ người dân từ Âu Châu sang
định
cư tại các thuộc địa, một phần vì muốn tìm một cuộc sống mới sung túc và tự do
hơn, một
phần
vì chạy trốn những bức chế tôn giáo đối với người theo đạo Tin lành tại mẫu
quốc vào thập
niên
1770.
Các thuộc địa (13 tiểu bang nguyên thủy) ngày càng gia tăng quyền tự quyết của họ và sau
những
cuộc chiến tranh hằng chục năm chống lại các mẫu quốc thực dân và với cuộc
chiến tranh
Cách mạng
thành công. 13
tiểu bang nguyên
thủy chấp thuận
bản Tuyên Ngôn
Độc Lập
(Declaration
of Independence) ngày 4 tháng 7, 1776.
Các tiểu bang nguyên thủy này họp lại dưới
danh xưng Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ theo những
điều
khoản Liên Bang 1781 và đến năm 1789 được thay thế bằng bản Hiến pháp
(Constitution)
cho
chính quyền trung ương nhiều quyền hành hơn. George Washington là nhà lảnh đạo
của các
thuộc
địa trong cuộc chiến tranh dành độc lập và trở thành vị tổng thống đầu tiên của
Hiệp chủng
quốc
Hoa Kỳ (USA) 1789 - 1797 theo Hiến pháp.
b. Mở
rộng lãnh thổ - Tài nguyên thiên nhiên và Phát triển Kinh tế.
• Mở
rộng lãnh thổ
Sự
phát triển và phồn thịnh nơi vùng đất mới thời kỳ mới di dân và trong thời gian
trở thành
thuộc
địa trải dài trên một thế kỷ 1620 - 1776 tức từ năm chiếc tàu di dân đầu tiên
từ Âu Châu
cập
bến New York cho tới ngày lập quốc đã quyến rủ không biết bao nhiêu di dân từ
khắp Âu
Châu
sang lập nghiệp ở vùng đất mới. Bốn dòng di dân chính đến từ bốn quốc gia là
Anh quốc,
Pháp
quốc, Tây Ba Nha và Bồ Đào Nha vì những quốc gia này hồi đó có đội thương
thuyền hùng
mạnh.
Miền Đông Hoa Kỳ ngày trở thành đông dân, đất
đai bắt đầu khan hiếm về cư ngụ và phát triển
kinh
doanh. Người di dân thuộc giáo phái Thiên Chúa giáo Tin lành từ Âu Châu rất
năng động
và
cầu tiến, chiụ khó lao động, có tinh thần tự lập, thích khám phá và liều lỉnh
để làm giàu. Họ
quan
niệm sự giàu có là biểu hiệu thành đạt trong xã hội nên họ rất hảnh diện và tự
hào.
Một phong trào di dân ồ ạt tìm đất mới về
phía Tây sau dãy núi Appalachian chạy dài 1500 dặm
từ
St.Laurence, Gia Nả Đại phía Bắc xuống tận bang Alabama phía Nam. Đàng sau dãy
núi này
·
7
là một đồng
bằng rộng lớn
gồm rất nhiều
tiểu bang như
Iowa, Missouri, Nebraska, Kansas,
Colorado,
Oklahoma v..v…
Cửa ngỏ sang vùng đất mới phía Tây là tiểu
bang Missouri, và hiện nay tại thành phố St Louis,
bang
Missouri có xây một vòng cung rất cao trên bờ sông Mississipi tượng trưng cho
cửa ngỏ
sang
vùng phía Tây.
Cuộc sống di dân ở vùng đất mới phía Tây rất
náo nhiệt và xô bồ, bắn giết và trộm cướp xẩy ra
như
cơm bửa. Đó là một cuộc sống hoang dã trong một giải đất rộng mênh mông. Đó là
hình ảnh
chúng
ta nhìn thấy trong các cuốn phim “Cowboys” với đàn bò từng mấy ngàn con đi
xuyên
bang
do tài tử John Wayne đóng vai chính. Những cuộc phục kích bắn giết giữa người
lập nghiệp
da trắng
(White settlers) và
người thổ dân
da đỏ. Cuộc
đi tìm vàng
(Gold Rush) 1849 ở
California
cũng lôi kéo hàng triệu người từ miền Đông sang Tây.
Tại các vùng đất mới, người định cư dần dần
tổ chức cơ sở hành chánh, trật tự .v..v.. trở thành
tiểu
bang rồi xin gia nhập liên bang. Các tiểu bang ngoài đất liền có Alaska mua từ
Nga Sô năm
1867
và Hawaii sát nhập vào Hoa Kỳ năm 1895, và là tiểu bang cuối cùng gia nhập Liên
Bang.
Ngày
nay Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ có 50 tiểu bang, và nhiều vùng đất và đảo nhỏ nằm
dưới
quyền
bảo hộ của Hoa Kỳ. Về diện tích đất đai, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, nếu người viết
không
lầm
đứng thứ 5 sau Trung Cộng, Nga, Ấn Độ và Úc Châu.
• Tài
nguyên thiên nhiên
Mẹ
thiên nhiên ưu đải ban cho Hiệp Chủng
Quốc Hoa Kỳ một nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong
phú và đa dạng hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hoa Kỳ có tất cả các loại
quặng mỏ
lớn
nhỏ như sắt, thép, đồng, chì, than đá, dầu hỏa, khí đốt, uranium, đất hiếm,
vàng, bạc v..v..
Hoa
Kỳ có rừng vàng như ở bang Oregon với Washington và biển bạc bao bọc tứ phía.
Phía Bắc
có
Ngũ hồ rộng mênh mông. Phía Nam có vịnh Caribé. Phía Đông có Đại Tây Dương và
phía
Tây
có Thái Bình Dương. Hoa Kỳ đứng hàng thứ 4 trên thế giới về xuất cảng hải sản
hàng năm.
• Phát
triển kinh tế.
Về
công kỷ nghệ, Hoa Kỳ giữ vai trò số một trên thế giới hiện nay, đặc biệt các
ngành kỷ nghệ
có
kỷ thuật cao (high-tech industries) Tài hóa kinh tế đủ loại lan tràn trên thị
trường tự do, không
bao
giờ khan hiếm lâu. Hoa Kỳ cũng đứng đầu thế giới về Nông nghiệp, sản xuất tất
cả các loại
nông
phẩm như gạo, đậu nành, ngô khoai, lúa mì, các loại rau xanh và hoa trái. Hiện
nay Hoa Kỳ
chỉ
có 10% dân số sống về nghề nông không những cung ứng thực phẩm cho toàn nước Mỹ
mà
còn
xuất cảng và viện trợ cho các quốc gia nghèo trên khắp thế giới. Thực phẩm dư
thừa hàng
năm
tại Hoa Kỳ có thể nuôi sống một quốc gia nhỏ ở Phi Châu cả năm.
Về dịch vụ tư cũng như công, Hoa Kỳ cũng đứng
hàng đầu thế giới như nhà thương, đường sá,
cầu
cống, thương cảng, sân bay, ngân hàng, bảo hiểm, chuyên chỡ đường hàng không và
đường
thủy,
điện nước và khí đốt. Vì vậy mà Hoa Kỳ là cuờng quốc số một về kinh tế trong cả
thế kỷ
qua.
Mẹ thiên nhiên còn ban tặng cho Hoa Kỳ một khí hậu lý tưởng cho nông nghiệp,
nằm trong
vùng
khí hậu ôn đới, mưa nắng điều hòa, không mấy khắc khe.
·
8
Hẵn nhiên Hoa Kỳ cũng có những thiên tai như
động đất, cháy rừng, và lụt lội nhưng không
quá
khắc nghiệt.
c. George
Washington, 1732 – 1799.
George
Washington, vị tổng thống đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ 1789 - 1797, được
gọi
là
“Cha già Dân tộc” (Father of His Country)
Tổng thống Washington có kinh nghiệm quân sự
trong cuộc chiến chống Pháp và người da đỏ,
1754
- 1763, ông cũng là một chủ nông bang Virginia và nhà lảnh đạo chống lại chính
sách thuộc
địa
Anh quốc. Trong cuộc chiến tranh cách mạng, ông được bầu là Tổng chỉ huy
(Commander-
In-Chief),
đạo quân liên bang năm 1776.
Sau
chiến thắng tại Yorktown,
1781, ông chủ
tọa Đại hội
Hiến pháp Liên
bang (Federal
Constitutional
Convention) và giữ vai trò chính yếu trong việc chấp thuận Hiến pháp Hoa Kỳ.
Ông
Washington được toàn thể bầu chọn là tổng thống và thiết lập một chính quyền
liên bang
không
đảng phái (Non-partisan) được dân chúng nội địa và quốc tế kính trọng.
Chính sách liên bang và sự trung lập của ông
trong cuộc cách mạng Pháp năm 1789 đã gây ra
sự
chống đối của nhóm Jeffersonians (Thomas Jefferson, 1801-1809) tổng thống thứ
ba, đảng
tịch
Democratic-Republican dẫn đến việc thành lập đảng Cộng hòa, sau này đổi thành
đảng Dân
chủ.
d. Đảng
Dân chủ (The Democratic Party).
