Friday, March 4, 2016

Bí ẩn nào phía sau “Gạc Ma, vòng tròn bất tử”?

Bí ẩn nào phía sau “Gạc Ma, vòng tròn bất tử”?
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-03-03
NGHE: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/mystery-of-the-book-gac-ma-the-immortal-circle-ml-03032016082611.html/03032016-hoangsa-ml.mp3

Cuốn sách có tên “Gạc Ma, vòng tròn bất tử” có lẽ là một tác phẩm kỳ lạ nhất trong lịch sử in và phát hành sách của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, vì nó được soạn thảo nhằm tôn vinh các anh hùng liệt sĩ Gạc Ma do một tướng lĩnh đương nhiệm biên tập và đích thân mang tới Nhà xuất bản nhưng hơn một năm sau vẫn không hề xuất hiện trên giá sách của độc giả khắp nơi có quan tâm về vấn đề chủ quyền biển đảo. Mặc Lâm tìm hiểu sự việc qua lời của thiếu tướng Lê Mã Lương, người trực tiếp biên tập cuốn sách, với các chi tiết sau đây.
Sách viết về lịch sử nước ta, dù là một giai đoạn mới đây hay những điều đã xảy ra hàng trăm năm trước nếu có dính tới yếu tố Trung Quốc thì hầu như những cụm từ được xem là “nhạy cảm” đương nhiên biến mất hay được chỉnh sửa thành “nước ngoài” hay “nước lạ” . Báo chí tuy dần dần quen với cung cách này trong nhiều năm qua nhưng đâu đó vẫn có những bài viết “lách” luật bất thành văn này cho tới khi bị phát hiện, khiển trách hay rút bài viết xuống.
Đối với sách thì việc nhắc tới vấn đề Trung Quốc có khó khăn hơn nhiều. Sách muốn phát hành công khai hợp pháp phải được Cục Xuất bản cấp giấy phép đó là chưa kể trong trường hợp có giấy phép rồi đôi khi vẫn bị cấm phát hành vì lý do “nhạy cảm”. Người đọc cũng dần dần quen với cung cách làm việc này và ít có người chú ý tới.
Tuy nhiên, đối với một cuốn sách viết về sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ chống Trung Quốc mà phải bỏ mình thì việc trù dập, ém nhẹm không cho xuất bản nó lại là một việc khác. Nó là sự phản bội lại xương máu người lính và không một công dân nào có lương tri lại chấp nhận cho việc làm tắc trách này.
Cuốn sách có tên “Gạc Ma, vòng tròn bất tử” nằm trong trường hợp này. Cuốn sách được soạn thảo dưới hình thức ghi lại toàn bộ sự việc xảy ra trong và sau trận chiến năm 1988 tại Gạc Ma, khi ấy 64 anh hùng liệt sĩ đã nằm xuống tại vùng biển quê hương, một số khác bị Trung Quốc bắt làm tù binh và trao trả sau nhiều năm trong trại giam khắc nghiệp của chúng.
“Gạc Ma, vòng tròn bất tử” được soạn thảo công phu và biên tập do chính tay thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, bỏ công sức xem xét. Bên cạnh đó nhà sử học Dương Trung Quốc, đương kim đại biểu quốc hội viết lời bạt, và đặc biệt hơn nữa cuốn sách được chính ông Đào Văn Lừng - Vụ trưởng Cơ quan Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương tại TPHCM - viết lời giới thiệu.
Sau một năm, cuốn sách vẫn không có một động tĩnh gì cho thấy đang được xem xét hay chờ đợi quyết định nào đó của giới chức trách nhiệm, thiếu tướng Lê Mã Lương bộc bạch với chúng tôi:
Thực sự mà nói tôi cũng không hiểu tại sao lại có cái chuyện như vậy. Khi tôi biên tập cuốn sách này sau đấy tôi đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu các loại tài liệu để bổ sung vào làm cho phong phú hơn. Phong phú chỉ có từ ngữ, kỹ thuật mà còn làm cho trang viết sinh động, chân thực gắn với lịch sử. Lịch sử diễn ra với những sự kiện sinh động hơn và có thể nói cuốn sách này chỉ nhằm để tôn vinh 64 anh hùng liệt sĩ cũng như những người bị Trung Quốc bắt hơn 3 năm mới trao trả.
Trước đại hội 12, mọi diễn biến chính trị trong nước tạm thời đóng băng một thời gian và sau khi đại hội kết thúc với kết quả một dàn nhân sự mới, người dân quan sát thấy có sự thay đổi đáng chú ý về cách mà báo chí loan tải vụ việc có liên quan tới Trung Quốc. Từ ngữ không còn né tránh, sự việc không còn mù mờ, ẩn dụ và nhất là có hẳn những bình luận đanh thép về các hành vi mà Trung Quốc biểu hiện trong vấn đề Biển Đông.
Tuy nhiên đối với cuốn sách “Gạc Ma, vòng tròn bất tử” hình như không có một cái nhìn toàn diện như các tác giả của nó. Thiếu tướng Lê Mã Lương kể lại tình trạng đông lạnh của tác phẩm này:
Tôi đã tham gia đưa đến một vài nhà xuất bản và cuối cùng tôi đưa đến nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. Sau 5 tháng tôi cũng không thực sự theo dõi vì tôi cứ đinh ninh rằng nhà xuất bản Quân đội Nhân dân thành lập Hội đồng đọc và sau đó thì sẽ trình lên lãnh đạo Tổng cục Chính trị, lãnh đạo Bộ quốc phòng, nhưng sau đấy tôi có nghe nói Bộ trưởng Phùng Quang Thanh chưa có ý định phát hành cuốn sách này.
Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân biết vai trò của mình có giới hạn tới đâu khi nó đương nhiên nằm dưới quyền của ông Bộ trưởng Quốc phòng. Tuy nhiên, lời đồn đoán nào rồi cũng có lúc được bạch hóa. Cơ may tới cho Thiếu Tướng Lê Mã Lương, người theo dõi, đôn đốc cho số phận cuốn sách khi ông gặp chính người cần gặp là Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh. Thiếu tướng Lê Mã Lương thuật lại:
Trong một lần tình cờ làm việc với Bộ trưởng Phùng Quang Thanh tôi có nhắc lại câu chuyện này thì Đại tướng Phùng Quang Thanh nói ông hoàn toàn chưa hề biết. Ông nói “tôi còn không biết là anh tham gia vào việc viết cuốn sách này chứ chưa nói Nhà xuất bản Quân đội có báo cáo gì với tôi”. Khi ấy lập tức tôi đưa cái tập bản thảo cực kỳ nghiêm túc mà tôi đã biên tập và hy vọng nó thông qua bộ trưởng sẽ được xuất bản.
