Saturday, July 21, 2018

Một Chuyến Đi Nhiều Nước Mắt - Nam Lộc


Một Chuyến Đi Nhiều Nước Mắt
Nam Lộc

Tôi vừa hoàn tất một chuyến đi dài, từ Âu Châu sang Úc rồi qua đến Thái Lan. Nếu có những nụ cười hân hoan nhận được từ các buổi gây quỹ rất thành công, như hai đêm văn nghệ cứu trợ Thương Phế Binh VNCH ở Lyon và Marseilles, cũng như chương trình gây quỹ hỗ trợ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Melbourne, Úc Châu tổ chức để giúp đỡ một cơ quan mà hầu như ai trong chúng ta cũng đều mang ơn qua từng hột cơm mà họ đã cung cấp khi chúng ta còn vất vưởng trong các trại tỵ nạn.

Thế nhưng bước qua Thái Lan, với những cuộc hội ngộ ngắn ngủi cùng những người Việt đang lầm lũi sống tạm dung tại đây, để mong một ngày được các nước định cư thương cảm mà đưa tay đón nhận thì không thấy nụ cười, mà chỉ có khổ đau và nước mắt!
Đứng trước những lời đồn đãi tiêu cực, không bằng cớ và vô trách nhiệm đối với tổ chức VOICE cũng như cá nhân luật sư Trịnh Hội, vì thế trong lần đi Thái kỳ này tôi đã rủ theo một số các vị ân nhân, họ là những người đã và đang tích cực yểm trợ việc làm nhân đạo và cao quý của VOICE cũng như của Trịnh Hội. Tôi muốn họ được chứng kiến tận mắt, nghe tận tai và gặp từng người để tìm hiểu đâu là sự thật.  Và đó chính là lý do chúng tôi tổ chức hai buổi gặp gỡ trực tiếp và mời tất cả những đồng bào tỵ nạn nào đang còn sống vất vưởng ở Thái Lan đến để tiếp xúc các thiện nguyên và đồng bào tỵ nạn.

Vào buổi sáng Thứ Bẩy, mùng 7 tháng Bẩy, 2018 vừa qua, hơn 100 người tỵ nạn muộn màng đã có mặt tại phòng họp của khách sạn Bangkok Cha Da ở Khet Huai Khwang. Họ đã có dịp nói chuyện trực tiếp với linh mục Peter Namwong, với phái đoàn VOICE từ Canada là tổ chức đã và đang tiếp tục đảm nhiệm vai trò khó khăn nhất là giúp định cư đồng bào tỵ nạn, đồng thời với các vị ân nhân cùng những người ủng hộ đến từ khắp nơi trên thế giới. Họ có thể nói lên hoàn cảnh của mình hay nỗi oan ức, hoặc những bất công nếu có. Và trong gần 3 tiếng đồng hồ trao đổi, chẳng ai nghe được chuyện “tráo người” hay “đổi hồ sơ và lý lịch”.  Cũng chẳng tìm thấy một nhân vật nào mà người ta vu cáo là “người lậu từ VN sang” hay đưa người “bất hợp lệ” vàoCanada, mà tất cả đều là những đồng hương bất hạnh, đang sống trong lầm than, cơ cực và sợ hãi, không biết mình sẽ bị bắt hay bị trục xuất về VN ngày nào! Họ đã và đang bị thế giới lãng quên, mặc dù rất nhiều người đã được Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ tại đây cấp chứng minh thư là người tỵ nạn, thế nhưng chẳng có quốc gia nào dang tay nhận họ.
Cha Peter Namwong, ông Đổ Kỳ Anh (VOICE Canada), LSTrịnh Hội, LS Ana Nguyễn (VOICE Bangkok) & tác giả.

Ngay tại Hoa Kỳ, ngoài VOICE thì chỉ có BPSOS là tổ chức duy nhất có văn phòng tại Bangkok, Thái Lan để giúp đỡ đồng bào tỵ nạn, và người lãnh đạo BPSOS, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng là một nhà vận động hành lang rất tích cực, ông quen biết rộng rãi các vị dân cử Hoa Kỳ, thế nhưng nước Mỹ đã khép cánh cửa định cư dành cho người tỵ nạn VN từ hơn 10 năm qua, nên thảng hoặc HK mới nhận một, hai trường hợp tỵ nạn rất đặc biệt như trường hợp của chị Tuyết Nga, hoặc nhạc sĩ Việt Khang v.v... 
Trở lại về sự có mặt của các vị ân nhân và thiện nguyện viên đến từ khắp nơi trên thế giới. Họ là các bác sĩ, luật sư, kỹ sư, các vị thương gia thành công tại hải ngoại, các nghệ sĩ có lòng v.v... Họ là những người có học vấn, kiến thức, hiểu biết, họ chính là “những nhà hảo tâm”, họ đã không ngu dại để ai lợi dụng thời giờ, tiền bạc và công sức đóng góp của mình vào những việc làm gian dối, bất hợp pháp hay “bỏ túi làm giầu” cho cá nhân mình. Đó cũng chính là lý do mà hơn 30 thiện nguyện viên, trong số đó có cả vợ chồng nam ca sĩ Thế Sơn và nữ ca sĩ Diễm Liên. Ho đã tự ý bỏ tiền riêng của mình ra để mua vé máy bay, tự trả tiền khách sạn cùng mọi chi phí với mục đích là tìm hiểu sự thật. Và trước mặt hàng trăm người tỵ nạn kể cả các thuyền nhân còn đang kẹt lại, tất cả đều được khuyến khích tự do phát biểu hay khiếu nại, muốn nói gì thì nói. Thế nhưng phái đoàn thiện nguyện đã không nghe được một lời tố cáo hay than trách nào, và cũng không tìm ra bất cứ một điều gì mà người ta cáo buộc tổ chức VOICE và luật sư Trịnh Hội đã “ngụy tạo đường dây để chuyển người lậu vào Canada, họ cũng không tìm thấy một nhân vật nào “không phải là người tỵ nạn đã được đưa vào Canada”.

Tất cả thuyền nhân có tên trong danh sách 108 người được chính phủ Canada chấp nhận cho định cư kể từ 2014 đến 2016 là “đều do cha Peter Namwong thành lập và trao cho LS Trịnh Hội và VOICE”! Không ai tìm thấy được bất cứ một cá nhân nào do Trịnh Hội đưa vào danh sách đó theo những cáo buộc nhảm nhí. Tất cả những người tỵ nạn này đều được chính phủ Canda phỏng vấn và chấp thuận. Họ đã lần lượt đến Canada bằng 6 đợt, và tôi hân hạnh được tháp tùng nhóm tỵ nạn cuối cùng gồm 19 người vào ngày 23 tháng 9, 2016 và đó cũngchính là lý do chúng tôi gọi họ là “Những Thuyền Nhân Cuối Cùng”.

Những tưởng trang sử tỵ nạn đã đóng lại và tôi sẽ không còn chứng kiến nỗi khổ đau của những người phải cắn răng bỏ nước ra đi vì hai chữ tự do. Nhưng đến khi cha Namwong cho biết là vẫn có một số thuyền nhân hoặc sống ở xa Bangkok nên không về kịp hoặc không biết để ghi danh với cha, cho nên hiện cha lại vừa có thêm một danh sách mới, và đó một lần nữa Trịnh Hội cùng VOICE Canada lại phải sắn tay áo lên tiếp tục đấu tranh cho họ. Và lần này, qua cuộc gặp mặt với đồng bào tỵ nạn tại Bangkok vừa qua, người ta mới biết được trong danh sách 50 người đầu tiên mà chính phủ Canada sắp sửa phỏng vấn để cho cơ hội được định cư, không phải chỉ có các thuyền nhân năm xưa, mà còn có những người tỵ nạn “mới”, đó là các nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền, các tù nhân lương tâm, các đồng bào Thượng hay từ vùng Tây Nguyên, nạn nhân của sự đàn áp tôn giáo hoặc thành viên của các tổ chức xã hội dân sự ở VN v.v...   