Đảng
Dân chủ trước đây là đảng Cộng hòa, là một trong hai chính đảng của Hiệp Chủng
Quốc
Hoa
Kỳ. Nguồn gốc cổ truyền (traditional origins) của đảng Dân chủ liên quan tới
chính sách
chống
đối của ông Thomas Jefferson nói ở trên tác giả bản Hiến pháp Hoa Kỳ.
Jefferson chống đối chính quyền liên bang của
tổng thống Washington, ủng hộ quyền lực tiểu
bang
và các quyền lợi của giới công nhân và tiểu nông. Đảng giữ tên Dân chủ cho tới
ngày nay.
Jefferson
thiết lập và tổ
chức đảng trong nhiệm kỳ tổng thống
Andrew Jackson, 1829 - 1837
đảng
tịch Dân chủ, tổng thống thứ bảy của Hoa Kỳ.
Năm 1854, đảng Dân chủ phân tán vì vấn đề nô
lệ và liên kết với miền Nam chủ trương sở hữu
nô
lệ cho tới khi bị đánh bại bởi tổng thống Abraham Linlcon 1861 - 65, tổng thống
Cộng hòa
đầu
tiên và là thứ 16 Hoa Kỳ.
e. Đảng
Cộng hòa (The Republican Party).
Đảng
Cộng hòa là đảng Dân chủ trước đây, là một trong hai chính đảng của Liên hiệp
Chủng
quốc
Hoa Kỳ. Đảng Cộng hòa được thành lập 1854 bởi những nhóm chống nạn nô lệ nhờ chiêu
dụ
được nhiều thành phần thuộc nhóm “Whigs, Free soilers, và No-nothings” chống
đối nạn nô
lệ.
·
9
Đảng Cộng hòa nhanh chóng tạo được quyền lực
ở miền Bắc Hoa Kỳ và tổ chức đại hội đầu
tiên
1856. Abraham Linlcon trở thành tổng thống Cộng hòa đầu tiên 1861, và chấm dứt
chế độ
sở
hữu nô lệ.
E. Cuộc
Hôn nhân (Liên kết) lý tưởng giữa nền Chính trị Cộng hòa và nền
kinh
tế Tư bản Hoa Kỳ.
1/ Bối cảnh.
Vào thế kỷ XVIII Âu châu nói chung và Anh
quốc nói riêng có nền công kỷ nghệ và thương
mại
phát triển mạnh dựa trên chủ thuyết mại bản (mercantilism) và bảo hộ
(protectionism).
Sau này cuộc cách mạng kỷ nghệ (Industrial
Revolution) 1848 tại Anh quốc càng làm quốc gia
này
phát triển kỷ nghệ mạnh hơn với nhiều sáng chế kỷ thuật như máy chạy bằng hơi
nước .v..v..
Trong thế kỷ này, có rất nhiều luồng tư tưởng
kinh tế đề cập tới mọi hoạt động kinh tế trong xã
hội.
Có nhiều kinh tế gia (Economists), triết gia kinh tế (Economic Philosophers) và
tư tưởng gia
kinh
tế (Economic Thinkers) xuất hiện, phần lớn từ Âu châu, đặc biệt từ Anh và Đức
quốc vì hai
quốc
gia này thời đó có nền kinh tế khá phát triển.
James Mill, George Marshall, và David Ricardo
với bài khảo luận về “Nguyên lý Tiền tệ và
Thuế
má” (Theory of Money and Taxation),
David Ricardo cũng là người sáng lập ra trường
phái
kinh tế cổ điển (The
classical School of
Economics). Còn phải
kễ tới Thomas
Robert
Mathus
1766 -1834 người Anh với bài khảo luận nổi tiếng về Dân số (Essay on the Principle
of
Population).
Theo Malthus thực phẩm tăng theo cấp số Cộng, dân số tăng theo cấp số Nhân do
đó
nhân loại sẽ gặp nạn nhân mãn (Over- population)
Adam Smith (1723 - 1790) cũng trong thế kỷ
này là một kinh tế gia nổi tiếng người Tô Cách
Lan.
Ông đúc kết và hệ thống hóa các tư tưởng kinh tế đơn lẻ đương thời trong tác
phẩm nổi
tiếng
“Sự giàu có của các quốc gia” (Wealth of Nations) xuất bản năm 1776 và từ cuốn
sách này
chủ
thuyết Tư bản ra đời (The Capitalist Economy).
2/ Nền kinh tế Tư bản và nền Chính trị Cộng hòa
Hoa Kỳ.
Chủ
thuyết Tư bản và nền kinh tế Tư bản Hoa Kỳ tựa trên ba nền tảng: Bình đẳng, Tự
do và Tư
hữu,
là ba món quà (hồng ân hay ơn huệ) mà Tạo hóa (Thượng đế) ban cho con người như
trong
Thánh
kinh Thiên Chúa giáo. Con người sinh ra đều bình đẳng, có tự do và phải lao
động tạo ra
tư
hữu.
Các nhà lập quốc Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ phần
lớn là các tín hữu Thiên Chúa giáo Tin lành
đã
được nuôi dưỡng, đào tạo và thấm nhuần tín lý Thiên Chúa giáo Tin lành, nên
không lạ gì các
Ngài
đã nhắc đến Thiên Chúa (Under God) 4 lần trong bản Hiến pháp Hoa Kỳ. Các Ngài
cũng
đặt
tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa đối với quốc gia Hoa Kỳ (Xin đọc
Live free or
Dead
- Sean Hannity). Trong tiền giấy đô la Mỹ cũng in chữ “Chúng tôi tin vào Thiên
Chúa” (In
God
we trust).
·
10
Như vậy chúng ta có thể kết luận với bản Hiến
pháp tuyệt vời ghi rõ các quyền thiên định bất
khả
xâm phạm “Bình đẳng, Tự do và Tư hữu” cũng là những nền tảng mà nền kinh tế tư
bản chủ
trương,
và ông Adam Smith là người đại diện. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã có chủ đích
thiết lập
sự
liên kết (hôn nhân) không phải ngẩu nhiên, giữa nền chính trị Cộng hòa và nền
kinh tế Tư bản
Hoa
kỳ.
Cũng xin nói thêm, với ba nền tảng nói trên,
Adam Smith, đại diện cho chủ thuyết kinh tế Tư
bản,
chủ trương chính
sách “Bất can
thiệp” (non - interference) hay “không
nhúng tay vào”
(Hand-off)
của chính quyền vào nền kinh tế. Nền kinh tế Tư bản phải bảo đảm tự do cạnh
tranh,
xí
nghiệp tư nhân, không có xí nghiệp quốc doanh. Mọi hoạt động kinh tế do cơ chế
thị trường
(Market
Mechalism) với luật cung cầu hướng dẫn và điều chỉnh. Ông cho rằng chính sách
bất
can
thiệp của chính quyền vào nền kinh tế là phương thức tốt và hữu hiệu nhất để
tạo ra sự giàu
có
và hạnh phúc tối đa.
Ông cũng chủ trương để cho cá nhân tự do làm
giàu, và như vậy quốc gia cũng trở nên giàu có.
Theo
các tín hữu Thiên Chúa giáo Tin lành làm giàu không phải là một tội lỗi hay cái
gì xấu mà
đó
là kết quả thành công trong xã hội. Giáo hội Công giáo La mã không khuyến khích
làm giàu
vì
cho rằng sự giàu có dễ đưa đến cuộc sống sa đọa và tội lỗi. Sự khác biệt giữa
hai quan điểm
trên
cho thấy, trong thực tế, các quốc gia theo tín lý Thiên Chúa giáo Tin lành
thường giàu có và
thịnh
vượng hơn các quốc gia theo tín lý Công giáo La mã. Nhìn vào Hoa Kỳ và các quốc
gia
Nam
Mỹ thì thấy rõ.
F. Thành
quả của Cuộc Hôn nhân.
Hiệp
Chủng quốc Hoa Kỳ là một quốc gia rất non trẻ, chỉ mới có 244 năm tuổi, so với
các quốc
gia
khác trên mặt địa cầu, tiếp tục đứng vững và phát triển. Đặc biệt trong thế kỷ
qua đã phát
triển
và phồn thịnh phi thường để trở thành cường quốc số một, tương đối ổn định về
chính trị,
phát
triển vượt bực về kinh tế và quân sự trên thế giới.
1/
Trên bình diện Chính trị và Xã hội.
Ngoại trừ cuộc nội chiến Nam-Bắc về chế độ nô
lệ, phân biệt chủng tộc và những cuộc nổi loạn
đơn
lẻ địa phương vì nhiều động cơ khác nhau, chính quyền hai đảng Cộng hòa và Dân
chủ lần
lượt
thay đổi, nhưng luôn luôn
cộng tác và sát cánh
nhau tìm giải
pháp giải quyết,
tuy rằng
những
phương thức giải quyết có thể khác nhau, nhưng tựu trung đều vượt qua và mang
lại ổn
định
và an toàn. Về nhân quyền, người viết xin khỏi bàn tới, vì quý vị đang trải
nghiệm hiện nay.