Thế mà suốt từ bấy cho đến giờ nó đã trải qua đến nửa năm rồi, tức là từ khi tôi chuyển cho nhà xuất bản Quân đội cho đến khi tôi gặp Bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh cho đến bây giờ cũng đã một năm. Cho nên thực sự tôi muốn nói là không hiểu vì sao nó lại như thế. Trong khi đó vừa qua tôi có nhận được một cuốn sách viết về Đặng Tiểu Bình tôi thấy rất lạ và tôi không tự giải thích được.
Cuốn sách mà Thiếu tướng Lê Mã lương vừa nhắc tới có cái tên rất kêu: “Đặng Tiểu Bình, một trí tuệ siêu việt” đã được xuất bản và phát hành tràn lan tại Việt Nam.
Đặng Tiểu Bình chính là người nói câu nói nổi tiếng: “dạy cho Việt Nam một bài học” vài ngày trước khi xua quân tấn công vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc, giết chết hàng chục ngàn chiến sĩ, đồng bào Việt Nam.
Hai cuốn sách với hai mục tiêu rõ rệt. Một cuốn tôn vinh xương máu của anh hùng liệt sĩ Việt Nam, cuốn thứ hai lại tôn vinh người trực tiếp giết chết những người lính chiến ấy. Đây là tình huống mà Thiếu tướng Lê Mã Lương cho là khó hiểu, ngay cả khi ông là người được huân chương anh hùng của lực lượng vũ trang nhân dân.


Khinh dân hay trọng dân

Lại chuyện khinh dân hay quý trọng dân
03.03.2016
Bài báo trước đã nêu rõ tệ vô ân bạc nghĩa của ban lãnh đạo Cộng sản (CS) đối với một số nhân sỹ, trí thức, nhà kinh doanh yêu nước, người dân miền Nam, người dân không là đảng viên CS...và tình trạng họ bị đố kỵ, phân biệt đối xử ra sao. Không có họ đố mà đảng CS làm nên chuyện gì ra trò trong cuộc gọi là Cách mạng tháng Tám và cuộc Kháng chiến chống Pháp, với hàng triệu liệt sỹ ngoài đảng đã nằm xuống ngoài mặt trận, mang theo niềm tin hão huyền rằng đảng CS sẽ đem lại độc lập tự do hoàn toàn và phồn vinh hạnh phúc cho toàn dân.
Suốt 70 năm niềm tin đó đã dần dần xa vời, đã thế đảng còn nhận vơ rằng 70 năm nay ‘’mọi chiến công và thành tựu đều là công đầu của đảng CS’’!, và đảng CS tự phong cho mình cái quyền ‘’là lực lượng lãnh đạo duy nhất, không chia sẻ cho ai khác’’. Tình hình hiện nay tệ đến mức nhà thơ Bùi Minh Quốc phải thốt lên:
Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi.
Xin kể dưới đây vài câu chuyện sống động về đảng CS cư xử với người dân để các bạn, nhất là các đảng viên CS còn thật lòng yêu nước thương dân, suy nghĩ đánh giá về cái đảng CS đang suy thoái không sao kìm hãm nổi, trở thành cản trở nguy hiểm nhất cho đất nước phát triển, hội nhập, dân chủ và phồn vinh.
Câu chuyện này dân thủ đô Hà Nội đều biết. Sau Cách mạng tháng Tám, nhà tư sản dân tộc Trịnh Văn Bô, lúc ấy 31 tuổi, đã hết lòng ủng hộ chính quyền mới. Vợ ông là bà Hoàng Thị Minh Hồ cũng tham gia phong trào phụ nữ cứu quốc. Gia đình chuyên buôn bán tơ lụa, có quan hệ quốc tế rộng rãi với Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ... với những cửa hàng lớn phố Hàng Ngang như Phúc Đồng, Lợi Quyền, Lợi Hòa, Phát Đạt, Cự Hưng. Cửa hàng lớn nhất là Phúc Lợi ở số nhà 48 hàng Ngang. Ông Hồ Chí Minh khi từ Việt Bắc về Hà Nội cuối tháng 8/1945 đã ở đây, viết bản Tuyên ngôn Độc lập tại đây, nay đã thành di tích lịch sử loại 1. Bà Minh Hồ đã kể cho tôi nghe là bộ áo quần ông Hồ mặc trong ngày lịch sử ấy là do bà đo và may gấp từ vải của nhà, áo vét ông Phạm Văn Đồng và ông Võ Nguyên Giáp mặc hồi ấy là áo của ông Trịnh Văn Bô còn mới. Bà đã tham gia Tuần lễ Vàng với 117 cây vàng, đứng đầu sổ. Trước đó, hai vợ chồng đã góp cho Quỹ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, bằng 212 cây vàng và ngay sau đó là Quỹ Độc lập 20 vạn đồng Đông Dương, bằng 500 cây vàng. Ủy ban Nhân dân Hà Nội cho biết đóng góp của ông bà Trịnh Văn Bô cộng lại là 5.147 cây vàng, giá trị hơn gấp đôi ngân khố do Pháp để lại là 1,2 triệu đồng.
Cần nói sơ thêm về ông Trịnh Văn Bính, anh ông Bô. Ông là người VN đầu tiên tốt nghiệp Cao đẳng Thương nghiệp HEC (Hautes Études Commerciales, Pháp) và Đại Học Oxford (Anh), về nước là công chức cao cấp ngành thuế của Đông Dương, dân Hà Nội gọi ông là Ông Phó Đoan. Sau 19/8/1945 ông Phạm Văn Đồng cử ông là thứ trưởng Tài chính kiêm Tổng giám đốc ngành thuế vụ kiêm luôn Tổng giám dốc quốc gia Ngân hàng. Ông đã xây dựng ngành thuế trong chiến tranh, kiểm soát chặt các cửa khẩu giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm, mang lại ngân sách đáng kể cho trung ương và các địa phương, một trong những điều kiện quyết định của phong trào tự túc, cho kháng chiến thắng lợi. Ông về hưu năm 1975 và mất năm 1985 trong cảnh nghèo nàn, đảng CS không hề nhắc đên công ơn của 2 anh em ông đã cống hiến to lớn ra sao.