Riêng đối với tôi, mặc dù đã nghỉ hưu sau 41 năm làm việc, lý do duy nhất mà tôi vẫn bỏ thì giờ để tiếp tay cho VOICE, chỉ là vì họ vẫn có lòng và thiết tha với đồng bào tỵ nạn. Thật ra gặp Trịnh Hội lần này, và nhìn khuôn mặt đăm chiêu, mệt mỏi của Hội trong buổi tiếp xúc và gặp gỡ với người tỵ nạn, nhất là khi phải ngồi nghe linh mục Peter Namwong dùng tiếng Thái mẹ đẻ của mình để minh xác về những điều mà người ta đã lợi dụng khả năng nói tiếng Việt hạn chế của cha cho các âm mưu thâm độc, hại người lương thiện như đoạn YouTube mà cha phát biểu đính kèm ( 
https://www.youtube.com/ watch?v=BMja-JXw-aU ). Lúc ấy tôi có cảm tưởng là nếu không phải tiếp tục công tác đấu tranh cho quyền lợi của người tỵ nạn nữa thì có lẽ đó chính là điều mà Hội ước mơ và mong mỏi!  Hơn 26 năm hy sinh cả sự nghiệp cùng đời sống riêng tư để đem niềm hạnh phúc cho hơn 3000 thuyền nhân tuyệt vọng, đối với tôi có lẽ đã quá đủ cho một người, ấy vậy mà vẫn phải chịu những oan khiên và ganh ghét nhỏ nhen của những kẻ thiếu lương tâm và đạo đức!
Tôi tự đặt cho mình một câu hỏi là: nếu Trịnh Hội và VOICE không tiếp tục thì ai sẽ là người đứng ra đấu tranh cho các đồng bào đang mỏi mòn chờ đợi ở Thái Lan? Nếu Canada không cảm thông và chấp nhận những cuộc vận động đầy gian truân và phức tạp của LS Trịnh Hội cùng nhóm thiện nguyện VOICE Canada, thì ai sẽ là người tiếp tục công việc này và quốc gia nào sẽ tiếp nhận những người đang phải lưu vong trên đất Thái? Tôi đố ai đưa ra được câu trả lời!

Tôi cũng thách thức ai đưa ra các bằng chứng về vấn đề “chuyển người bất hợp pháp vào Canada” hoặc lợị dụng tiền bạc quyên góp cho VOICE “để bỏ túi riêng” hay làm những việc sai trái.  Nếu có, tôi sẽ là người đầu tiên đứng lên tố cáo họ trước pháp luật! Nhắc về tiền bạc thì vấn đề tài chánh và sổ sách của tổ chức VOICE đều rất rõ ràng và minh bạch, tất cả được điều hành và kiểm soát bởi các CPA, các vị thủ quỹ. Được kiểm toán bởi sở thuế và các cơ quan tài trợ hàng năm. Luật sư Trịnh Hội “không dính dáng gì đến vấn vấn đề tiền bạc”! dù tiền đó đến từ các buổi gây quỹ từ thiện hoặc funding từ các tổ chức thiện nguyện v.v...!  

Cuộc họp mặt nào rồi cũng đến giờ chia tay, nhìn bác sĩ Hoàng Trang và nha sĩ Hiếu đến từ Melbourne, ái ngại cho hoàn cảnh của đôi vợ chồng trẻ, nạn nhân Formosa, với đứa con nhỏ trên tay và cái bào thai gần đến ngày sanh trong bụng, tương lai mờ mịt, cuộc sống mông lung, rồi cả chủ lẫn khách đều sụt sùi trong nước mắt. Nhìn vợ chồng Hòa đến từ Norway đang trò chuyện với những gia đình đồng bào thiểu số từ Tây Nguyên, mà trong đó có Jack, một thanh niên trẻ, đứng lên kêu gọi biểu tình đòi tự do tôn giáo thì bị công an lùng bắt, Jack trốn qua Thái Lan, nhưng họ đã tra khảo thân phụ của anh cho đến chết! Còn Đỗ Minh Tâm, nhà địa ốc trẻ ở Houston thì lưu luyến an ủi người thanh niên tỵ nạn đã lên tiếng xin VOICE giúp cho gia đình anh với một bà mẹ đang đau nặng với căn bệnh ung thư, nhưng không có thuốc men hay tiền bạc để chữa trị. Nhìn gia đình anh Thuyết, một thuyền nhân ở trại Hong Kong 30 năm về trước, bị trục xuất về VN nhưng không bất khuất, vẫn tiếp tục đấu tranh để giờ trở thành một tù nhân lương tâm với cuộc đời biệt xứ. Tôi cũng gặp một cưu sĩ quan QLVNCH đã phải trải qua 21 năm tù đầy trong các trại giam của CSVN và gặp vợ chồng anh Hải cùng phục vụ trong Sư Đoàn 5 với tôi ở VN ngày trước... Tôi còn gặp mục sư Hòa, mục sư Hành cùng nhiều hoàn cảnh đáng thương khác. Họ đang chờ đợi với hy vọng nhỏ nhoi là VOICE sẽ cố giúp được cho họ. Tuy nhiên với sự đòi hỏi lớn lao từ chính phủ Canada qua chương trình bảo trợ “private sponsorship” lần này thì không biết lúc nào VOICE Canada mới có thể đạt tới điều kiện của họ: Mỗi gia đình người tỵ nạn phải ký quỹ tối thiểu là $11,800dollars, và mỗi đầu người cần phải có khoảng $3500.00 dollars để chi dùng cho vấn đề processing fees cũng như chuyển vận. Và để có đủ tài chánh hầu bảo trợ cho 50 người đầu tiên, có lẽ VOICE Canada phải come up với một ngân khoản hơn nửa triệu dollars? Cạnh đó với tiêu chuẩn “group of 5” (5 người bảo trợ ký tên trách nhiệm cho một gia đình tỵ nạn), thì VOICE Canada phải tìm cho ra con số gần 100 người sẵn sàng ký giấy bảo trợ!  Một trọng trách không nhỏ mà tôi chưa từng thấy ở bất cứ quốc gia nào!     

Thôi,hãy cố giúp nhau, nếu không có hoàn cảnh thì cũng đành, nhưng xin đừng hại nhau!

Nam Lộc  


Củ khoai Yên Bái -(Bác sĩ Nguyễn Đình Phùng – Bác Sĩ Phạm Hữu Phước)


Củ khoai Yên Bái
Bác sĩ Nguyn Đình Phùng Bác Sĩ Phm Hu Phước.