2/
Trên Bình diện kinh tế.
Người viết cũng xin khỏi dài dòng. Đại đa số
quý vị đang được hưởng những tiện ích vật chất
và
tinh thần thoải mái. Tài hóa kinh tế và dịch vụ với phẩm chất cao lan tràn trên
thị trường tự
do.
Lương thực đủ loại không bao giờ thiếu.
Rất nhiều người, đủ mọi thành phần xã hội
thực hiện được “Giấc mơ Mỹ” (American Dream).
Trên
thế giới có giấc mơ nào đâu!
·
11
Đâu có quốc gia nào trên thế giới mà một gia
đình có hai hay ba chiếc xe hơi chạy trên mạng
lưới
xa lộ sạch sẽ và rộng thênh thang trên khắp nước Mỹ, còn biết bao nhiêu điều
tốt đẹp khác
người
viết không thể kể tới mà quý vị cũng đang chứng kiến và trài nghiệm.
Một điểm rất quan trọng nữa không thể không
nêu ra là các công ty cá nhân, liên hiệp hay cổ
phần
trong nền kinh tế tư bản Hoa Kỳ đã được dân chủ hóa, nghĩa là tài sản của các
công ty này,
do
hàng ngàn cá nhân làm chủ qua việc mua các cổ phần (stocks) trong mỗi công ty.
Không một
công
ty nào lớn hay nhỏ, khi muốn phát triển mà không phải bán cổ phần để gây vốn
thêm. Phần
lớn
các cá nhân chủ công ty chỉ sở hữu khoảng 50% tổng số tài sản, còn lại 50%
thuộc quyền sở
hữu
của các cổ đông cá nhân (stockholders). Đây là một điểm son của nền kinh tế tư
bản Hoa Kỳ
mà
Karl Marx không tiên đoán trước được.
Ngoài ra, trong các nền kinh tế tư bản tự do
ngày nay, các nghiệp đoàn lao động mọi ngành
được
tự do thành lập và bảo đảm theo luật pháp. Các công nhân nghiệp đoàn được bảo
vệ về
lương
bổng, bảo hiểm và môi trường làm việc qua các khế ước mà các nghiệp đoàn lao
động
thương
thảo và ký kết với các sở hữu chủ công ty.
Đây là một nhược điểm trong lý luận của Karl
Marx về nền kinh tế tư bản. Karl Marx đã quên
rằng
nền kinh tế và chính trị của một quốc gia, theo thời gian phải luôn luôn biến
chuyển theo
trào
lưu tư tưởng của con người để thích ứng và tồn tại. Khi có ức hiếp và bất công
quá đáng
trong
xã hội, tất nhiên sẽ có sự phản kháng của một cá nhân hay một nhóm người xuất
hiện để
đòi
hỏi sự sửa sai. Đó là trường hợp các nghiệp đoàn công nhân xuất hiện. Các
nghiệp đoàn công
nhân
ngày nay rất mạnh về chính trị cũng như kinh tế. Hãy nhìn vào nước Pháp hiện
nay, Tổng
liên
đoàn lao công Pháp có thể làm tê liệt nền kinh tế Pháp bằng một cuộc tổng đình
công và đôi
khi
có thể lật đổ một nội các.
3/
Trên Bình diện Quân sự.
Người viết không dám “múa rìu qua mắt thợ”.
Quý vị chắc biết nhiều hơn người viết về lảnh
vực
này. Hoa Kỳ là cường quốc quân sự số một trên thế giới hiện nay với hải, lục
không quân và
không
gian với nhiều võ khí tối tân.
4/
Trên Bình diện Ngoại giao.
Hoa Kỳ luôn luôn được các quốc gia khắp trên
địa cầu kính nể. Các quốc gia nghèo khắp năm
châu được
Hoa Kỳ giúp
đỡ khi gạp
hoạn nạn. Rất
nhiều các chương
trình phúc lợi y tế
.v..v…được
các tổ chức thiện nguyện và từ thiện giúp đỡ. Các quốc gia đồng minh được Hoa
Kỳ
viên
trợ và bảo vệ tối đa. Công dân Hoa Kỳ đi đến đâu cũng được chào đón và kính nể.
Không
một
ai trên thế giới mà không mơ ước được trở thành công dân Hoa Kỳ và được sinh
sống tại
đây.
·
12
G. Chủ
mưu phá hoại cuộc Hôn nhân.
1/ Ý
thức hệ Cộng sản
Karl Marx (1813–1883) người Đức, Engels
(1820-1895) đồng tác giả bản “Tuyên ngôn Cộng
sản”
(The Communist Manifesto-1884). Marx viết riêng cuốn sách nổi tiếng “Tư bản
luận” (Das
Capital-1867)
đả kích kịch liệt học thuyết kinh tế tư bản vì những bất công xã hội do nền
kinh tế
tư
bản tạo ra.
Có hai điểm của Marx mà người viết muốn đề
cập tới ở đây.
a. Giá
trị thặng dư (Surplus Value).
Ở
Anh quốc vào năm 1848 cuộc Cách mạng kỷ nghệ bùng nổ (Industrial Revolution).
Các xí
nghiệp
kỷ nghệ mọc lên như nấm nhờ các phát triển kỷ thuật sản xuất như máy hơi nước
và các
phát
minh khác thuộc mọi ngành.
Các doanh nhân, lúc đó phần lớn là kinh doanh
dưới hình thức cá nhân (sole proprietor), gia
đình
hay hùn hiệp (partnership). Nhằm gia tăng doanh lợi tối đa, đương nhiên có một
số doanh
nhân
thiếu lương tâm, bất kể đạo lý, và nhân tính đã bóc lột công nhân tàn nhẩn bằng
cách trả
mức
lương rẻ mạt, môi trường làm việc tồi tệ thiếu vệ sinh. Công nhân không có bảo
hiểm thất
nghiệp
cũng như bảo hiểm nghề nghiệp khi có tai nạn xảy ra trong lúc làm việc .v..v…
Công nhân không được phép lập nghiệp đoàn hay
đình công. Nói tóm lại công nhân hồi đó
gặp
đủ mọi ức hiếp và khó khăn mà lại không được chính quyền bảo vệ. Chính quyền
thường
đứng
về phía doanh nhân.
Xã hội luôn luôn biến đổi (to evolve) không
đứng yên tại chỗ. Khi bị ức hiếp cùng cực, tức có
phản
kháng do những nhóm người nào đó ý thức được quyền lợi và trách vụ. Họ sẽ đứng
lên
tranh
đấu. Theo người viết Karl Marx không nhận thức được điều này. Và điều này đang
xảy ra.
Đó
là các nghiệp đoàn lao động hiện nay, lực lượng đối kháng rất mạnh về kinh tế
và chính trị
trong các quốc gia
kỷ nghệ như Nghiệp đoàn
Lao động và kỷ nghệ Hoa Kỳ
(American
Federation
of Labor - Congress of Industrial Organizations AFL-CIO) hay Tổng Liên đoàn Lao
công
của Pháp.
Ngày nay giá trị thặng dư do sự bóc lột nhân
công không còn nữa vì công
nhân được các
nghiệp
đoàn bảo vệ qua các khế ước lương bổng.
b. Làm
theo Khả năng, hưởng theo Nhu cầu.
Đây là lời hứa viển vông và ảo tưởng mà Marx
hứa trong một thế giới cộng đồng (The World
Community)
hay một thiên đàng ảo tưởng (Utopia) trong đó mọi người là anh em yêu thương
nhau,
bình đẳng không có giai cấp và cũng sẽ không có chính quyền cai trị trong tương
lai. Karl
Marx
đề cập tới chủ nghĩa Cộng sản trong tác phẩm Tư bản luận của ông.
·
13
Thật là phi lý và bất công một bác sĩ và một
công nhân làm việc mà lại được hưởng phúc lợi
như
nhau, tùy theo nhu cầu của mỗi người mà nhu cầu là vô hạn, không bao giờ thỏa
mản nỗi,
hơn
nữa làm sao có đủ tài nguyên thiên nhiên để sản xuất các tài hóa kinh tế và
dịch vụ tiêu thụ
để
thỏa mãn mọi người.
Thật là một cái bánh vẻ hấp dẩn mà các bạo
chúa như Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ
Chí
Minh, cùng với viêc lợi dụng lòng yêu nước mốn thoát khỏi chế độ thuộc địa của
người dân
đã
đẻ ra chủ nghĩa và nhà nước Cộng sản để cai trị và nô lệ hóa toàn dân. Đây là
những bạo
chúa
tàn ác ngụp lặn trong quyền lực thống trị.
2/
Xã hội Chủ nghĩa (Socialism).