Sau chiến thắng 30/4/1975, gia đình ông bà Bô gặp khó khăn về nhà ở vì con cái, dâu rể cháu chắt tăng lên, cả 60 người chỉ có 2 ngôi nhà cũ xuống cấp, không có nơi đặt bàn thờ đàng hoàng. Trước đó, cuối năm 1954, do sức ép ghê gớm của phong trào cải tạo tư sản do ông Đỗ Mười chỉ đạo, ông bà Bô đành cho ông Thiếu tướng Hoàng Văn Thái ‘’mượn tạm ngôi biệt thự, 34 Hoàng Diệu’’, với thời hạn là 2 năm ghi rõ trên giấy tờ. Năm 1983, tình cảnh gia đình quá gay go, ông bà tỏ ý ‘’xin lại’’ ngôi nhà trên, khi thời hạn đã quá hẹn 8 năm, gấp 4 lần hẹn. Ông chủ tịch thành phố Trần Duy Hưng rất thông cảm, hết lòng ủng hộ yêu cầu chính đáng này. Nhưng vô hiệu. Ông bà liền yêu cầu Bộ Quốc phòng và Tổng Cục Chính trị QĐND can thiệp, nghĩ rằng quân đội tử tế khi mang tên nhân dân, cũng vô hiệu, vì ông Thái đã là Thượng tướng lại thông gia với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Không thể còn tin ở những tướng lĩnh của QĐND, hai ông bà gửi một loạt đơn cho lãnh đạo đảng, từ Tổng Bí thư đến Chủ tịch nước và Thủ tướng, nhưng suốt 5 năm đều công cốc, không một ai hồi âm, một sự im lặng đáng sợ. Ông Võ Văn Kiệt ghi vào đơn tán thành trả lại sớm, nhưng không ăn thua vì vấp Đỗ Mười và Lê Đức Anh. Cho đến khi ông Võ Chí Công lên làm Chủ tịch Nước, ông Công mới can thiệp khá mạnh. Ông Công là dân Quảng Nam, nói toạc rằng, ‘’Định cướp không nhà người ta à?‘’. Phải có thêm công văn của ông Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ngôi nhà mới được trả cho chủ năm 1993. Bà Bô than rằng bà mừng khi được tin vui, chỉ tiếc cụ Bô mất năm 1988 cũng như cụ Bính mất năm 1985, không biết đến niềm vui quá trễ này!
Tôi cũng xin kể một chuyện khác gây ấn tượng ghê gớm trong suy tư của tôi suốt gần 40 năm ròng, không liên quan đến vài gia đình mà liên quan đến gần 1.600 con người. Tôi không thể không nhắc lại chuyện này khi trong cuộc bầu cử năm nay lãnh đạo đảng vẫn kỳ thị phân biệt đối xử giữa đảng viên và dân ngoài đảng một cách có hệ thống.
Đó là vụ Tàu Việt Nam Thương Tín tháng 5/1975 chở 600 bà con thuyền nhân di tản sang đảo Guam của Hoa Kỳ. Bà con chờ để vào Mỹ thì có một số người có ý muốn trở về nước. Động cơ chính là lo bố mẹ vợ chồng con cháu ở lại không biết ra sao. Đây là nét đẹp rất Việt Nam, không ai muốn hưởng an bình một mình, không lo cho người thân. Thêm nữa họ mở to đài Hà Nội nghe ngóng, thấy không có tắm máu, cuộc sống miền Nam vẫn dễ thở, đảng CS vẫn ba hoa về ‘’hòa giải và hòa hợp dân tộc’’. Người ghi tên trở về ngày càng đông, đến tháng 10 lên đến gần 1.600 người, già trẻ lớn bé. Họ đều có lo ngại, nhưng tin vào luận điệu tuyên truyền trên đài Hà Nội, bảo nhau rằng dân Việt ta rất nhân hậu, ‘’ đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại ‘’. Trung tá hải quân VNCH Trần Đình Trụ tình nguyện lái tàu trở về. Đến Vũng Tàu, tàu được lệnh ra Tuy Hòa/ Nha Trang. Tại đây chưa hỏi han gì, tất cả đều phải vào trại giam là Trung tâm Thẩm vấn cũ của Quân Đoàn II, quần áo cũ bị lột sạch, mang quần áo tù nhất loạt. Bộ Công an cử cả một đoàn lớn cán bộ vào do ông Sáu Hoàng (Cao Đăng Chiếm), Thứ trưởng lãnh đạo. Tôi gặp ông Hoàng, góp ý sao Bộ Công an lại ‘’đối xử phi lý, bất công, dại dột như thế, đẩy tất cả và gia đình họ vào thế chống đối thù hận không đáng có’’. Ông ta lạnh lùng nói: “Đây là nghiêm lệnh từ Bộ Chính trị, nhất là của các đồng chí Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, sáng suốt đề phòng bọn Mỹ cấy người của chúng vào nước ta ‘’.
Từ đó tôi hiểu dần rằng Bộ Chính trị đảng CS là loại người không giống ai, tình cảm khô cạn, tư duy bệnh hoạn, nhìn đâu cũng e sợ là kẻ thù của đảng, không có khả năng phân biệt, đánh giá vô tư khoa học từng con người. Trung tá Trụ bị tù đến 13 năm, dân thường bị tù từ 3 năm trở lên, bị ghi hồ sơ cá nhân ‘’phạm pháp, từng bỏ nước, hợp tác đầu hàng đế quốc Mỹ ‘’, sẽ mãi mãi không ngóc đầu lên được.