Phước nhìn tôi mỉm cười:
“Mày đói lắm hay sao mà hối vợ mày làm cơm dữ vậy?”
Tôi vừa ra phi trường đón Phước về.
Chúng tôi không gặp nhau đã hơn ba mươi mấy năm. Tôi chỉ nghe nói Phước vượt biên nhiều lần nhưng không thoát, bị giam cầm nhiều năm. Cứ mỗi lần được thả ra, Phước lại tìm đường trốn, đến lần thứ bảy hay thứ tám gì đó, Phước mới sang được Úc, định cư tại đây và được hành nghề bác sĩ trở lại, tại Melbourne .
 Tôi không tưởng tượng được có ngày nghe lại giọng nói của Phước qua đầu dây điện thoại, hẹn sẽ sang chơi và đến thăm nhà.
Tiếng cuời vẫn vui, tiếng nói vẫn sang sảng, như ngày nào chúng tôi cùng ở chung nhà, học thi để lên lớp cuối năm, đã ba mươi mấy năm trước.
Phước nhấp ngụm nước:
“Trong khi đợi vợ mày làm cơm, để tao kể cho mày nghe chuyện tao ở tù sau ngày Phước Long thất thủ.”
Ừ! Nghe mày kêu đói, tao sẽ tả cho mày biết cái đói thực sự nó ra thế nào . . .”
Phước có tài kể chuyện, tôi nhớ đến những ngày xưa cũ, khi ở chung, Phước thường kể chuyện rất có duyên. Những câu chuyện được xếp đặt thứ tự, mạch lạc đầu đuôi, có mở đầu, dẫn nhập, rồi vào chuyện, chi tiết lớp lang như theo một dàn bài. Tôi nhìn Phước, hít một hơi dài, mắt lim dim như muốn tìm đầy đủ những kỷ niệm, những cảm xúc của năm xưa. Phước như người cẩn thận, ngăn nắp tôi từng biết, không muốn mất đi một ký ức nào đã ghim sâu vào tâm khảm, như người hằng ba mươi mấy năm nay đã chờ đợi để ngày hôm nay gặp lại, kể cho tôi nghe những câu chuyện của đời mình đã trải qua.
Phước cất tiếng:
“Mày biết không? Cuộc đời có những ngã rẽ không thể ngờ được. Ai cũng có định mệnh của mình. Không thể nào tránh khỏi được.
Nhiều đêm sau này trong tù tao vẫn nghĩ đến điều đó. Là nếu tao không nhất định giữ đúng ngày phép hạn định của mình, ở lại Sài Gòn, không trở lại Phước Long, tao đâu có bị những hoạn nạn kinh khủng đến như vậy!
Mày còn nhớ hồi ra trường, mày đi Tây Ninh còn tao đi bệnh viện Phước Long. Tao được đi phép một tuần về Sài Gòn trước ngày Việt Cộng đánh Phước Long. Vợ tao khóc quá mức khi thấy tao nhất định giữ đúng ngày phép, ra trình diện lại ở Cục Quân Y. Bố vợ tao cũng ngăn, nói tình hình nguy kịch quá rồi, ở nhà luôn đi, đừng lên Phước Long nữa.”
Phước thở dài:
“Mày biết, tính mình hồi đó còn tuổi trẻ, bồng bột, đâu biết tính toán gì. Tao không thích làm điều gì sai quấy, hạn phép nghỉ chỉ một tuần, hết hạn là mình ra trình diện, không muốn trốn ở lại.
Tao đến Cục Quân Y lúc đó là buổi chiều. Chiếc trực thăng đậu trong bãi đáp đang sửa soạn để cất cánh bay chuyến chót, bổ sung người cho bệnh viện tiểu khu Phước Long. Toán sĩ quan trợ y, Y tá đã ngồi đầy không còn một chỗ trống trên đó. Trung tá Y sĩ Liễn đích thân đưa tao ra và hạ lệnh cho trực thăng khoan cất cánh. Ông chỉ tay vào người sĩ quan trợ y ngồi sát bìa:
“Em đi xuống để chỗ cho bác sĩ Phước lên.”
Người thiếu úy trợ y khuôn mặt trẻ măng chắc mới ra trường vội vàng đi xuống, không dấu được vẻ mừng rỡ.
Tao sửa soạn để trèo lên trực thăng và ánh mắt chúng tao chạm nhau. Tao nhìn được sự sung sướng của người trợ y, như một kẻ sắp bước chân vào địa ngục được trở lại trần thế. Ai cũng biết Phước Long sắp mất trong nay mai mà bị gọi để đi lên Phước Long được coi như lãnh án tử hình. Vận mệnh của chúng tao đã trao đổi cho nhau trong giây phút đó, trong luồng ánh mắt gặp nhau buổi chiều hôm đó!
Tao không hiểu người thiếu úy trợ y được thoát chuyến bay cuối cùng đi lên bệnh viện tiểu khu sau này ra sao? Anh có thoát được những hiểm nghèo khác không trong những ngày sau chót của cuộc chiến? Hay anh đã chết trong một trận đánh nào khác? Hay anh đã bình yên và an lành sống một cuộc đời hiền hòa ở Hoa Kỳ, ở Úc hay một chỗ nào đó trên khắp quả địa cầu? Nhưng tao biết, tao đã lấy chỗ của anh để bước chân vào địa ngục. Vì vận mệnh của tao đã sắp đặt để sự việc xảy ra như thế, để tao phải bị đọa đầy trong mấy năm trời đằng đẵng, dài như cả một đời người!”
Phước ngồi thừ một lúc, không nói gì . . . Một lúc sau Phước bật cười kể tiếp:
“Ừ! Mày biết không? Tao lâu lâu vẫn nghĩ có ngày nào mình đi đâu đó, rồi gặp lại anh chàng trợ y nh đã hoán đổi định mệnh ba mươi mấy năm trước. Mình muốn biết anh chàng sau này ra sao? Cuộc đời hắn thế nào? Cũng hay đấy chứ nhỉ!”
Phước lắc lắc đầu mấy cái, như muốn đánh đuổi ý nghĩ đó ra khỏi đầu:
“Để tao kể tiếp cho mày nghe. Mày còn nhớ Trần Kim Phẫn không? Nó ra trường về cùng bệnh viện tiểu khu với tao. Chắc mày không biết điều này vì nó dấu kín với tất cả mọi người. Chỉ tao ở với nó trên Phước Long mới được biết. Mày không thể ngờ được là nhà nó nghèo đến thế nào. Ba nó đạp xích lô nuôi nó ăn học. Phẫn vào được trường y khoa, nó học rất giỏi vì chỉ ở trong nhà thương không bao giờ về nhà. Lý do là nhà nó kinh khủng quá, ở trong nhà thương ăn ở đầy đủ, lại có cơ hội thực hành nhiều, nên nó không về nhà nữa. Tao đã nghĩ chỉ mình mới gặp nhiều hoạn nạn, nhưng Phẫn, định mệnh của nó còn thê thảm hơn nhiều. Mày còn nhớ tuy nó là người bạn tốt, nhưng lại có biệt danh kỳ quái là Phano vì lúc nào cũng dễ phẫn nộ. Nhưng trong sự giận dữ của Phẫn tao thấy một niềm đau đớn nào đó. Có lẽ Phẫn đã linh cảm được cái chết sắp đến của mình.
Chiều hôm đó, chiếc trực thăng vừa đáp xuống bệnh viện tiểu khu, tao đã thấy Phẫn vội chạy ra. Thấy tao bước xuống, Phẫn nhào lại nắm lấy vai tao lắc mạnh:
“Trời ơi! Mày sao ngu quá vậy Phước! Tao đã mừng tưởng mày được đi phép là thoát rồi. Sao không ở lại luôn lên làm gì?”
Phẫn la hét chửi tao, cơn tức giận không dấu được như bừng bừng bốc lửa. Phẫn đánh mạnh vào tay tao làm tao đau điếng. Phẫn như người cuồng điên, sự phẫn nộ tràn ra ào ạt. Nhưng trong ánh mắt giận dữ của Phẫn, tao thấy được những lo âu, sợ hãi . . . Những xúc cảm mãnh liệt của Phẫn không dấu được sự kinh hoàng của người biết trước được định mệnh của mình, nhưng hầu như còn được chút an ủi là người bạn thân đồng khóa đã may mắn được về phép trước khi Việt Cộng tấn công Phước Long, tưởng là thoát khỏi hiểm nghèo, nay thấy tao đột nhiên xuất hiện trên chuyến trực thăng chót đưa người lên bệnh viện tiểu khu, đưa đầu vào chỗ chết, bảo sao Phẫn không nổi điên lên được!”
Phước không nói nữa. Một lúc sau, Phước nghẹn ngào, nói ngắn gọn:
“Đêm đó, Việt Cộng tấn công, Phẫn chết ngay trong đợt pháo kích đầu tiên!”
Phước nhìn tôi, lắc đầu:
“Tao định kể cho mày câu chuyện về đói cơ mà! Vợ mày chắc làm cơm sắp xong. Những chuyện khác trong trận đánh Phước Long, tao sẽ lần lượt kể sau cho mày nghe, nhưng trong đêm Phẫn chết đó, tao cũng bị thương nặng ở đùi và trở thành tù binh, cùng với bao nhiêu người lính khác bị Việt Cộng bắt sau trận đánh.
Chúng tao bị giam, bị bỏ đói, tao không biết bao nhiêu ngày nữa. Vết thương đùi của tao làm độc, tao không còn hơi sức, nằm một chỗ, nhức nhối đau đớn đến cùng cực. Đàn ruồi bay vo ve theo tao hàng mấy ngày rồi vì mùi thịt thối xông lên nồng nặc. Những người tù binh khác đều dạt ra xa vì không muốn phải ngửi mùi kinh khủng này. Chính tao lúc nào cũng buồn nôn muốn ói vì cái mùi ghê tởm ngày đêm bao phủ lấy mình. Tao không đi được, phải dùng hai cùi chỏ để lết. Nhưng sau cùng lết cũng không được vì mấy ngày không ăn đã kiệt lực không còn hơi sức. Tao chỉ còn cách nằm yên, nhắm mắt lại, cố gắng để quên cái đau và cơn đói đang hành hạ.