Ý thức hệ và chính quyền cộng sản từ cái nôi
của nó Nga Sô Viết rồi các quốc gia Bắc Âu,
Trung
quốc và Việt Nam kéo dài cả gần thế kỷ qua đã phá sản và sụp đỗ hoàn toàn nên
phải lột
xác
khoác lấy cái áo mới “Xã hội Chủ nghĩa” để sống còn, vì đã không mang lại cơm
no áo ấm
và
hạnh phúc cho nhân dân.
Một nhóm chính trị gia tham quyền núp dưới
bóng một đảng phái chính trị độc tài tham quyền
để
tồn tại buộc phải nới lỏng 13ong cùm xiềng xích trói cổ nhân dân bằng cách nới
lỏng sự
kiểm
soát cuộc sống của nhân dân trên bình diện chính trị và kinh tế. Sự nới lỏng chính trị như
cho
thiết lập các nghiệp đoàn quốc doanh, đảng phái tay sai, giáo hội quốc
doanh v…v… Sự
nới
lỏng kinh tế như kinh doanh tư nhân với cơ chế thị trường theo luật cung cầu,
nhưng quốc
doanh
vẫn giữ vai trò chủ đạo núp dưới cái áo “Kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ
nghĩa”
ở Việt Nam hay “Kinh tế Tư bản nhà nước” như ở Trung quốc.
H. Đảng
phái, Cá nhân, Giới truyền thông thổ tả và nhóm tài phiệt Mafia
và
thuyết Âm mưu trong chính trường Hoa Kỳ.
1/
Đảng Dân chủ (The Democratic Party).
Trước hết chúng ta phải tìm hiểu ý thức hệ
Dân chủ (Democracy) là gì? Dân chủ được hiểu phổ
quát
là Người Dân là Chủ, tự quyết định sinh mạng và cuộc sống của mình, vì không
thể sống
đơn
lẻ, độc lập và tự lập nên phải tham gia vảo một tổ chức xã hội dân sự đẻ tồn
tại trong đó mỗi
thành
viên có quyền lợi và trách nhiệm.
Qua kinh nghiệm thực tế, phương thức tổ chức
một xã hội dân sự tốt đẹp và hữu hiệu nhất để
bảo
vệ các quyền thiên định “Bình đẳng, Tự do, Tự hữu” là người dân được trực tiếp
và tự do
chọn
và bầu người đại diện xứng đáng cho mình để điều hành tổ chức xã hội dân sự
theo quy luật
“Đa
số thắng Thiểu số và Thiểu số phục tùng Đa số”, là quy luật hợp lý và công bằng
nhất.
Đảng dân chủ với danh xưng trên phải tuyệt
đối tuân theo. Quy luật này đã được áp dụng và
tuân
thủ trong suốt lịch sử chính trị Hoa Kỳ cho tới gần đây, 2016.
Chỉ một số nhỏ các chính trị gia đảng viên
đảng Dân chủ như thượng nghị sĩ, dân biểu liên bang
và
tiểu bang, thống đốc tiểu bang và thị trưởng thành phố cấp tiến thiên tả v..v..
vì quyền lợi cá
·
14
nhân,
tiền và quyền lực, hay đảng phái, đang tâm muốn xóa bỏ nền chính trị Cộng hòa
và nền
kinh
tế Tư bản Hoa Kỳ trong đó họ đã có quá nhiều ưu đãi về quyền lợi, nhưng họ vẫn
chưa thỏa
mãn.
Họ muốn còn có nhiều tiền và quyền lưc hơn nữa trong mô thức xã hội chủ nghĩa.
Bọn này
muốn
kiểm soát và nô lệ hóa nhân dân hơn nữa.
2/
Các cá nhân mưu toan phá hoại trong đảng Dân chủ.
Thật đáng buồn, sau chính quyền Cộng hòa do
Tổng thống Ronald Reagan lãnh đạo xuất sắc,
chính
quyền Cộng hòa Bush cha và Bush con bất tài và nhu nhược hoặc quá bận bịu với
hai cuộc
chiến
tranh ở Trung Đông, Iraq và Afganistan nhằm chiếm đoạt các mỏ dầu hỏa to lớn
thủ lợi
cho
đế chế gia đình dầu hỏa, nên để Hoa Kỳ ngày càng yếu kém về kinh tế và quân sự
so với
Trung
quốc đang trổi dậy vượt bực.
Xui hơn
nữa, chính quyền
Dân chủ Bill
Clinton và Barack
Obama trong suốt
16 năm cầm
quyền,
vì quyền lợi cá nhân hay đảng phái, đã ăn nằm với Trung quốc âm mưu phá nền
chính trị
Cộng
hòa và nền kinh tế Tư bản Hoa Kỳ để trở thành mô thức chính trị và kinh tế xã
hội chủ
nghĩa
dưới trướng xã hội chủ nghĩa Trung quốc do dòng Đại Hán chủ đạo với mưu đồ bá
chủ thế
giới.
a/ Bill
Clinton (2 nhiệm kỳ, 1993-2001)
Bill Clinton đắc cử tổng thống hai nhiệm kỳ
1993, 2001 là do nhóm tài phiệt triệu và tỹ phú
Dân
chủ và nhất là Trung quốc bảo trợ và yểm trợ tài chánh với cả chục triệu đô la
mỗi kỳ (đọc
Year
of the Rat và Red Dragon Rising- Edward Timperlake và William Triplett
II).
Bill Clinton là một kẻ đắm đuối trong sắc
dục, tham nhủng tiền bạc nên không ngần ngại bán rẻ
linh
hồn cho Trung quốc và quên lảng trách nhìệm nguyên thủ lảnh đạo một đại cường
quốc.
Tôi lỗi của cặp vợ chồng Clinton-Hillary
không bút mực nào tả hết, từ việc tiết
lộ bí mật quốc
phòng,
quân sự, kỷ thuật không gian, kinh tế, tài chánh, cơ cấu chính quyền liên và
tiểu bang, các
bí
mật kỷ thuật cao trong các xí nghiệp sản xuất chiến lược.
Ông thả lỏng không kiểm soát các chương trình
trao đổi các khoa học gia, giáo sư đại học, các
nghiên
cứu sinh trong các trung tâm nghiên cứu thuộc mọi lãnh vực trong đó các điệp
viên tình
báo
Trung quốc ngang nhiên hoặc âm thầm bí mật ăn cắp sở hữu trí tuệ. Các chương
trình trao
đổi
và nghiên cứu đều do Trung quốc tài trợ.
Sau khi đọc cuốn sách “The Clintons’ war on
women” (Roger Stone và Robert Morrow) người
viết
một phần nào thông cảm và thương hại Ông vì Ông là nạn nhân của một bà vợ
Hillary thông
minh,
mưu lược và gian ác, ngụp lặn trong tiền bạc và quyền lực, đã kiểm soát và áp
đảo ông
ngay
cả chửi thề, nguyền rủa ông trong cuộc sống vợ chồng, không phải một lần mà cả
trăm lần
(Xin
đọc cuốn sách nêu trên). Người viết không thể tưởng tượng nổi, thật tội nghiệp
cho ông!
Ngoài xã hội, Bill Clinton là một tổng thống
uy quyền của một đại cường quốc, nhưng trong gia
đình,
ông thực sự sống trong cô đơn, buồn tủi và nhục nhã bởi một người đàn bà đáng
ghê tởm.
Có
không biết bao vụ bạo hành trong gia đình mà người gây ra chính là Hillary,
Clinton chỉ là
nạn
nhân.
·
15
Không biết có bao nhiêu đàn bà, con gái son
trẻ đi qua đời Bill Clinton, từ khi ông
là Tổng
Chưởng
lý rồi Thống đốc tiểu bang Arkansas, một chính trị gia sáng giá đang lên để
cuối cùng
trở
thành tổng thống thứ 42 của Hoa Kỳ. Bill Clinton, được Ông trời sinh ra là một
chàng trai
thông
minh, hào hoa, ngoại hình rất đẹp trai, lại ăn nói quyến rủ đối với phái nữ.
Nghệ thuật quyến rủ đàn bà và
con gái của ông là đưa những người này lên tận mây xanh.
Trước
mặt ông, bà nào, cô nào đều là duyên dáng, nhan sắc vẹn toàn và là số một.
Chuyện ông
bay
bướm nhăng nhít cũng là lẽ thường. Điều đáng trách là ông đã quên trách nhiệm
lảnh đạo cả
môt
đại cường quốc lại tiếp tay cho một địch thủ đáng gờm đang lăm le đoạt ngôi vị
cường quốc
số
một của quốc gia và dân tộc mình.
b/ Barack
Obama (2 nhiệm kỳ 2009-2017)
• Tiểu
sử - gia cảnh.
Barack
Obama là ai? Theo lương tâm người viết quả thực không thích và có phần khinh
miệt
Barack
Obama không phải ông là người da đen, nhưng vì những âm mưu chính trị đen tối
của
ông
muốn phá nát nền chính trị Cộng hòa và nền kinh tế Tư bản Hoa Kỳ, mặc dầu ông
chỉ là con
tốt
đen múa máy quay cuồng của một thế lực tài phiệt đứng đàng sau điều khiển.