Đó là hồ sơ thành tích trọng dân, quý dân, gần dân của lãnh đạo CS là như thế. Tôi mong tất cả các đảng viên CS còn có tư duy lành mạnh, có tâm huyết với đất nước , yêu nước thương dân thật lòng, hãy chào từ biệt đảng CS, chung sức lập ra đảng cách mạng mới theo Luật lập hội. Đảng CS nào cũng chung bản chất tư duy, lẫn lộn bạn thù ta, ngồi trên đầu nhân dân, coi quyền lực là trên hết theo nguyên lý chuyên chính vô sản là chân lý vĩnh cửu.
Hãy nhìn cho sâu, cho rõ, đảng CSVN nay đã trở thành vật cản nguy hiểm độc nhất cho đất nước ta trên con đường hội nhập, phát triển, dân chủ, đoàn kết thống nhất, bình đẳng, đi tới phồn vinh và hạnh phúc. Hàng trăm đảng CS hùng mạnh một thời ở Liên Xô, Đức, Ba Lan, Anh, Pháp, Ý, Nhật, Indonesia, Malaysia đã tan rã triệt để, số ít thoi thóp, đổi tên, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê, từ bỏ chuyên chính vô sản, không còn thế đứng nào trên toàn thế giới. Lý do chính là họ đã mất gốc dân tộc, mất gốc nhân dân, coi nhân dân như con số không, chỉ có đảng CS của họ là trên hết, trước hết.


Robot sát thủ của Nam Hàn

Quân sự: Robot sát thủ của Nam Hàn
Simon Parkin
·         24 tháng 8 2015

Tại thành phố Daejeon của Hàn Quốc, một nhà máy sản xuất vũ khí đã thiết kế và cho ra một loại súng đặt trên tháp pháo. Thứ vũ khí này có khả năng nhận dạng, tìm theo và nhắm bắn mục tiêu không cần có sự can thiệp của con người. Vậy ai sẽ là người dạy các chiến binh robot này nguyên tắc tác chiến?
Trên ngọn đồi xanh tươi nhìn xuống Daejeon, một thành phố miền trung Nam Hàn, một súng máy gắn trên tháp pháo đang tầm quét mục tiêu phía trước.
Cả bộ, gồm đế và súng, to cỡ bằng một chú chó lớn, trông trắng trẻo, sạch sẽ.
Băng đạn cỡ .50 đủ mạnh để chặn đường một chiếc xe tải được vắt sang một bên. Một sợi cáp ethernet nối từ đế dẫn xuống nền cỏ rồi chạy vào một lều vải.
Sợi cáp bò lên trên giá đỡ rồi luồn vào phía sau chiếc máy tính với màn hình hiển thị các hình ảnh khác nhau do camera truyền về.
Một camera mắt cá ghi hình góc rộng 180 độ cho thấy quang cảnh trước mắt. Một camera khác theo dõi từ trên không xuống, chiếu thẳng vào vị trí chúng tôi đang đứng.
Phủ trên những hình ảnh đó là một vùng có hình chóp nón màu đỏ, đánh dấu tầm tấn công của tháp pháo. Phạm vi này quy ra trên địa hình thực tế sẽ là một khu vực trải dài 4km, đủ để xâm nhập vào sâu trong thành phố nếu tính từ địa điểm quan sát trên cao đầy lợi thế này.
Cạnh bàn phím là một bộ cần điều khiển phức tạp, khá giống với bộ điều khiển các game máy tính hiện đại.
Một tấm gỗ gắn vào bàn ở phía trên bảng điều khiển cho biết chức nhăng của từng loại nút bấm khác nhau. Một nút là để ngắm bắn. Một nút khác để đo khoảng cách từ vị trí súng tới mục tiêu. Một để nạp đạn.
Nhóm các kỹ sư đứng quanh bàn tỏ ra do dự khi chiếc loa phóng thanh đặt trên chân đỡ bất ngờ phát ra những âm thanh cảnh báo. Một ô vuông nhấp nháy trên màn hình máy tính báo hiệu một mục tiêu vừa bị phát hiện đang di chuyển trong tầm theo dõi của camera - đó là một chiếc xe hơi.
Vị trí của nòng súng được thể hiện bằng một ô màu đỏ di chuyển trên màn hình máy tính.
gis II có tầm hoạt động tới 4km và đủ sức hạ được mục tiêu cỡ xe tải
Chiếc loa, bộ phận được gắn liền với hoạt động của tháp pháo, là một robot phát tín hiệu cảnh báo, với âm lượng có thể nghe được từ cách xa 3km. Âm thanh được phát đi với độ chính xác không thể tin nổi, nhằm cảnh báo mục tiêu trước khi nổ súng. Lời cảnh báo phải được đưa ra trước mỗi lần nhả đạn, theo đúng luật quốc tế, tôi được một trong các kỹ sư ở đó cho biết.
"Hãy quay lại," robot nói bằng một thứ tiếng Hàn khẩn trương. "Quay lại ngay, nếu không chúng tôi sẽ bắn."
Chữ "chúng tôi" ở đây có ý nghĩa quan trọng. Super aEgis II, tháp pháo tự động ăn khách nhất của Nam Hàn, sẽ không nhả đạn nếu như không có lệnh 'OK' từ con người nói ra.
Người điều khiển trước tiên phải nhập mật mã (password) vào hệ thống máy tính để kích hoạt chức năng nhả đạn của tháp pháo. Sau đó, người đó phải ra mệnh lệnh trực tiếp thì tháp pháo mới khai hoả. "Lúc ban đầu thì thiết kế đưa ra không phải là như vậy," Jungsuk Park, kỹ sư cao cấp của DoDAAM, hãng sản xuất ra tháp pháo cho biết.
Park làm việc tại bộ phận Robot Giám sát của công ty, được đặt tại quận công nghệ Yuseong của thành phố Daejeon. Bộ phận này có 150 nhân viên, hầu hết đều là các kỹ sư.
"Đời máy đầu tiên mà chúng tôi đưa ra có hệ thống nhả đạn tự động," ông giải thích. "Nhưng tất cả các khách hàng của chúng tôi đều yêu cầu phải thêm phần kiểm soát của con người. Về mặt công nghệ thì chúng tôi không thấy có vấn đề gì, nhưng họ lo rằng súng có thể nhả đạn lầm."