Bỗng dưng một mùi thơm lạ lùng thoảng vào mũi tao. Chừng như mùi hôi thối từ vết thương đùi cũng không đánh át được mùi thơm này. Tao mở mắt ra và thấy một anh lính địa phương quân tù binh đang được người mẹ cho ăn cháo. Bà mẹ nấu ít cháo đem đến cho con ăn. Tao không hiểu sao bà được Việt Cộng cho phép vào và đến thăm đứa con. Nhưng tao không muốn tìm hiểu gì thêm. Vì cơn đói như được mùi cháo thơm làm bùng dậy mạnh mẽ. Cái đói cồn cào, thôi thúc, còn hơn cả cơn đau vết thương đang hành hạ. Tao không thể nhịn được và như trong cơn mơ, tao thấy tao lết lại dần chỗ có mùi thơm kỳ diệu kia. Mắt tao không thể rời ra khỏi tô cháo anh lính đang đưa vào miệng húp.


Cơn đói càng lúc càng tăng lên làm tao run bần bật. Mắt tao hoa lên, mồ hôi ra ướt đẫm trán nhưng tao cố gắng để chặn mình không mở miệng ra xin ăn cháo. Cả đời tao chưa bao giờ bị đói. Và tao chưa hề một lần mở miệng xin xỏ ai, dù là bất cứ điều gì. Tao nghĩ đến bố mẹ tao, đến tổ tiên dòng họ, ngay thẳng chân chính, không hề quỵ luỵ ai, lúc nào cũng giữ lưng cho thẳng, có bao giờ mở miệng van xin dù có chết đi chăng nữa. Và tao đang nằm đây, mắt không chớp nhìn vào tô cháo, đánh nhau với chính mình, cố gắng bậm môi đến gần bật máu để không mở miệng xin ăn cháo.

Nhưng cái đói không để yên, sự hành hạ đã quá mức, tao không thể chịu nổi nữa. Tao nghe tiếng mình nói, thều thào:
“Cho… xin… chút… cháo!”
Anh lính Địa phương quân tù binh không quay đầu lại, tiếp tục húp cháo, nhưng bà mẹ quay sang tao, giọng thật hung dữ:

“Cháo này tao cho con tao ăn còn hổng đủ, dư đâu cho mày!”

Bà bĩu môi, hất tay như muốn xua tao đi chỗ khác.
Tao thấy quay cuồng, cơn đói, cơn đau vết thương và nỗi nhục nhã uất ức như cùng nhau hợp vào, ùa đến như làn sóng thần phủ chụp. Nước mắt tao chảy ra dàn dụa.
Anh lính lúc đó mới quay đầu lại, chừng như bất nhẫn, nhìn bà mẹ một hồi rồi ngập ngừng đưa tao tô cháo đang húp dở.
Tao giơ tay cầm tô cháo. Mùi thơm ùa vào mũi và như một phản xạ không kiềm chế được, tao há miệng cho dòng cháo chảy vào.


Nhưng nước mắt tao càng lúc càng chảy ra nhiều hơn.
Cái đau tinh thần đã thay thế cho tất cả những nỗi đau thân thể và cơn đói hành hạ.
Tao thấy tao: Một Bác sĩ vừa ra trường, cả đời chỉ lo học hành, đi tìm cái hay, cái đẹp của cuộc đời, muốn giúp người, cứu người . . . Và chỉ trong mấy tháng vừa qua sau khi ra trường làm việc tại Bệnh viện Tiểu khu này, tao đã cứu được nhiều thương bệnh binh và cũng được nhiều người kính phục. Tại sao tao lại ở đây, khổ sở, đau đớn, điên cuồng vì đói để bị sỉ nhục, khinh khi chỉ vì cái đói kinh khủng đã làm tao phải mở miệng để xin ăn cháo!
Dòng cháo thơm tho, nuôi sống, đã vào miệng rồi nhưng cơn nghẹn ngào và nước mắt tuôn rơi làm tao không thể nuốt nổi.
Cổ họng tao như thắt lại và dù cơn đói thôi thúc, tao nhả ra và trao lại tô cháo cho anh lính.
Tao cố gắng dùng tàn hơi để bắt mình lết dần sang một chỗ khác, để không thấy, không nghe tiếng húp cháo nữa, dù mùi cháo thơm tiếp tục bay đến hành hạ như không bao giờ ngơi nghỉ.”
* * *
Phước nhìn tôi, hỏi, nhưng cặp mắt mơ màng như vẫn còn đang sống trong kỷ niệm của ba mươi mấy năm về trước:
“Mày nghe đã sợ cái đói thực sự như thế nào chưa?


Nhưng khoan! Trước khi vào ăn cơm, để tao kể nốt cho mày nghe câu chuyện đói khác. Chuyện này có hậu hơn. Tao biết mày thích chuyện gì cũng phải có hậu mà phải không?
Tao sẽ kể thêm những chuyện trong trại tù binh ở miền Nam cho mày nghe sau, để tao nhảy sang chỗ tao bị chuyển ra Bắc, bị đưa ra trại Yên Bái tuốt miền Bắc, cùng với những Sĩ quan khác.
Đoàn xe của chúng tao chạy suốt quãng đưòng dài, dân chúng miền Bắc như được lệnh, thấy mặt chúng tao là sỉ vả, nguyền rủa. Tao có nhiều chuyện lắm cho cuộc hành trình này, tao sẽ lần lượt kể cho mày nghe sau. Nhưng để tao kể chuyện này khi gần đến Yên Bái.


Lúc đó trời đã về chiều, đoàn xe dừng lại. Những tên bộ đội đi xuống kiếm chỗ đi tiểu hay ăn uống. Chỗ này đã gần đến Yên Bái và đã có ít căn nhà thưa thớt của dân dọc hai bên đường. Một người đàn bà dáng đã già tiến lại hỏi mấy tên bộ đội về đoàn xe. Được nghe giải thích đây là những tù binh từ miền Nam bị bắt đưa ra trại giam Yên Bái, bà ta tiến lại chỗ chúng tao. Bà hoa chân múa tay bắt đầu chửi:


“Tiên sư bố chúng mày! Cho chúng mày chết hết đi! Đáng đời chúng mày!”
Bà càng chửi càng hăng hơn. Bộ đội thích thú cười. Chúng tản mát ra kiếm chỗ để lấy đồ ngồi ăn và uống nước.