Người viết
không
biết gọi ông là gì cho tương xứng.
Barack Obama sinh ra từ một gia đình nghèo
theo Hồi giáo ở Kenya, có quốc tịch Kenya được
xác
định bởi giấy khai sinh do người anh cùng cha khác mẹ hiện đang nắm giữ trong
tay. Hai anh
em
này ít liên lạc với nhau và không bao giờ Barack chấp nhận chụp chung với người
anh dù
được
yêu cầu, có lẽ vì sợ lộ danh tánh. Người anh đã có lần trưng bằng chứng giấy
khai sanh có
in
dấu bàn chân của Obama cho công chúng xem.
Cha ghẻ của Obama là một nhân viên của một
công ty tư vấn kinh doanh quốc tế lớn và uy tín
do
Henry Kissinger làm chủ. Obama đã được cha ghẻ
giới thiệu với Kissinger ông này được
nhận
bảo trợ và đào tạo Obama trở thành điệp viên tình báo cho mưu đồ đi đêm với
Trung quốc.
Trước khi tham gia chính trường, Barack Obama
chỉ là chàng sinh viên vô danh tiểu tốt, đang
theo
học Columbia khá nổi tiếng ở thành phố New York, bang New York, sau đó vào đại
học
Harvard,
bang Massachusett học tiến
sĩ luật, nhưng
không thi bằng
luật sư. Cho
tới bây giờ
không
ai biết ông thời trung học và đại học. Chỉ gần đây có một cựu sinh viên đồng
lớp ở đại học
Columbia
nhớ tới tên ông. Thi vào được đại học Harvard, không biết vì ông là một sinh
viên
thông
minh, xuất sắc thi đậu hay thuộc diện sắc dân thiểu số được ưu tiên vì mỗi năm
đại học
này
thường dành một số chỗ cho sinh viên thuộc diện này.
Với chút tài ăn nói, năng động và cầu tiến
Obama từng là chủ bút tờ báo của trường. Các sinh
viên
đồng lớp tại
Harvard không ai
biết tới ông
cho tới khi
ông là thượng
nghị sĩ của bang
Illinois
rồi tổng thống 44 của Hoa Kỳ.
Không ai hay một tờ báo cho biết Obama lập
gia đình ở đâu, khi nào. Ai là phụ rể và hai người
con
gái sinh ra bao giờ và ở đâu.
·
16
Có điều làm cho người viết thắc mắc hoài,
thật hư ra sao không biết là có rất nhiều bức hình
trên
Youtube cho thấy Obama và Hillary ôm nhau rất thân mật như một cặp tình nhân
đang yêu
nhau
rất say đắm. Đây là những bức hình được chụp công khai công chúng đều biết. Bà
Michelle
chắc
chắn phải biết, nhưng không có chút phản ứng ghen tuông nào, tỉnh bơ như không
có gì xảy
ra.
Bill Clinton thì chắc chắn không quan tâm gì vì có biết bao cô con gái trẻ đẹp
sẳn sàng đến
với
ông. Người viết cứ thắc mắc không lẻ Michelle chuyển giống và Obama với
Michelle là cặp
đồng
tình luyến ái. Hai cô con gái chỉ là con nuôi. Quý vị người đọc có ý kiến gì
không, xin cho
biết.
Thưa quý vị người đọc, còn 2 tháng nữa ngưới
viết bước sang tuổi 86, Barack Obama chỉ đáng
tuổi
con cháu chứ không ngang hay trên tuổi người viết, vì vậy những dòng dưới đây
nói lên ấn
tượng
của người viết về ông ấy mà không nghĩ mình là vô văn hóa. Barack Obama đã để
lại cho
người
viết những dấu ấn!
1. Barack Obama khoác cái áo Dân chủ giả tạo. Là
đảng viên, một tổng thống lãnh đạo
đảng
Dân chủ lại phá vở và chà đạp quy ước Dân chủ “Đa số thắng thiểu số và Thiểu số
phục
tùng
Đa số” Thật đúng như danh ngôn Pháp nói “Chiếc áo không làm nên thầy tu”
(L’habit ne
fait
pas le moine). Obama thiếu một tinh thần mã thượng, hành xử như một tên hạ cấp,
điếm vặt
trong
một cuộc chơi, khi thua phải chấp nhận, không được phá đám, chọc gậy bánh xe.
2. Xuất
thân từ một gia đình nghèo, tầm thường, một quốc gia nghèo mạt Kenya, Phi châu,
Obama
đã khai man sinh ở Hawaii, công dân Hoa Kỳ để ra ứng cử chức vụ tổng thống.
Với sự mặc cảm da đen đầy mình và tính cao
ngạo, tại tòa Bạch ốc, trong phòng làm việc nhiều
lần
Obama gác hai chân lên trên bàn trong khi tiếp xúc với thuộc cấp. Những người
da trắng tiếp
xúc
với ông chắc phải là những người có chức quyền, ít ra cũng có cố vấn, tổng bộ
trưởng hay tệ
nhất
cũng là giám đốc các sở trong tòa Bạch ốc.
3. Trong
8 năm cầm quyền, chính quyền của ông như một nồi cám heo. Trong các bộ,
như
bộ
Ngoại giao, bộ Thương mại, bộ Nội vụ, bộ Tư pháp và các cơ quan như CIA, FBI,
Bưu điện
và
Thuế vụ, ông thả lỏng để các đảng viên Dân chủ có chức quyền tha hồ cấu kết, bao
che để
tham
nhủng. Thật đúng là “Thượng bất chính hạ tắc loạn”. Mỗi bộ ngành là một chính
phủ ngầm
(Deep
State) trong đó những người có quyền lực tha hồ thao túng, xâu xé nhau để kiếm
chác (xin
đọc
The Deep State - Jason Chaffetz).
4. Barack
Obama là một tổng thống sử dụng công quỹ, chi tiêu phung phí nhất trong các đời
tổng thống gần đây. Chi tiêu công, tiền thuế
của dân, trong hai nhiệm kỳ gấp đôi chi tiêu công
trong
2 nhiệm kỳ của Bush con. Nợ công bằng tổng số nợ công của 4 tổng thống tiền
nhiệm.
5/
Xuất thân từ một gia đình nghèo, hẵn nhiên tiền bạc là một miếng mồi hấp
dẫn. Obama
từng
xuất ngoại vì công vụ hay nghỉ dưỡng trên 48 quốc gia bằng chiếc Air Force One
với bầu
đàn
thuộc cấp và thành viên gia đình, tất cả 80 người, dỉ nhiên ở trong những khách
sạn 5 sao
·
17
trang
trọng. Sau khi rời tòa Bạch ốc vợ chồng
Obama đã thụ đắc một gia sản cả 100 triệu đô la
so
với trước khi đắc cử chỉ có chưa tới 2 triệu đô la.
6/
Cặp bài trùng Barack - Hillary còn bán một phần Uranium cho địch thù Nga
và Nga đã lại
quả
145 triệu đô la vào quỹ Clinton Foundation trong khi Hoa Kỳ đang thiếu Uranium.
Cặp bài
trùng
này còn ngấm ngầm đồng ý giao Đài Loan và toàn vùng Biển Đông cho Trung quốc và
chắc
chắn cũng nhận được một lại quả không nhỏ.
Trước khi rời toà Bạch ốc ông ký một sắc lệnh
hành chánh thiết lập một quỹ riêng 2,1 tỷ đô la
để
trang trải chi phí hưu dưỡng và du lịch cho tới 2036. Bà mẹ vợ cũng được trợ
cấp tiền hưu
dưỡng
13 ngàn đô la một tháng. Người viết đã sáng suốt không bầu cho ông trong hai
nhiệm kỳ.
• Sự
nghiệp chính trị.
Sự nghiệp chính trị của Barack Obama thăng
tiến rất nhanh, đốt giai đoạn. Ông chỉ có một ưu
thế
là da đen, sinh sống trong một thành phố Chicago ở bang Illinois và cư dân phần
lớn là người
da
đen. Ông đã nhảy vọt từ thượng nghị sĩ tiểu bang lên thượng nghị sĩ liên bang
rồi trúng cử
tổng
thống Hoa Kỳ.
Chắc chắn phải có một quyền lực chính trị và
tài phiệt rất mạnh bảo trợ và yểm trợ tài chánh
tranh
chức thượng nghị sĩ liên bang Illinois, rồi được đề cử tranh cử tổng thống năm
1908 với hai
nhiệm
kỳ.
Theo thiển ý người viết, về mặt chính trị, cú
đêm Henry Kissinger đã là người nhào nặn nên
Obama
chắc phải ủng hộ. Về mặt tài chánh, có nhiều nhà tài phiệt triệu và tỹ phú đảng
Dân chủ
tài
trợ như George Soros, chủ nhân hảng Coca Cola, Bill Gates, Microsoft va
Bloomberg, tỉ phú
truyền
thông. Đảng Dân chủ có nhiều triệu và tỉ phú hơn đảng Cộng hòa rất nhiều, chắc
do làm
ăn
bất chính nên không hợp với Cộng Hòa.