Super aEgis II lần đầu tiên ra mắt hồi 2010, là một trong những loại vũ khí tự động đời mới có khả năng xác định, bám theo và phá huỷ mục tiêu di động từ khoảng cách rất xa, mà về mặt lý thuyết là không cần tới sự can thiệp của con người. Thiết bị này rất được ưa chuộng và đem lại lợi nhuận lớn cho công ty.
 Daejeon là nơi có các hãng sản xuất robot quân sự của Nam Hàn (Hình: Getty Images)
DoDAAM nói họ đã bán được hơn 30 bộ kể từ khi ra mắt, mỗi bộ là một phần trong hệ thống phòng thủ trọn gói, mỗi bộ trị giá trên 40 triệu đô la Mỹ.
Tháp pháo hiện đang được sử dụng ở nhiều nơi tại Trung Đông, trong đó có ba căn cứ không quân tại Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (Al Dhafra, Al Safran, và Al Minad), tại Hoàng Cung ở Abu Dhabi, tại một kho vũ khí ở Qatar và một số sân bay, nhà máy điện, các đường ống dẫn, các căn cứ quân sự ở các nơi khác trên thế giới.
Trong 15 năm qua, công nghệ vũ khí tự động và thiết bị không người điều khiển đã có những bước phát triển to lớn. Quân đội Mỹ sử dụng các robot bán tự động tương tự để thả bom và do thám.
Hồi 2000, Quốc hội Hoa Kỳ yêu cầu một phần ba xe quân sự trên bộ và máy bay tiêm kích phải được thay thế bằng loại tự động. Sáu năm sau, hàng trăm robot di động chiến thuật PackBot (PackBot Tactical Mobile Robots) đã được triển khai tại Iraq và Afghanistan, nhằm mở đường cho việc chiến đấu ở các khu đô thị, đặt đường cáp quang, và làm các nhiệm vụ nguy hiểm khác thay cho con người.
'Các hạn chế tự đặt ra'
Hồi đầu 2005, tờ New York Times tường thuật về các kế hoạch của Ngũ Giác Đài nhằm thay thế lính bằng các robot tự động.
Lý do thật dễ hiểu.
Nếu có robot, nhu cầu phải đưa người ra mặt trận sẽ giảm, và do vậy giảm nguy cơ thương vong của binh lính.
Tuy nhiên, trong lúc các thiết bị như Super aEgis II với khả năng tự động tiêu diệt mục tiêu đã tồn tại cả hơn chục năm nay, công chúng vẫn chưa hề biết tới việc có bất kỳ loại robot gắn súng máy tự động nào được đưa vào sử dụng.Bắc Hàn đã nhiều lần đụng độ với Nam Hàn kể từ thời 1950 tới nay (Hình: Getty Images)
Isaac Asimov, tác giả cuốn truyện khoa học viễn tưởng Nguyên tắc đầu tiên của Robot (First Laws of Robotics), cho rằng 'một robot không thể làm tổn hại tới bất kỳ ai, hoặc không thể không hành động khiến một người có thể bị tổn hại' - thế nhưng có vẻ như quy tắc này sẽ bị phá vỡ.
Việc Tổ chức Theo dõi Nhân quyền kêu gọi ra lệnh cấm đối với việc "phát triển, sản xuất và sử dụng vũ khí tự động hoàn toàn" dường như không thực tiễn. Những cỗ máy như thế thực ra đã tồn tại, đang được bán ra thị trường, dẫu cho, như Park từ DoDAAM nói, chúng được "tự đặt giới hạn" hoạt động.
"Khi khởi đầu mảng này, chúng tôi đã nhìn thấy cơ hội làm ăn," Yangchan Song, giám đốc điều hành phụ trách mảng lên chiến lược của hãng nói.
"Vũ khí tự động sẽ là thứ được dùng trong tương lai. Chúng tôi đã đúng đắn. Việc cải tiến diễn ra rất nhanh chóng. Chúng tôi đã chuyển từ các thiết bị chiến đấu điều khiển từ xa tới cái mà chúng tôi đang tiến cận: đó là các thiết bị thông minh có khả năng tự phán đoán và ra quyết định."
Nam Hàn đã trở thành người đi đầu trong lĩnh vực robot quân sự, bởi nước này có chung đường biên giới với kẻ thù không đội trời chung, theo lời Tổng giám đốc điều hành của DoDAAM, Myung Kwang Chang.
"Nhu cầu chính là cha đẻ của sáng chế," ông nói. "Chúng tôi sống trong một bối cách đặc biệt. Chúng tôi có kẻ thù hùng mạnh luôn hiện diện bên cạnh. Mối đe doạ thường trực khiến chúng tôi phải phát triển một quân đội mạnh và phải dùng đến sự hỗ trợ của công nghệ. Vũ khí của chúng tôi không bao giờ nằm yên, như con người vậy. Vũ khí của chúng tôi có thể nhìn vào bóng đêm, điều mà con người không làm được. Công nghệ giúp bù đắp những gì mà con người không làm được."
Tại khu phi quân sự (DMZ), một dải đất hẹp không bóng người nhằm phân cách hai miền Triều Tiên, DoDAAM và hãng Samsung cạnh tranh, vốn cũng từng thiết kế tháp pháo tự động nhưng nay bỏ cuộc, đã thử nghiệm Super aEgis II.
DMZ là nơi lý tưởng để thử nghiệm những thứ như thế này. Hai miền Triều Tiên chưa ký thoả thuận ngừng bắn kể từ sau khi chấm dứt sự thù nghịch chính thức hồi 1953 tới nay, cho nên DMZ là vùng đệm được hàng ngàn binh lính của cả hai bên canh phòng cẩn mật.
Tháp pháo không bao giờ ngủ, nó còn có khả năng nhìn vào bóng đêm nhờ có camera tầm nhiệt, và một khi được chĩa vào đúng hướng, nó sẽ đảm bảo biến tất cả các mục tiêu di động ở khu vực đó trở thành kẻ thù.
Tuy nhiên, sự việc phức tạp hơn khi cỗ máy được đặt tại nơi mà cả bạn lẫn thù đều đi lẫn vào nhau. Hiện loại vũ khí này vẫn chưa có cách nào phân biệt được bạn với thù.