Một lúc không thấy tên bộ đội nào lảng vảng gần đó nữa, bà cụ già tiến lại gần hơn chiếc xe tao đang nằm trên cáng, mặt bà dịu lại, vẻ dữ tợn biến đâu mất, trên khuôn mặt nhăn nheo, sạm nắng và cặp mắt trũng sâu, chỉ còn lòng trắc ẩn.


Bà lại gần tao, nhìn vào vết thương đùi không lành đã mấy tháng nay, lúc nào cũng đầy mủ và bắt đầu có dòi. Bà nói nho nhỏ:


“Tội nghiệp con! Làm sao để ra nông nỗi này. Chúng nó khốn nạn quá!”
Rồi bà rút trong ngực áo ra một củ khoai, dúi vào tay tao:
“Con ăn đi cho đỡ đói!”
Bà vừa nói vừa láo liên nhìn về phía bọn bộ đội. Thấy một tên đi xăm xăm lại, bà quay người đi ngay.
Tao ngẩn người nhìn theo bà lão. Dù đang đói lả, cơn đói như cào xé lấy ruột gan, tao cũng không thể ăn ngay được.
Cho đến khi bóng bà lão khuất sau hàng dậu thưa của căn nhà bên đường và tên bộ đội trở lại chỗ ngồi cũ, tao mới ngoạm vào củ khoai còn nóng.
Miếng khoai ngọt ngào trôi vào trong cổ họng, thơm ngon và ấm áp.
Nuớc mắt tao ứa ra, nhớ lại bát cháo ngày nào ở Phước Long. Miếng cháo cũng thơm ngọt, nhưng dù có sắp chết tao không thể nào nuốt trôi.
Còn miếng khoai này, đầy ắp tình người, đã nuôi sống tao buổi chiều hôm đó, cũng như giúp tao trải qua những đọa đày cùng cực của ba năm giam cầm ở trại giam Yên Bái.
Mày thấy không? Trong chốn địa ngục của trần gian đó, chỉ còn hy vọng là điều ngăn cách giữa cái sống và cái chết, giữa lương tri và ác độc, giữa chịu đựng và buông xuôi. Và tình người của bà lão Yên Bái đã giúp cho tao còn chút hy vọng, khi đã tuyệt vọng khôn cùng, khi chỉ còn muốn nhắm mắt để vĩnh viễn ra đi.

Củ khoai của bà đã nuôi sống tao đến tận bây giờ đó mày ạ.

Bác sĩ Nguyễn Đình Phùng – Bác Sĩ Phạm Hữu Phước.


Luật sư của Will Nguyễn: ‘trục xuất’ là bài toán khôn ngoan


Luật sư của Will Nguyễn: ‘trục xuất’ là bài toán khôn ngoan
20/07/2018
Luật sư bào chữa cho công dân Mỹ William Nguyễn nói với VOA rằng mức phạt ‘trục xuất’ thể hiện bài toán khôn ngoan và có thỏa thuận của chính quyền Việt Nam.
Sau khi tham gia bào chữa cho bị cáo Will Nguyễn trong phiên xử ngày 20/7, luật sư Trịnh Vĩnh Phúc chia sẻ với VOA:
“Xử mức án trục xuất thì tôi cho rằng đây là bài toán khôn ngoan, có sự tính toán và có thể có một sự thỏa thuận nào đó giữa hai chính phủ.”
Xử mức án trục xuất thì tôi cho rằng đây là bài toán khôn ngoan, có sự tính toán và có thể có một sự thỏa thuận nào đó giữa hai chính phủ.
Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc
Kết thúc phiên tòa xét xử nam thanh niên công dân Mỹ gốc Việt 32 tuổi về tội ‘gây rối trật tự công cộng, tòa tuyên Will Nguyễn mức phạt là trục xuất ngay lập tức, kèm theo một mức phạt tiền.
Truyền thông Việt Nam cho biết xét bị cáo thành khẩn khai báo, toà không áp dụng hình phạt tù là “thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.” Ngoài ra, toà cũng tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là tạm giam với bị cáo, và hoàn trả tài sản bị thu giữ.
Luật sư Phúc chia sẻ thêm rằng mức án áp dụng cho công dân Mỹ này thấp hơn so với những vụ tham gia biểu tình khác:
“Nếu xét ra thì rõ ràng mức án cho Will Nguyễn như thế là mức án thấp so với xử một số vụ án khác về việc tham gia biểu tình. Như vậy đã tạm thỏa mãn đôi bên. Chúng tôi thấy rằng phiên tòa này vừa mang tính pháp lý và cũng có yếu tố quan hệ ngoại giao.”
Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc cho biết thêm:
“Phiên tòa này kết thúc trong sự chấp thuận, đồng tình của bị cáo, của gia đình và của luật sư. Bị cáo không kháng cáo. Tòa áp dụng mức trục xuất là mức án thấp dành cho người nước ngoài. Trước phiên tòa chúng tôi vào trại giam gặp Will và Will cũng rất mong được áp dụng hình thức trục xuất. Do đó khi đại diện Viện Kiểm sát đề xuất hình phạt trục xuất thì chúng tôi thấy nhẹ nhõm đi. Bài bào chữa của hai luật sư cũng được thay đổi, rút ngắn… và đồng tình theo hướng đó.”
Will Nguyễn, có tên tiếng Việt là Nguyễn Anh Duy, bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an TP. Hồ Chí Minh chính thức khởi tố, bắt tạm giam ngày 12/6 do tham gia biểu tình tuần hành ngày chủ nhật 10/6 phản đối Dự luật Đặc khu kinh tế và Luật An ninh mạng.
Ông James Thrower, một phát ngôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội, cho Reuters biết trong một tuyên bố gửi qua Email sau phiên xử: “Chúng tôi vui mừng khi vụ án công dân Hoa Kỳ William Nguyễn đã được giải quyết.”
Chúng tôi vui mừng khi vụ án công dân Hoa Kỳ William Nguyễn đã được giải quyết.
Ông James Thrower, người phát ngôn Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội
Sau khi biết kết quả phiên tòa, dân biểu Hoa Kỳ Jimmy Gomez ra thông cáo nói: “Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng cử tri của tôi, William Nguyễn, sẽ sớm được đoàn tụ với gia đình của mình sau cuộc thử thách đau khổ ở Việt Nam… Tôi muốn chân thành biết ơn cơ quan ngoại giao và các quan chức chính phủ đã làm việc cùng nhau để có một kết cuộc tốt như vậy.”
Trong các cuộc thảo luận với quan chức cấp cao của Việt Nam nhân chuyến thăm Hà Nội vào đầu tháng 7, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã nêu vụ bắt giữ công dân Mỹ William Nguyễn.
Trong thời gian tạm giam hơn một tháng, các viên chức Tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại TP. HCM đã tổ chức thăm lãnh sự công dân Mỹ Will Nguyễn 3 lần, lần gần nhất là vào ngày 13/7, theo trang Facebook Free Will Nguyễn.
Việt Nam sẽ phải gánh chịu hậu quả nếu kết án tù đối với công dân Mỹ Will Nguyễn.
Dân biểu Hoa Kỳ Alan Lowenthal
Một ngày trước khi các dân biểu trên gửi thư cho Tổng thống Trump, Đài Truyền hình TP. HCM (HTV) phát một bản tin, trong đó Will Nguyễn nói rằng “Will hiểu là hành động của Will là vi phạm” và “sai trái với luật pháp Việt Nam.”
Tại cuộc họp báo thường kỳ ở Hà Nội hôm 14/6, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói rằng anh William Nguyễn "bị tạm giữ do có hành vi gây rối trật tự công cộng.” Sau đó, Viện Kiểm sát TP. HCM nói với báo giới rằng Will Nguyễn có thể đối mặt với hình phạt lên đến 7 năm tù giam.
Chỉ vài giờ trước phiên xử hôm 20/7, dân biểu Lowenthal ra cảnh cáo rằng Việt Nam sẽ phải gánh chịu hậu quả nếu kết án tù đối với công dân Mỹ Will Nguyễn.