Ngoài ra Obama còn được đánh bóng tối đa bởi
nhóm truyền thông thiên tả. Một yếu tố khác
cũng
quan trọng không kém là dân chúng Mỹ trong quá khứ thường có thông lệ cứ mỗi 8
năm là
muốn
thay đổi tổng thống đảng cầm quyền, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt.
Người viết chưa tìm thấy những chứng cớ nào
Barack Obama có liên hệ làm ăn với Trung quốc
sâu
đậm đến mức nào và được tài trợ ra sao. Nhưng chắc chắn là Obama cũng đã tiếp
tay cho
Trung
quốc bằng cách thả lỏng cho điệp viên Trung quốc thao túng nền chính trị và
kinh tế Hoa
kỳ
mà không dám đối đầu và chận đứng, có lẽ vì bất tài hay e sợ Tập Cận Bình, tên
cáo gìa dòng
Hán
tộc.
• Chủ
mưu và Hành động phản Dân chủ.
Barack Obama là chủ mưu phản nguyên tắc Dân
chủ “Đa số thắng Thiểu số và Thiểu số phục
tùng
Đa số” được Hiến pháp Hoa Kỳ xác quyết từ ngày lập quốc. Đảng của ông mang nhản
hiệu
·
18
“Dân
chủ” mà lại chà đạp nguyên tắc cố hữu và truyền thống này của Cha Ông. Thật là
khốn nạn
và
bỉ ổi!
Trong suốt lịch sử tổng thống Hoa Kỳ trải dài
244 năm mà lại có một tổng thống tiền nhiệm tìm
mọi
mưu mô xảo quyệt để lật đổ một tổng thống đương nhiệm được đại đa số cử tri bầu
lên theo
đúng
Hiến pháp. Giả thử Tổng thống Bush con hành động như vậy, Ông nghĩ sao? Chỉ có
loại
tổng
thống da đen đê tiện, tiểu nhân mới hành động như vậy.
Trong một cuộc chơi dân chủ, thua thì phải
chấp nhận và có thiện chí cộng tác phục vụ quyền
lợi
đất nước và dân tộc, sao lại thọc gậy bánh xe phá thối. Thật là đê hèn đáng
khinh!
Obama không trừ một thủ đoạn hèn hạ và hạ cấp nào như giả tạo chứng cớ nhằm truất phế
Donald
Trump, ngụy tạo vụ giết George Floyd bởi cảnh sát viên da trắng, xúi giục bọn
“Black
lives
matter” và “Antifa” biểu tình đốt phá, trộm cướp và giết người, đập phá các
tượng đài vĩ
nhân,
nhà thờ và tượng Chúa Mẹ ..v..v…
Bọn khốn nạn này gây ra biết bao thiệt hại
vật chất và tinh thần cho giới tiểu thương và những
người
dân lành vô tội.
Thế mà
Obama, cùng với
ứng cử viên
tổng thống Biden
và bọn đảng
Dân chủ câm
miệng
không
hề lên tiếng phản kháng. Thật là một lũ tội đồ! Bọn này chắc cũng thông đồng
với Trung
quốc
thả con cúm Corona-Virus Vũ Hán để phá
Hoa Kỳ và Tổng thống Donald Trump trong
cuộc
bầu cử 2020 này. Tụi này là nhóm phản quốc, nên với bất cứ thủ đoạn dơ bẩn nào
chúng
cũng
sử dụng nhằm hạ bệ Donald Trump hầu chạy tội.
c/
Giới truyền thông Dân chủ Thổ tả.
Đạo đức truyền thông là phải tôn thờ “Sự thật
và chỉ có sự thật” ánh đèn soi sáng và dẫn dắt
quần
chúng trên con đường Chân Thiện Mỹ. Các cá nhân làm truyền thông gồm báo chí,
truyền
thanh
và truyền hình có bằng cấp đại học hay tự phát phải
tuyệt đối tôn trọng đạo đức nghề
nghiệp
(Profession Ethics). Phóng viên báo chí, truyền thanh, và truyền hình phải đến
tận hiện
trường
quan sát và ghi chép một cách khách quan một sự việc hay biến cố nào xảy ra,
không
thêm
không bớt.
Thật đáng thất vọng, giới truyền thông Dân
chủ cuội, vì tiền bạc đã bị các nhóm lợi ích mua
chuộc,
đặc biệt là Trung quốc hiện nay muốn tổng thống Donald Trump thất cử năm 2020
này, vị
tổng
thống cứng rắn, mưu trí và bản lỉnh dám đương đầu trực diện với Tập Cận Bình,
con cáo già
xảo
quyệt dòng Hán tộc.
Gần đây một vài tờ báo chân chính tố cáo các
tờ báo như Washington Post, New York Times và
các
đài truyền hình CNN, CBS, NBC v..v… nhận
tiền đăng quảng cáo và đăng tải một số bài ca
ngợi
Trung quốc với số tiền từng chục triệu đô la từ cơ quan truyền thông nhà nước
Trung quốc
hoạt
động tại Hoa Kỳ.
·
19
Nói tóm lại, tiền bạc và quyền lực là những
miếng mồi quá hấp dẩn đã làm mù mắt các ông chủ
truyền
thông, nên họ đã đánh mất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp. Vì tiền bạc họ có
thể đưa
một
cá nhân nào đó, dù tầm thường, lên tận mây xanh và cũng có thể gìm một người
tài đức, một
người
anh hùng dân tộc xuống tận bùn đen.
d/
Nhóm Mafia Tài phiệt.
Trong xã hội Hoa Kỳ gần đây, chính trị trở
thành một nghề để kiếm sống, làm giàu và tìm kiếm
quyền
lực và danh vọng. Các chính trị gia ngày nay Dân chủ cũng như Cộng hòa hầu hết
xuất
thân
từ giới trung lưu. Trong lịch sử Hoa Kỳ trải dài 244 năm, theo người viết biết,
chưa có một
ông
tỹ phú nào, tiền bạc dư thừa và danh vọng cũng không thiếu ra ứng cử tổng
thống, ngoại trừ
Tổng
thống Donald Trump. Ông có thừa tiền bạc và danh vọng, vậy ông ra tranh cử với
chủ đích
gì
? Quý vị đã rỏ “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again -
MAGA).
Có thực sự nước Mỹ đang xuống dốc và trên bờ
vực thẳm mà ông phải ra tay cứu vớt không?
Chắc
quý vị đã có câu trả lời và người viết cũng đã đề cập tới trên đây.
Trong chính trường Mỹ, các chính trị gia và
các ứng viên tổng thống và tổng thống đều nằm
dưới
sự bảo trợ, yểm trợ tài chánh và chỉ huy bởi một nhóm tài phiệt triệu và tỹ phú
trong đảng
Dân
chủ cũng như Cộng hòa. Các ứng viên rồi trở thành tổng thống đều do bọn này
chọn lựa và
chỉ
định, và hẵn nhiên tổng thống phải là người trong cuộc, nghĩa là một chính trị
gia đảng viên
Dân
chủ hay Cộng hòa, tuyệt đối không phải là người ngoại cuộc (Outsider)
Tổng thống Donald Trump là một người ngoại cuộc.
Ông là người bảo thủ (Conservative) luôn
luôn
bảo vệ những giá trị truyền thống chính trị xã hội và Thiên Chúa giáo mà các
nhà lập quốc
đã
viết trong bản Hiến pháp. Ông thực sự không phải là đảng viên Cộng hòa nhưng vì
có cùng
một
số quan điểm chính trị truyền thống như đảng Cộng hòa nên liên kết với đảng
Cộng hòa ra
tranh
cử dưới danh nghĩa Cộng hòa.
Ông đã dùng tài trí và khả năng thuyết phục
thương lượng trong thương trường để được đại đa
số
các chính trị gia đảng viên Cộng hòa chấp nhận ông là ứng viên tranh cử. Ông đã
đánh bại 16
ứng
viên (đọc The case for Trump - Victor Davis Hanson) Cộng hòa khác vì thực tình
trong 16
ứng
viên này, không ai sáng giá, đủ sức đương đầu với Hillary. Phần đông các chính
trị gia Cộng
hòa
bất đắc dỉ chọn ông ra tranh cử, và sau 3 năm cầm quyền Donald Trump đã chứng
tỏ là một
nhà
lãnh đạo chính trị xuất sắc với những thành công về kinh tế, quân sự và ngoại
giao vượt bực,
lúc
đó ông mới được đảng Cộng hòa tích cực ủng hộ trừ Mitt Romney và John McCain.
Nhóm Mafia tài phiệt Dân chủ là ai? Tại sao
họ quyết tâm, không từ một thủ đoạn dơ bẩn nào
nhằm
triệt hạ Tổng thống Donald Trump và phá hoại nền chính trị Cộng hòa và nền kinh
tế Tư
bản
Hoa Kỳ và thay vào đó bằng chế độ Xã hội Chủ nghĩa.