"Bước tiếp theo là chúng tôi sẽ phát triển phần mềm nhằm phân biệt được bạn với thù, dân thường với binh lính," Song, một kỹ sư trẻ nói. "Hiện nay, tháp pháo cần có sự can thiệp của con người trong việc xác định một đối tượng nào đó có phải là mục tiêu hay không."

Park và các kỹ sư khác nói rằng họ sắp đạt được kết quả cần thiết để máy có thể hoạt động độc lập khỏi sự can thiệp của con người.
Nhờ được trang bị nhiều camera, Park nói, phần mềm của tháp pháo sẽ xác định được liệu đối tượng đang bị theo dõi có mang theo chất nổ trong mình hay không, và khả năng nhận dạng kẻ thù dựa trên quân phục người đó mặc.
Một khi vũ khí có thể phân biệt được giữa bạn và thù thì việc tiến tới tự động hoá hoàn toàn sẽ là điều đơn giản.
Các nguyên tắc phức tạp
Giả thuyết về đạo đức của Philippa Foot lần đầu tiên được đưa ra hồi 1967 là một kịch bản rất quen thuộc với các sinh viên.
Theo giả thuyết này, một toa tàu lao tới ngã rẽ thành hai hướng, đi về hướng theo dự định thì một toán năm nhân viên đang làm việc trên đường ray sẽ bị đâm vào và thiệt mạng, còn nếu bị bẻ lái sang hướng kia thì chỉ một người duy nhất đang làm việc sẽ bị chết. Vậy nếu bạn ngồi ở vị trí điều hành hướng di chuyển của toa tàu, bạn sẽ quyết định thế nào?
Cách phải đưa ra quyết định cho những tình huống như thế sẽ sớm được trả lời, nhưng không phải do con người mà là do các cỗ máy.
Chiếc xe hơi tự lái phải quyết định xem nó sẽ đâm vào chiếc xe hơi trước mặt và do đó rất có thể sẽ làm bị thương vài người trong xe đó, hay sẽ lái vòng ra, khiến cho hành khách ngồi bên trong nó bị thương.
Tương tự, phiên bản hoàn toàn tự động của máy bay không người lái Predator có thể sẽ phải quyết định liệu có nhả đạn vào một căn nhà trong đó có cả lính đối phương lẫn dân thường hay không.
Nếu bạn là kỹ sư thiết kế phần mềm, bạn sẽ đặt các bộ mệnh lệnh ra sao để thiết bị thực hiện trong các tình huống như thế?
Với nhiều người, giải pháp đơn giản nhất là hãy để những câu hỏi đó cho con người trả lời, thay vì để máy tự quyết.
Đó là lý do khiến Hiệp ước Ottawa 1997 cấm sử dụng mìn, bởi đó là những vũ khí tự động nguy hiểm, phát nổ khi có bất kỳ ai đạp phải.
Trong trường hợp đó, để con người quyết định có vẻ như là điều hợp lý.

Cũng có vẻ như việc để phi công có quyền chiếm kiểm soát đầy đủ đối với các hệ thống điều khiển máy bay tự động cũng là hợp lý.
Thế nhưng trong thảm hoạ hàng không của hãng Germanwings hồi 2015, cơ phó Andreas Lubitz đã cố tình cho chiếc phi cơ lao xuống dãy núi Alps ở Pháp, làm toàn bộ 150 hành khách thiệt mạng.
Có lẽ như thế thì lại phải là không nên để bất kỳ phi công nào có thể chiếm quyền kiểm soát hệ thống máy tính, ít nhất là khi máy bay bay vào vùng đồi núi?
"Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc phát triển vũ khí phù hợp với các tiêu chuẩn đạo đức," Gary Marcus, khoa học gia từ Đại học New York và là CEO đồng thời sáng lập viên của Geometric Intelligence nói.
Một số người cho rằng câu trả lời nên là tìm cách để máy có thể đưa ra phán đoán và quyết định phù hợp với khuôn khổ đạo đức của con người, phản ánh được các quy tắc đạo đức khác nhau trong từng tình huống.
"Chúng ta có trực giác trong việc đánh giá xem điều gì là chấp nhận được về mặt đạo đức bằng cách xem cách người khác xử sự và phản ứng ra sao trong các tình huống khác nhau," Colin Allen, giáo sư chuyên về ngành khoa học nhận thức và triết học từ Đại học Indiana nói.
"Nói cách khác thì chúng ta học được điều gì nên làm, điều gì không nên từ những người khác, nhận thức được mối nguy hiểm diễn ra từ những hành vi xấu do những mô hình xấu thực hiện. Máy tự động phải có được khả năng phân tích tương tự, nếu không nó sẽ phải chịu sự kiểm soát một cách nghiêm ngặt."
Trở lại nhà máy của DoDAAM ở Daejeon, các kỹ sư chưa có câu trả lời rõ ràng cho các vấn đề phát sinh từ quá trình phát triển công nghệ của họ.
"Sinh mạng con người là thứ quý giá hơn bất kỳ thứ gì khác, và đó là lý do khiến chúng tôi cài đặt phần kiểm soát của con người lên các tháp pháo," Song nói.
Thế nhưng với Park và các kỹ sư khác trong bộ phận nghiên cứu thì đó chỉ là một giải pháp tạm thời.
Mục tiêu của họ là làm ra sản phẩm "thông minh hơn', nhờ việc tập trung "tăng chức năng nhả đạn tự động của súng", áp dụng khả năng "nhận diện mục tiêu" và tạo ra "những hệ thống được kết nối hoàn toàn" theo đó các tháp pháo được liên kết với nhau, tạo ra một vùng kiểm soát rộng lớn hơn.
Bất kể tương lai sẽ ra sao thì các cỗ máy có khả năng tìm, đeo bám, cảnh báo và tiêu diệt con người mà không cần đến sự can thiệp của con người cũng đã tồn tại trong thế giới của chúng ta.
Nếu không có những quy định quốc tế rõ ràng, thì điều duy nhất khiến các hãng sản xuất vũ khí không bán những cỗ máy như thế ra thị trường chỉ là đạo đức, không phải của các kỹ sư lập trình hay của robot, mà của các khách hàng đặt mua.
"Nếu có ai muốn mua tháp pháo không kèm phần kiểm soát như hiện chúng tôi đang cài đặt, thì tất nhiên là chúng tôi sẽ khuyên họ cân nhắc kỹ và nêu cho họ thấy các nguy cơ có thể xảy ra," Park nói.