Friday, July 20, 2018

‘Đất nước lâm nguy’: cảnh báo nêu ra với chủ tịch nước


Đất nước lâm nguy’: cảnh báo nêu ra với chủ tịch nước
RFA
2018-07-20

Đức Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh thuộc Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, tiếp tục lên tiếng về hiện tình đất nước thông qua bức thư gửi đến Chủ Tịch nước Việt Nam, ông Trần Đại Quang.
Phóng viên Đài Á Châu Tự Do, có cuộc phỏng vấn trực tiếp với Đức Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh về việc này.
Nguyễn Tuấn: Thưa Đức Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh, vào ngày 14 tháng 7 vừa qua, Đức Giám mục có bức thư gửi cho chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang với cảnh báo ‘Đất nước lâm nguy’. Đức Giám mục nêu lên những thực tế để chứng minh cho những cảnh báo đó. Vậy Đức Giám mục ghi nhận những thực tế đó từ đâu?
Đ.G.M Hoàng Đức Oanh: Thưa ông, vấn đề là như thế này ở trong nước cũng như ở ngoài nước, khắp mọi nơi người ta nói đất nước lâm nguy và trong đất nước ông đã thấy cái bản đồ mà tôi đã dẫn chứng và thực tế cái bản đồ đó đã chứng minh khắp các tỉnh thành đều có các đặc khu, những người tàu đã thuê như Formosa, như Bauxite Tây Nguyên…Các tỉnh nào cũng có bây giờ thêm ba đặc khu với ba điểm chiến lược như thế và thiên hạ đã thấy tàu đỏ đã chiếm Biển đông cũng như là chiếm Hoàng Sa, Trường Sa vậy, thì đã rõ ràng. Hiện nay trên thế giới cũng đã lên tiếng và chính người tàu đỏ đã xác định nhiều lần trên đài, trên báo chí về chuyện vào năm 1958, ông Phạm Văn Đồng thủ tướng nước Cộng Sản miền Bắc đã ký hiệp ước trao Hoàng Sa, Trường Sa cho Tàu đỏ. Cũng như năm 1974 khi Tàu chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa thì chính quyền miền Bắc không hề phản đối, rồi năm 1990 ông Nguyễn Văn Linh đã ký hiệp mật ước Thành Đô và người Tàu Cộng Sản đã công khai xác định rõ. Trong khi đó, những vấn đề lớn như vậy mà bên chính quyền Cộng Sản Việt Nam không hề cải chính không hề nói năng gì trong khi dân chúng hoang mang và thế giới hoang mang lại càng xác tín hơn nữa.
Nguyễn Tuấn: Đây là bức thư thứ hai mà Đức giám mục gửi đến cho lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Trên thực tế cho thấy lâu nay giới nhân sĩ- trí thức Việt Nam có những kiến nghị, tâm thư gửi đến các cấp cao nhất ở Việt Nam rồi; nhưng không hề được phản hồi. Ngay cả Hội Đồng Giám Mục Việt Nam từng có những thư gửi cho lãnh đạo trong nước và dường như cũng bị rơi vào quên lãng. Vậy tại sao Đức Giám mục vẫn làm việc này?
Đ.G.M Hoàng Đức Oanh: Thứ nhất là tôi ý thức được là quyền công dân của tôi với ý thức đầy đủ yêu nước tôi phải lên tiếng khi đất nước lâm nguy. Thứ hai tôi lên tiếng vì hy vọng rằng mặc dù ông Chủ tịch không trả lời nhưng tôi hy vọng rằng qua tiếng nói đó thì dân chúng cũng như là cán bộ sẽ đọc và tới tai ông. Đồng thời qua đó thì tôi nghĩ rằng lay tỉnh được rất nhiều người đảng viên cộng sản cũng như dân chúng để mọi người thấy đất nước lâm nguy, thấy trách nhiệm của mình và có gợi ý cho mọi người có thể phản ứng thích hợp cho hiện tình đất nước.
Nguyễn Tuấn: Dạ vâng, trong lá thư gửi ông Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang, Đức Giám mục có nêu ra kỳ vọng đất nước Việt Nam đang cần một nhân vật tầm cỡ như Thánh Mahatma Gandhi của Ấn Độ hay Mikhail Gorbachev của Nga… Vậy kỳ vọng như thế có là điều không tưởng vì một nhân cách quá lớn có những quyết định sáng suốt cho dân, cho nước như thế phải có bề dày về giáo dục, tu dưỡng hay không thưa Đức Giám mục ?
Đ.G.M Hoàng Đức Oanh: Tôi nghĩ rằng ở đời có hai điều, thứ nhất là anh hùng tạo thời thế và thứ hai thời thế tạo anh hùng. Tôi nghĩ rằng cả hai trường hợp có thể có những nhân vật mà thời thế có thể tạo nên những con người vĩ nhân có thể đóng góp giải quyết những vấn đề của đất nước này.
Nguyễn Tuấn: Ngoài đề nghị người cầm đầu đất nước bẻ lái, Đức Giám mục còn có hiến kế gì khác cho những vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo. Họ là những người có tiếng nói đối với tín hữu cùng chung niềm tin hay không, thưa Đức Giám mục?
Đ.G.M Hoàng Đức Oanh: Tôi nghĩ rằng các vị lãnh đạo các tôn giáo có nhiệm vụ lên tiếng thích hợp cho tình hình đất nước này và các vị đó đều có ý thức và cách của các vị nhưng mà hiện nay tôi nghĩ rằng lời Giám Mục Desmond Tutu của Zimbabwe đã nói trong cái trường hợp mà áp bức như thế này. Một bên là áp bức một bên là bị áp bức thì tất cả những người mà im hơi lặng tiếng mà không lên tiếng thì vùi chung đứng về phía áp bức dân nghèo. Đó là lập trường mà tôi đồng ý với Tổng Giám mục Zimbabwe.
Nguyễn Tuấn: Đức Giám mục có được sự chia sẻ nào của những người thân quen khi gióng lên hồi chuông cảnh báo ‘Đất nước lâm nguy’ như trong thư gửi chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang hay không thưa Đức Giám mục?
Đ.G.M Hoàng Đức Oanh: Tôi đã nhận được rất nhiều điện thoại, cũng như tin nhắn và đọc trên các bài bình luận của các chuyên gia. Mọi người chia sẻ khi đọc bức thư của tôi thì tuyệt đa số là khích lệ tôi và đồng ý với tôi là nhận xét rằng tôi nói rất đúng và hoàn toàn có cơ sở.
Nguyễn Tuấn: Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do cùng Nguyễn Tuấn xin cảm tạ Đức Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh đã dành cho cuộc phỏng vấn này.
Đ.G.M Hoàng Đức Oanh: Cảm ơn ông, cảm ơn quý đài xin cầu chúc mọi người ý thức và cầu nguyện ơn trên cho đất nước Việt Nam chúng ta. Cảm ơn quý vị.