Hoa
kỳ hiện nay là một cường quốc về quân sự và kinh tế với nền chính trị Cộng hòa
ổn định
nhất
thế giới. Dân chúng có cuộc sống vật chất và tinh thần hạnh phúc và thoải mái
nhất hành
tinh
này và chính họ, những nhà tài phiệt triệu và tỹ phú từ cái nôi này mà hiện
hữu, nhưng tại
·
20
sao
bây giờ lại muốn trở lại chế độ Cộng sản đã bị thế giới vất vào sọt rác, rồi
lột xác mặc lấy cái
áo
mới “Xã hội Chủ nghĩa” không mấy khác Cộng sản Chủ nghĩa.
Nhóm Mafia Tài phiệt Dân chủ xuất phát từ hai
nhóm xã hội bí mật (Secret Society Group)
“Bilderberg”
ở Âu châu và nhóm “Đầu sọ và hai xương chéo” (Skull-Bone), phát xuất từ đại học
Yale,
Hoa Kỳ trong nhiều thập niên qua
Nhóm tài phiệt Mafia này gồm những hội viên
kỳ cựu như cú đêm Kissinger, Grorge Soros,
Bill-Melinda
Gates, David Rockefeller,
Bloomberg, Tony Blair,
Bill-Hillary Clinton, Donald
Rumsfeld,
Margaret Thatcher và sau này có thêm Barack Obama và còn nhiều người khác nữa.
Henry
Kissinger là đầu sỏ (Mastermind). Nhóm Mafia Dân chủ này cũng gồm rất nhiều các
giáo
sư
khoa bảng, cấp tiến và thiên tả tại các trường đại học nổi tiếng Hoa Kỳ như
Yale, Harvard,
Berkeley,
Princeton, MIT v..v…
Nhóm Mafia này làm giàu nhờ ăn nằm với Trung quốc trong mọi lãnh
vực chính trị, truyền
thông,
kinh tế, tài chánh, kinh doanh v..v…Tiền bạc không phải là mục tiêu tối hậu của
bọn này.
Theo
thiển ý người viết, quyền lực thống trị mới là mục tiêu duy nhất và tối hậu.
Tiền bạc đưa
tới
quyền lực và quyền lực mang lại nhiều tiền hơn nữa.
Bọn Mafia này bị mê hoặc và ngụp lặn trong
quyền lực vì trong con người họ có sẳn thú tính
“Mạnh
hiếp yếu” thống trị, lảnh đạo, bắt mọi người quy phục họ như những tên nô lệ.
Bọn này không những muốn thống lỉnh Hoa Kỳ mà
toàn thế giới với ảo vọng biến thế giới thành
một
“Cộng đồng toàn cầu hóa” (The World Community) có một chính phủ do bọn họ lảnh
đạo
và
thống lãnh.
Đây cũng chính là âm mưu và mục tiêu tối hậu
mà dòng Hán tộc Trung quốc đang theo đuổi để
giảm
bớt áp lực dân số không có lối thoát. Như vậy bọn Mafia tài phiệt Dân chủ là
một chủ thể
độc
lập hay vì ăn nằm với Trung quốc để làm giàu thêm có quyền lực hơn để rồi cuối
cùng bị
đồng
hóa bởi Trung quốc, và cũng trở thành những tên nô lệ của tai họa Hán hóa toàn
cầu.
Tổng thống Donald Trump là trở ngại chính,
cản mủi kỳ đà âm mưu của họ do đó bọn này tìm
mọi
cách đánh bại ông trong cuộc bầu cử 2020 này. Người viết cầu mong quý vị đồng
hương tị
nạn
Cộng sản thân mến hãy tỉnh thức và sáng suốt trong việc lựa chọn lãnh đạo, một
người ngày
đêm
chăm lo cho quý vị hay một người đã từng chống đối sự hiện diện của quý vị tại
đây.
LỜI
CUỐI VỚI ĐỒNG HƯƠNG TỴ NẠN CỘNG SẢN VIỆT NAM
1. Ăn
quả nhớ kẻ tròng cây
Danh ngôn của Cha Ông để lại “Ăn quả nhớ kẻ
trồng cây” vẫn còn văng vẳng bên tai chúng ta.
Một
sống, mười chết trên biển cả hay rừng sâu, rời bỏ quê hương, chạy trốn lũ quỹ
Cộng sản, tìm
đến
bến bờ tự do, đất nước Hoa kỳ, trở thành một công dân, chúng ta được hưởng
những quyền
lợi
và phúc lợi của một cường quốc với nền kinh tế tư bản phú cường và nền chính
trị Cộng hòa
ổn
định và an toàn số một trên thế giới. Chúng ta phải có nghĩa vụ bảo vệ, vun đắp
và hoàn thiện
quốc
gia này dù quý vị chỉ nhận nơi này là miếng đất tạm dung hay quê hương thứ hai
tạm thời.
·
21
Quý vị có toàn quyền trở về quê hương, nơi
chôn nhau cắt rốn, bất cứ lúc nào quý vị muốn.
Nhưng
bao lâu quý vị còn sinh sống tại quốc gia Hoa Kỳ, được hưởng các quyền lợi, ơn
huệ, quý
vị
có trách nhiệm bảo vệ và vun đắp nó.
Có một lúc nào, quý vị vắt tay lên trán suy
tư mình đã có một cuộc sống tương đối đầy đủ và
thoải
mái. Con cháu quý vị đã là bác sĩ, tiến sĩ, khoa học gia, giáo sư, kỷ sư các
ngành và 5 vị
tướng
trong quân đội
Hoa Kỳ. Cũng
không thiếu gì
các nhà triệu
phú ngay cả
tỹ phú trong
thương
trường. “Giấc mơ Mỹ” (American Dream), đã có biết bao nhiêu người trong quý vị
đã
đạt
được!
Điểm quan trọng ở đây mà mà người viết muốn
nhấn mạnh và lưu ý là ai hay đảng chính trị nào
Cộng
hòa hay Dân chủ trong 45 năm qua đã mang lại những phúc lợi và thành công của
chính
quý
vị và con cháu. Người viết mong quý vị đồng hương thân mến hãy thận trọng và
sáng suốt
trong
việc chọn lựa ai sẽ là vị tổng thống tương lai trong năm 2020 này.
Theo lương tâm, quý vị đã từng đi du lịch
khắp thế giới, có thấy quốc gia nào giàu có đầy đủ
tiện
nghi, tài hóa lan tràn với giá rẻ và phẩm chất cao và các dịch vụ tiện lợi đủ
loại như ngân
hàng,
du lịch .v..v..như
Hoa Kỳ không?
Sau nhiều tuần
du lịch nước
ngoài trở về,
khi bước
xuống
máy bay tại phi trường Los Angeles hay John Wayne quý vị có cảm thấy dễ chịu
khoan
khoái
và an toàn không. Quý vị hãy thật lòng với mình đi!
Đối
với thanh thiếu niên Việt Nam, người viết chỉ nhắc nhở đừng ngây thơ, ảo tưởng
tin vào
chiếc
bánh vẽ của các chính trị gia mị dân Dân chủ cũng như Cộng hòa đưa ra chiêu dụ.
Trên đời
này,
không có gì là miễn phí, cái gì cũng có cái giá của nó, vì tài nguyên thiên
nhiên của một
quốc
gia có giới hạn không như nước biển và không khí.
Đối với con người, đừng đánh giá một cá nhân
qua những lời nói hoa mỹ, bóng bẩy và chải
chuốt,
ngoại hình đẹp trai hay xinh đẹp. Cũng đừng đánh giá ai có lời nói bộc trực,
ngay thẳng,
đôi
khi vụng về khó lọt tai. Đánh giá việc làm của ai, phải cho họ một thời gian
thử thách, đợi
kết
quả mới đưa ra kết luận, đừng lăng mạ, chửi bới và chê bai khi chưa biết kết
quả ra sao.
Trong cuộc đời thực tế, có biết bao người
ngoại hình đẹp trai, ăn nói hoa mỹ, bóng bẩy, lời nói
ngọt
như mật, nghe sướng tai, những lời tán tỉnh ngọt như mía lùi, nhưng cuối cùng
là những gả
sở
khanh hay những cô gái điếm đàng, lưu manh.
“Đoàn kết tạo nên sức mạnh” đó là câu danh
ngôn đúng mọi thời gian và không gian. Một số
quý
vị đồng hương đứng tuổi, không nói tới nhóm thanh thiếu niên non trẻ lớp hậu
dụê thứ hai
hay
ba, còn bồng bột, thiếu kinh nghiệm sống, dễ tin và dễ bị lôi cuốn, đã sinh
sống ở đây lâu rồi
mà
vẫn thiếu hiểu biết, cố chấp và thiên kiến. Thực sự chúng ta mới là những người
kỳ thị địa
phương
Bắc, Trung, Nam và kỳ thị chủng tộc người Thượng người Kinh. Sang Hoa Kỳ, hãy
vấn
lương
tâm, quý vị có chút kỳ thị người da đen, người Mễ Tây Cơ nói riêng và người nói
tìếng
Tây
Ba Nha vùng Nam Mỹ nói chung không ?