"Nhưng họ rốt cuộc vẫn có quyền quyết định là họ muốn gì. Và chúng tôi sẽ phục vụ theo nhu cầu của khách hàng."


Friday, February 26, 2016

Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

I. “BẢY CHỊ EM”  (Seven Sisters) nghĩa là gì?
“BẢY CHỊ EM ” hay tiếng Anh còn gọi là “Seven Sisters ” là tiếng lóng để ám chỉ bảy công ty dầu hỏa lớn nhất thế giới , nắm khoảng 85%—95% trữ lượng dự trử dầu hỏa của thế giới. Khởi thủy ( lúc ban đầu) , “BẢY CHỊ EM” trong ngành dầu hỏa bao gồm các công ty sau đây:
•Exxon (xuất thân từ Standard Oil of New Jersey )
•Mobil (xuất thân từ Standard Oil of New York)
•Chevron (xuất thân từ Standard Oil of California)
•Texaco
•Gulf Oil
•Shell
•British Petroleum
Về sau này, Exxon xác nhập với Mobil vào năm 1998 để trở thành ExxonMobil , Chevron mua đứt Texaco vào năm 1984 và Britist Petroleum mua đứt Gulf Oil cho nên “BẢY CHỊ EM”  lần hồi không còn đúng nữa nhưng thành ngữ “BẢY CHỊ EM”  vẫn được sử dụng  để ám chỉ các công ty dầu hỏa hàng đầu của thế giới.
Hiện tại thì Chevron và Texaco,  hai thành viên quan trọng nhất của  giới “BẢY CHỊ EM” đang khai thác dầu hỏa tại Việt Nam. Riêng Chevron thì cho là đã có mặt tại Việt Nam ngay năm 1994 , tức là năm Hoa Kỳ chính thức bãi bỏ mọi cấm vận đối với  Việt Nam .  Xin được ghi chú là thêm hai công ty Chevron và Texaco đã vào Việt Nam còn đội lốt dưới cái tên khác là CALTEX.
Như vậy “BẢY CHỊ EM ” thực sự có mặt tại Việt Nam từ lâu và những bí ẩn riêng tư bên trong của giới “BẢY CHỊ EM” ảnh huởng lên chính trị , lịch sử , và kinh tế  của Việt Nam là điều mà cần phải phân tích cặn kẽ tận tường khi bình luận hay khi đưa ra những đối sách chính trị ngoại giao cần thiết cho Việt Nam
II.  Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên nền chính trị Việt Nam hiện nay:
Cơ quan US Energy Information Administration gọi tắt là EIA của Hoa Kỳ loan  báo chính thức là trữ lượng dầu hỏa tại Biển Đông lên đến 11 tỷ thùng và 190 ngàn tỷ cubic ft khí đốt (một cubic foot tương đương với 0.28 mét khối )
EIA cũng đưa ra bản thống kê chính thức trữ lượng dầu hỏa và khí đốt của các nước trong vùng biển Đông  như sau:
Bảng thống kê 1 : Dự trữ dầu hỏa tại biển Đông
bang-1
Như vậy , trữ lượng dầu thô của Việt Nam ( 3 tỷ thùng ) không thôi đã chiếm gần 27.3 %  gần một phần ba trữ lượng của toàn vùng . Còn về lượng khí đốt thì Việt Nam đã đứng hang thứ ba trong vùng theo bảng tổng kết trình bày ở trên từ EIA.
Dữ liệu do chính EIA đưa ra cho thấy Việt Nam đã có thể cán đán sản xuất gần 300 ngàn thùng dầu thô mỗi năm , tức là tương đương với khoảng 13.5 tỷ Mỹ kim mỗi năm nếu giá dầu thô chỉ là 45 Mỹ kim một thùng.
Biểu đồ 1: Mức tăng trưởng sản xuất dầu hỏa của Việt Nam
bang-2
Dựa vào biểu đồ 1 , nếu lấy  năm 1994 làm cột mốc vì là năm Hoa Kỳ chính thực bãi bỏ cấm vận, thì sản lượng dầu thô của Việt Nam đã tăng từ 150 ngàn thùng một năm lên đến hơn 300 ngàn thùng một năm, gấp đôi tổng sản lương trong hai mươi năm.
Rõ ràng , với trình độ kỹ thuật và khả năng khai thác của Việt Nam không thể tạo ra sự nhẩy vọt về tổng sản lượng nếu như không có “BẢY CHỊ EM” ta đứng đằng sau trợ sức mọi mặt từ vốn đến kỹ thuật
Quan trọng hơn hết , toàn bộ miền duyên hải phía nam của Việt Nam, trong đó có quần đảo Trường Sa (Sparatly Islands) thuộc chủ quyền của Việt Nam  nằm hoàn toàn trên tuyến đường chuyên chở dầu hỏa khắp cả vùng châu Á Thái Bình Dương, theo sự xác nhận của EIA với tổng số lên đến  11 triệu thùng một ngày vào năm 2011 được phân bố ra các quốc gia như bản đồ dưới đây:
Họa hình 1:  Khối lượng vận chuyển dầu hỏa ngang qua biển Đông
hinh-1
Như vậy , nguồn lợi thu được từ thuế hàng hải khi vận chuyển dầu hỏa qua hải phận đối với các quốc gia trong vùng và nhất là đối với Việt Nam, hiện đang kiểm soát 29 đảo của quần đảo Trường Sa vô cùng to lớn.
Do đó , nhằm đảm bảo quyền lợi lâu dài lên đến cả trăm năm, “BẢY CHỊ EM” cần phải có những ảnh huởng chính trị cần thiết lên chính trường Việt Nam cũng như  cần chính phủ Hoa Kỳ can thiệp mạnh mẽ để sự đi lại hàng hải, chuyên chở dầu hỏa trên con đường này không bị Hải quân Trung Quốc bắt nạt và buộc phải đóng thêm thuế hàng hải cho Trung Quốc
Trung Quốc đã nhiều lần kiếm cách phá rối, hăm dọa cũng như áp lực lên giới “BẢY CHỊ EM ” bằng nhiều kiểu cách khác nhau nếu tiếp tục bắt tay với Việt Nam khai thác dầu hỏa, khí đốt trong vùng .