Séc ngưng cấp thị thực cho VN vì lo ngại an ninh


Séc ngưng cấp thị thực cho VN vì lo ngại an ninh
RFA
2018-07-20
Đại sứ quán Séc tại Việt Nam vào ngày 20 tháng 7 ra thông báo tạm ngừng tiếp nhận hồ sơ xin thị thực dài hạn đối với đương đơn Việt Nam.
Thông báo nêu rõ thị thực dài hạn theo mục đích lao động và kinh doanh đối với công dân Việt Nam bị tạm dừng và Bộ Ngoại giao Cộng Hòa Séc đã triển khai các biện pháp thích hợp có hiệu lực từ ngày 18 tháng 7 năm 2018.
Theo thông báo thì trong cuộc họp diễn ra vào ngày 18 tháng 7, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chính phủ Cộng hòa Séc, ông Jan Hamacek nêu lên lý do của quyết định vừa nêu là bởi Đại sứ Quán Séc ở Hà Nội quá tải về số lượng đơn. Song song đó theo Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Cộng Hòa Séc thì có những lo ngại về những nguy cơ khác.
Thông báo vừa nêu được đưa ra chỉ vài ngày sau khi một nghi can trong vụ bắt cóc cựu quan chức dầu khí Trịnh Xuân Thanh bị buộc tội tham nhũng từ Đức đưa về Việt Nam nhận tội có tham gia vào vụ bắt cóc xảy ra hồi tháng 7 năm ngoái. Đó là nghi can Nguyễn Hải Long cư ngụ tại Séc. Trong phiên xử diễn ra vào ngày 17/07/18 ở Berlin, Nguyễn Hải Long thú nhận có biết vụ việc ngay từ đầu. Ngoài ra còn giúp một người bà con có tên Đào Quốc Oai thuê lần lượt 3 chiếc xe ở Cộng hòa Czech để chạy sang Đức. Trong những chuyến đi như thế, Nguyễn Hải Long có gặp mặt Trung tướng Công an Việt Nam Đường Minh Hưng và biết ông này sang Đức để bắt một nhân vật quan trọng đưa về Việt Nam xét xử.
Hôm 21/6/2018, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Cộng hòa Séc nói rằng “Việt Nam là tội phạm có tổ chức và trở thành mối đe dọa an ninh quốc gia hàng đầu”. Theo ông Zaoralek, visa cho sinh viên Việt Nam vào Séc là công cụ để đưa tội phạm vào nước này.
Ngày 24/6, ông Hồ Minh Tuấn, Đại sứ Việt Nam tại Séc lên tiếng phản bác lời của ông Zaoralek, gọi phát biểu này là “hoàn toàn không phù hợp với sự phát triển tốt đẹp của mối quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống giữa hai nước những năm qua.”


Will Nguyen bị trục xuất ra khỏi Việt Nam


Will Nguyen bị trục xuất ra khỏi Việt Nam
RFA
2018-07-20
Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 7 đã tuyên phạt trục xuất ngay lập tức Will Nguyen, một công dân Mỹ gốc Việt bị bắt vì tham gia cuộc biểu tình phản đối dự luật đặc khu và luật an ninh mạng hôm 10/6 vừa qua.
Will Nguyễn bị truy tố về tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 2 điều 318 BLHS Việt Nam với khung hình phạt từ 2 đến 7 năm.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định Will lần đầu phạm tội và đã thành khẩn khai báo, lại là người nước ngoài nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ.
Truyền thông trong nước nói rằng khi được nói lời sau cùng, Will đã nhận sai và mong muốn sau này vẫn được về VN đóng góp xây dựng đất nước. Ngoài ra, anh còn bày tỏ tình cảm của mình với VN là quê hương cội nguồn của cha mẹ anh.
Sau khi tòa tuyên án với hình phạt là trục xuất ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Will Nguyen đã được tháo còng tay và đưa lên một chiếc xe 7 chỗ chứ không phải xe thường dành cho các bị cáo.
Về phía Mỹ, sau khi phiên  xét xử kết thúc, dân biểu Alan Lowenthal đã ra thông cáo bày tỏ niềm vui và sự nhẹ lòng khi Will Nguyen được trở về nhà. Tuy nhiên ông cũng nói thêm lẽ ra Will không phải bị giam giữ lâu đến vậy bởi vì rõ ràng anh vô tội. Vị dân biểu cũng bày tỏ quan ngại khi chính quyền VN thường xuyên bắt bớ, bỏ tù những công dân chỉ vì họ lên tiếng bảo vệ quyền làm người của mình.
Bản thông cáo nói rõ, kết quả phiên tòa là một điều tốt cho Will, gia đình và bạn bè anh ấy, tuy nhiên nó cũng cho thấy người Việt Nam còn phải đi một chặng đường dài đấu tranh để chính phủ tôn trọng những quyền căn bản của con người.
Will Nguyen, 32 tuổi, là một công dân Mỹ gốc Việt hiện đang theo học Thạc sĩ tại Đại học Quốc gia Singapore. Anh đã tham gia vào cuộc biểu tình tại Sài Gòn vào ngày 10 tháng 6 để phản đối dự luật đặc khu và luật an ninh mạng ở Việt Nam. Các video được lan truyền trên mạng sau đó cho thấy Will Nguyễn đã bị những người mặc thường phục dùng vũ lực bắt và lôi lên xe trong khi đầu và mặt anh bị chảy máu.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó cho biết phía an ninh Việt Nam đã không sử dụng vũ lực đối với Will Nguyễn.