Quý vị có muốn con cái, trai hay gái của quý
vị lập gia đình với người da đen hay người Mễ
không
hay khi sự thể ngoài ý muốn xảy ra, vợ chồng nhảy xổng lên kêu trời. Theo lương
tâm,
·
22
quý
vị hãy trả lời đi! Như vậy tại sao một số quý vị theo đảng Dân chủ ủng hộ phong
trào “Black
lives
matter”, mà thực ra đây chỉ là một sự giàn dựng lưu manh của đảng Dân chủ để
kiếm phiếu.
Nói tới sự đoàn kết trong cộng đồng người
Việt tỵ nạn Cộng sản thấy mà buồn. Ở miền Nam
Cali
cũng như nhiều nơi khác, cộng đồng cũng như các hội đoàn chính trị hay thân hữu
thì chia
ba
năm xẻ bảy, chẳng ai chịu ai. Theo người viết, đó là hậu quả của nền giáo dục
Pháp tổng quát,
thiếu
chuyên môn và tinh thần làm việc theo nhóm (team work). Cái gì cũng biết một
tí, không
có
chiều sâu, nên khi ngồi vào bàn thảo luận chung, ai cũng là rốn vũ trụ, chỉ
mình là đúng, thiên
hạ
sai hết, thiếu tinh thần phục thiện và hợp tác. Trong sinh hoạt hội đoàn, không
ăn được thì đạp
đổ,
miệng thì la ó đòi hỏi dân chủ, nhưng lại không theo quy luật dân chủ “Đa số
thắng thiểu số
và
thiểu số phục tùng đa số”, không thắng thì phá quấy, thọc gậy bánh xe.
Tệ hơn nữa, chuyện này lại xẩy ra trong hàng
ngủ trí thức, nhất là nhóm trí thức cấp cao, bằng
cấp
khoa bảng.
Thưa quý vị cao niên, người viết cũng 85 tuổi
rồi, mong quý vị hãy rút lui về thanh thả sống vui
với
tuổi già, đừng tham sân si nữa. Thực tình mà nói, số người trong quý vị có đủ
khả năng Anh
ngữ,
hiểu biết rõ sinh hoạt chính trị của xứ này khá giới hạn. Đừng vổ ngực cho rằng
mình có
nhiều
kinh nghiệm, những kinh nghiệm lỗi thời rồi, mà ra tranh dành chức nọ quyền
kia. Hãy để
chuyện
này cho con cháu hậu duệ. Được giáo dục trong một nền giáo dục tân tiến, với óc
thông
minh,
thích nghiên cứu tìm tòi sách vở và thực tế, chúng có khả năng hơn chúng ta
nhiều về mọi
lãnh
vực hiện nay.
2. Sự
thật và chỉ có sự thật
Đối với
quý vị đồng
hương làm truyền
thông (báo chí,
truyền thanh và
truyền hình –
Newspaper,
Radio and television Reporters) người viết muốn có đôi lời. Tại Hoa Kỳ phần
đông
quý
vị là những chủ cơ sở hay nhà truyền thông tự phát, không kinh qua một trường
đại học báo
chí
hay các lớp huấn luyện và tu nghiệp. Người viết biết duy nhất chỉ có ông Đỗ
Ngọc Yến cố
chủ
nhiệm báo Người
Việt trong nhiều
năm là có văn bằng
cử nhân báo
chí do cố giáo sư
Nguyễn
Ngọc Linh giảng dạy.
Ông Đỗ Ngọc Yến tốt nghiệp trường Chính trị
Kinh doanh khóa 1 ban Báo chí, viện Đại học
Đà
Lạt, trong thời gian người viết là giáo sư thỉnh giảng môn kinh tế học từ
1966-1972. Ông Đỗ
Ngọc
Yến tốt nghiệp năm 1967, không biết ông được thụ huấn bao nhiêu lớp (courses)
báo chí,
nhưng
chắc chắn phải có một lớp về đạo đức nghề nghiệp (Profession Ethics)
Cũng cần nói thêm, cố giáo sư Nguyễn Ngọc
Linh là một trong hai người Việt Nam duy nhất có
bằng
cử nhân báo chí tại Hoa Kỳ. Người kia là Linh mục Nguyễn Thanh Hùng, tốt nghiệp
cử
nhân
báo
chí tại đại học
Marquette, một đại học công giáo ở
thành phố Milwaukee,
bang
Wisconsin
trong thời gian người viết đang theo học tại đại học
Wisconsin, Madison, thủ phủ
bang
Wisconsin.
·
23
Bằng cử nhân báo chí tại Hoa Kỳ rất khó lấy.
Quý vị phải thật giỏi về Anh văn. Trong năm đầu
phải
học rất nhiều lớp Anh văn như văn phạm, nghệ thuật viết, chấm câu, các phương
pháp lý
luận
tổng hợp và diển dịch .v..v.. Ngoài ra phải học các môn khác như chính trị, xã
hội học, tâm
lý
học, khoa học, kinh tế học và khảo cổ
học Tóm lại quý vị phải có kiến thức thật rộng. Tuy
nhiên
khi ra hành nghề, quý vị chọn một chuyên ngành truyền thông nào đó theo sở
thích.
Đạo đúc nghề nghiệp cho ngành truyền thông là
gì ? Đó là “sự thật và chỉ có sự thật”. Tuyệt đối
không
được bóp méo hay xuyên tạc sự thật. Như vậy, là chủ cơ sở hay nhà truyền thông
tự phát
hay
có bài bản không quan trọng. Vấn đề là những nhà truyền thông này có tôn trọng
tuyệt đối
đạo
đức nghề nghiệp không.
Trở lại chính trường với cuộc chiến một mất
một còn giữa đảng Dân chủ với ứng viên tổng
thống
Joe Biden và đảng Cộng hòa với đương kim
Tổng thống Donald Trump, quý vị truyền
thông
người Việt tỵ nạn Cộng sản phải có lập trường và thái độ chính trị nào?
Người viết thấy phần đông quý vị chỉ là những
người dịch thuật tin tức từ các cơ quan truyền
thông
Hoa kỳ, như Washington Post, New York Times, CNN, ABC và CBS thuộc đảng Dân chủ
tung
các tin giả để đánh phá Donald Trump.
Là truyền thông chính trực và khách quan quý
vị phải tới tận hiện trường xẩy ra sự kiện hay
biến
cố để quan sát và ghi chép chính xác để phổ biến cho đại chúng. Người viết biết
chắc quý vị
không
có khả năng nhân sự và tài chánh để thiết lập một cơ sở truyền thông quy mô và
tân tiến
như
Washington Post hay CNN.
Nhưng nếu dịch thuật tin tức không đúng sự thật,
tin giả, tin bóp méo
để phổ biến cho
đại
chúng
là quý vị đã vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
Một số quý vị truyền thông tỵ nạn cộng sản
tích cực ủng hộ ứng viên tổng thống Joe Biden đã
từng
chống đối sự hiện diện của quý vị ở đất nước này tháng 4, 1975. Chính miệng
Biden đã nói
“Hoa
kỳ không có trách nhiệm di tản một người chứ đừng nói 100.001 người Nam Việt
Nam
(The
United States has no obligation to evacuate one - or 100.001 South Vietnamese)
Đảng Dân chủ và Joe Biden đang chủ trương
biến đổi chế độ chính trị Cộng hòa và nền kinh tế
tư
bản Hoa Kỳ thành chế độ xã hội chủ nghĩa mà quý vị đã liều mạng một sống mười
chết, để
chạy
trốn. Sao quý vị cuồng Joe Biden mau quên đến vậy! Sao không trở về thiên đàng
xã hội
chủ
nghĩa Việt Nam mà sống để ba hoa xổ tiếng Việt và nhậu “Cờ tây”. Thật là mâu
thuẩn! Xin
quý
vị đồng hương hãy thức tỉnh lại và sáng suốt!
Người viết không rõ những cô cậu ca sĩ. hướng
dẫn viên chương trình (Master of ceremony)
từng
chửi bới và mạ lỵ Tổng thống Donald Trump trước cuộc bầu cử 2016 đã sang định
cư bên
Gia
Nả Đại chưa hay còn, vô liêm sỉ, nằm lỳ tại Mỹ. Nhóm người này không còn là
nông nổi hay
bồng
bột, mà là thiếu kiến thức, không nói là ngu xuẩn. Bọn này đúng thuộc loại xướng ca vô
loại.
Bọn này không có bản lảnh (gutts) nói mà không làm cũng giống phần lớn các
chính trị gia
mị
dân Cộng hòa cũng như Dân chủ, hứa thật nhiều mà thực hiện chẵng bao nhiêu khi
ra tranh
cử
bất cứ chức vụ nào, tiểu bang cũng như liên bang.
·