Ngô Đình Lệ Quyên


Ngô Đình Lệ Quyên

Ngô Đình Sơn là Con trai duy nhất của Luật Sư Ngô Đình Lệ Quyên. Cha của cháu Ngô Đình Sơn là người Ý (Italian).
"Ngô Đình Lệ Quyên lấy chồng người Ý nhưng vẫn giữ họ mình chứ không mang họ chồng. Bà cũng cho con lấy họ bên ngoại, đặt tên cho con trai duy nhất là Ngô Đình Sơn. Ông chồng người Ý của Lệ Quyên cũng phải chấp nhận." (Theo bài: "Về người con gái út của ông bà Ngô Đình Nhu" của báo Ngô Tộc. 
https://ngotoc.vn/…/ve-nguoi- con-gai-ut-cua-ong-ba-ngo- dinh…
Ngô Đình Lệ Quyên sinh năm 1959 tại Sài Gòn, là con gái út của ông Ngô Đình Nhu và bà Trần Lệ Xuân, người từng được mệnh danh là Đệ nhất phu nhân của Chính quyền Sài gòn cũ. Gia đình ông bà Nhu có 4 người con, 2 gái, 2 trai là: Ngô Đình Lệ Thủy, Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh và Ngô Đình Lệ Quyên.
Ngô Đình Lệ Quyên là một người phụ nữ sống kín đáo và khép mình với báo chí, nên những thông tin về bà đến với độc giả rất ít ỏi. Không giống như các anh, chị của mình, khi thể chế của ông Ngô Đình Diệm bị sụp đổ, Ngô Đình Lệ Quyên mới 4 tuổi, nên bà hầu như không có ký ức gì nhiều về quãng thời gian khi gia đình, dòng họ ở trên đỉnh cao quyền lực. Ký ức tuổi thơ của bà là những ngày tháng sống lưu vong ở châu Âu, hết Paris đến Rome.
Năm 1963, khi anh em ông Diệm - Nhu bị lực lượng của các tướng lĩnh làm đảo chính sát hại, bà Trần Lệ Xuân và con gái đầu Ngô Đình Lệ Thủy đang ở Mỹ. Bà đã nhanh chóng đưa con rời khỏi nơi đây vì cho rằng: “không thể chấp nhận lưu trú tại một đất nước mà chính phủ của nó đã đứng sau lưng âm mưu đảo chính”. Sau cuộc đảo chính, các con của ông Nhu cũng được phép rời Sài Gòn đến gặp mẹ tại Paris, nơi bắt đầu cuộc sống lưu vong của mấy mẹ con.
Thời gian này người anh của ông Diệm và ông Nhu là Ngô Đình Thục đang làm giám mục ở Tòa thánh Vatican. Trong hoàn cảnh không còn chỗ nương tựa, bà Trần Lệ Xuân đã đưa 4 người con đến xin tị nạn tại Rome, cậy nhờ giám mục Ngô Đình Thục giúp đỡ.
Nhiều người cho biết: lúc còn ở Việt Nam hay khi sống lưu vong ở nước ngoài, giám mục Ngô Đình Thục luôn rất yêu thương các cháu, con của chú Nhu nên ở nơi đất khách quê người này ông là thân nhân, cũng là chỗ dựa duy nhất của mẹ con bà Trần Lệ Xuân. Người ta nói, nhà cửa, tiện nghi của mẹ con bà Lệ Xuân ở La Mã đều do giám mục Ngô Đình Thục mua sắm, ông còn cung cấp tiền bạc cho các cháu ăn học.
Ngô Đình Lệ Quyên theo học trường Đại học Rome và lấy bằng Tiến sĩ Luật tại đây rồi trở thành một luật sư ngành công pháp quốc tế rất nổi tiếng. Tuy nhiên, bà chỉ được mời thỉnh giảng tại Đại học Rome chứ không thể làm giáo sư chính thức, bởi một trong những điều kiện bắt buộc ở Đại học Rome là giáo sư giảng dạy trong trường phải có quốc tịch Italia, trong khi Ngô Đình Lệ Quyên lại kiên quyết không xin gia nhập quốc tịch nước này.
Ngô Đình Lệ Quyên đã về sống và làm việc ở Rome từ những năm 1990. Đây cũng là nơi người anh trai Ngô Đình Trác sinh sống, còn anh trai Ngô Đình Quỳnh thì làm việc cho một công ty Mỹ có trụ sở ở Vương quốc Bỉ.
Đối với bà Trần Lệ Xuân , những năm gần cuối đời khi sức khỏe suy yếu, bà cũng chuyển từ Paris sang Italia sống gần các con trong một ngôi nhà ở Rome, nên năm 2011 khi bà qua đời, con trai, con gái cùng các cháu nội ngoại đều có mặt.
Ngô Đình Lệ Quyên từng làm Giám đốc phụ trách vấn đề di dân của tổ chức Caritas, một tổ chức thiện nguyện thuộc Tòa thánh Vatican. Theo những người quen biết với Lệ Quyên thì người phụ nữ này có một gương mặt đặc biệt giống cha là ông Ngô Đình Nhu. Năm 20 tuổi người ta bảo Lệ Quyên trông giống cha như đúc. Bà không chỉ có nét mặt giống cha mà còn giống cả về tính cách. Bà có cá tính rất đặc biệt, rất cương quyết và nổi tiếng là người cứng đầu. Có lẽ bởi vậy, nên hai mẹ con bà Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Lệ Quyên thường xảy ra xung khắc, không hòa hợp với nhau trong quan điểm sống.
Ngô Đình Lệ Quyên lấy chồng người Ý nhưng vẫn giữ họ mình chứ không mang họ chồng. Bà cũng cho con lấy họ bên ngoại, đặt tên cho con trai duy nhất là Ngô Đình Sơn. Ông chồng người Ý của Lệ Quyên cũng phải chấp nhận.
Ở tổ chức Caritas, nơi Ngô Đình Lệ Quyên làm Giám đốc phụ trách vấn đề di dân, bà được biết đến như một người lãnh đạo cương quyết, nhưng ăn nói nhỏ nhẹ, khiêm nhường và có lối sống rất chuẩn mực. Nữ Giám đốc này đóng góp vai trò to lớn trong chính sách của Caritas nên được nhiều nhân viên của tổ chức này kính trọng.
Ngô Đình Lệ Quyên dấn thân vào những công việc giúp đỡ người nghèo và người khốn khó, làm việc với lòng hăng say và tin tưởng. Bà luôn bênh vực những người di dân nghèo khó. Từ năm 2002 đến 2007, Lệ Quyên từng là thành viên Ủy ban Di dân thuộc Caritas châu Âu và sau đó là Chủ tịch ủy ban này.
Ngô Đình Lệ Quyên nổi tiếng ở Rome và ở Caritas vì rất cứng đầu trong việc không xin nhập quốc tịch Italia, mặc dù nếu có quốc tịch Italia, con đường sự nghiệp của bà sẽ tươi sáng hơn rất nhiều. Lệ Quyên đã chối bỏ con đường đó để làm công tác thiện nguyện, sống một cuộc đời khá ẩn dật.
Dẫu vậy, vì những đóng góp nổi bật của bà cho đất nước Italia nên năm 2008 theo đề nghị của Bộ Nội vụ, Tổng thống nước này đã ký sắc lệnh cấp quốc tịch Italia cho bà. Đây là một vinh dự mà chi một số ít người ngoại quốc có được ở đất nước Italia.
Ngô Đình Lệ Quyên sống rất giản dị và thân thiện với người xung quanh. Ở Italia, Lệ Quyên thường đi làm bằng xe mô tô. Chính vì vậy mà ngày 16/4/2012 bà đã tử nạn trong một tai nạn giao thông. Theo tin từ các phương tiện truyền thông thì vụ tai nạn xảy ra lúc 8h30 ở ngoại ô Rome, khi Lệ Quyên trên đường vào trung tâm thành phố làm việc. Sau cú va chạm giữa chiếc xe máy của bà với một xe bus chở học sinh đi ngược chiều, hậu quả là xe máy của bà chui vào gầm xe bus, còn bản thân bà thì bị hất văng ra khoảng 7m. (Cũng có một số nguồn tin nói rằng, chiếc xe máy do Lệ Quyên điều khiển đã bị ngã ở vùng ven nội thành Rome, bà bị một chiếc xe buýt chở học sinh cán phải và tử vong tại chỗ).
Ngày 16/4/2012 và mấy ngày sau đó, nhiều tờ báo ở Rome và các trang mạng xã hội đã đưa tin, bình luận về cái chết thương tâm của Ngô Đình Lệ Quyên. Lãnh đạo thành phố Rome đã có lời chia buồn sâu sắc đến gia đình bà. Một số trang tin cho biết, Phó Thị trưởng thành Rome, Sveva Belviso phát biểu: "Tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đối với cái chết bất ngờ của bà Ngô Đình Lệ Quyên, một người phụ nữ đã hết sức chuyên nghiệp trong công việc trên cương vị trưởng bộ phận giúp di dân tại Caritas, hỗ trợ những người khó khăn trong xã hội”. Trang web của tổ chức Caritas cũng dành những dòng chữ thương tiếc trang trọng để nói về Ngô Đình Lệ Quyên. Cùng với đó, gia quyến bà cũng nhận được nhiều lời chia buồn từ các chức sắc tôn giáo, quan chức địa phương và những người đã nhận được sự giúp đỡ của bà.
Nhiều người nói gia đình bà Trần Lệ Xuân có một "lời nguyền tháng Tư" vì nhiều người trong gia đình đều chết vào tháng Tư, theo đó người con gái đầu Ngô Đình Lệ Thủy mất tháng 4/1967, bà Trần Lệ Xuân tháng 4/2011, và nay là Ngô Đình Lệ Quyên. Có người còn nói rằng, tháng Tư là thời điểm trước thềm Phật đản, và rằng điều này liên quan đến Luật Nhân - Quả ...
Đó có thể chỉ là những lời đồn đoán. Dẫu sao, bằng sự dấn thân, với những gì đã đóng góp cho xã hội, sự giúp đỡ tận tâm cho những người nghèo khổ, cái chết của Ngô Đình Lệ Quyên cũng để lại cho nhiều người sự xót thương, nhớ tiếc.
Ngô Xuân tổng hợp
____________________________