Việc Trung Quốc đưa dàn khoan dầu khổng lồ 981 vào lãnh hải Việt Nam vào ngày 2 tháng Năm năm 2014 với dàn hải quân hùng hậu hộ tống cũng chính là nhằm dằn mặt “BẢY CHỊ EM” ta đã phớt lờ Trung Quốc khi ký kết các hợp đồng khai thác tại vùng biển này và nhất là tại Cửu Long Basin , phía nam duyên hải Việt Nam mà Trung Quốc đã ngang ngược cương quyết đòi chủ quyền. Ngoài ra , Trung Quốc cũng muốn nhìn phản ứng của “BẢY CHỊ EM” ra sao trước tình huống này  (political benchmark testing).
“BẢY CHỊ EM” biết quá rõ về lâu về dài, khi Trung Quốc đã không chế được tình hình rồi thì Trung Quốc sẽ tự bỏ vốn khai thác , “BẢY CHỊ EM” vĩnh viễn không có phần và phải quy lụy Bắc Kinh tối đa để duy trì sự vận chuyển dầu hỏa lên Nhật Bản hoặc các nước khác trong vùng.
Điều đó càng cho thấy giới “BẢY CHỊ EM” ta không thể để các phần tử Đảng viên bảo thủ thân Trung Quốc ở trong Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục mạnh thế  khiến những toan tính cam kết đầu tư giữa Việt Nam và  giới “BẢY CHỊ EM” bị đe dọa, bất ổn.
Hơn nữa, để đảm bảo quyền lợi lâu dài, “BẢY CHỊ EM” sẽ tìm đủ cách tạo ra cho mình những ảnh huởng chính trị cần thiết trên chính trường Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.
Cho nên, để “BẢY CHỊ EM” có thể yên tâm dò tìm , đầu tư và khai thác dầu hỏa và khí đốt tại thềm lục địa Việt Nam,  Cộng Sản Việt Nam cần phải có chính sách chính trị đối ngoại hợp tác với Hoa Kỳ sâu rộng về quốc phòng.
Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam tỏ ra do dự hay sẵn sàng ngả về Trung Quốc thì giới “BẢY CHỊ EM” sẽ không gia tăng đầu tư vào Việt Nam vì rủi ro ( risk) quá lớn trước sự hăm dọa của Trung Quốc.
Từ đó, mối bang giao Việt- Mỹ  chịu ảnh hưởng âm thầm nhưng mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM”.
Đơn giản, đầu tư của “BẢY CHỊ EM” sẽ sút giãm nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại  nặng nề  về kinh tế cho Việt Nam nếu  Việt Nam không nằm trong đường lối hợp tác quốc phòng mà chính phủ Hoa Kỳ đề ra trong sách lược của mình tại Đông Nam Á.
Như vậy đường lối chính trị ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam cũng đang lần hồi bị ảnh hưởng áp lực của  giới “BẢY CHỊ EM “.
Ngụy trang bằng lý do quốc phòng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từ từ xích gần lại Hoa Kỳ để tìm một sự bảo vệ  nhằm lợi nhuận từ dầu hỏa được ổn định và gia tăng.
Nếu  mất đi gần hoặc hơn 10 % tổng giá trị sản phẩm quốc dân – GDP ( Gross Domestic Product )  từ nguồn lợi tức dầu hỏa và cả khí đốt , chưa kể các quyền lợi về công ăn việc làm , cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội do các hoạt động đầu tư của “BẢY CHỊ EM” đem lại thì kinh tế Việt Nam và ngân sách quốc gia của Việt Nam sẽ suy sụp nhanh chóng .
Điều này sẽ đặt Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tình thế lâm nguy về an toàn chính trị trước suy thoái kinh tế. Khi nguồn lợi tài chánh từ dầu hỏa mất đi , Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ bị tê liệt về ngân sách , dẫn đến sụp đổ nhanh chóng về chính trị.
Ba đời thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, từ Võ Văn Kiệt đến Nguyễn Tấn Dũng điều là người miền Nam và có liên quan trực tiếp đến sự an toàn, tự do khai thác dầu hỏa cho “BẢY CHỊ EM” ngoài khơi lãnh thổ miền Nam Việt Nam.
Bộ luật đầu tư khai thác dầu hỏa được thông qua để  BẢY CHỊ EM tư do đấu thầu, khai thác dầu hỏa  ban hành  vào năm 1993 khi Võ Văn Kiệt là thủ tướng.
Chevron đã vào Việt Nam năm 1994 dưới sự bảo vệ về chính trị của Kiệt để đổi lại những khoảng tài chánh cứu trợ cần thiết cho Việt Nam và Đảng cầm quyền cũng như sự hậu thuẫn của Chevron cho Việt Nam trong chính trường Mỹ.
Sau đây là một đoạn từ lá  thơ của Lisa Barry , General Manager Government Affairs ( Tổng Giám Đốc Tư Pháp ) của Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ ( House of Representative- H. R. ) , áp lực Hạ Viện tiếp tục duy trì  quy chế tự do mậu dịch “Permanent Normal Trade Relations “ gọi tắt là PNTR với Việt Nam. PNTR cho phép tự do mậu dịch giữa hai quốc gia Việt- Mỹ được hợp pháp – nguyên văn bằng tiếng Anh :
“ Chevron is a long term  investor in Viet Nam . We re-entered the Vietnamese market as soon as it was legally permissible  following the end of US trade embargo in 1994 and have increased our present since then as opportunities have been available . We are please to support and urge favorable consideration of the last step in the trade normalization process: extending Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) to Viet Nam as authorized by H.R 5602  “
(Xin tạm dịch : Chevron là một công ty đầu tư lâu dài tại Việt Nam. Chúng tôi hiện diện tại Việt Nam ngay sau khi cấm vận được bãi bỏ vào năm 1994 và tiếp tục gia tăng sự hiện diện của mình khi có cơ hội đầu tư. Chúng tôi hết lòng vận động và ủng hộ bước tiến  cuối cùng của  quá trình bình thuờng hóa : tiếp tục duy trì  nghị quyết H.R 5602- Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) , quy chế tự do mậu dịch với Việt Nam)
Đoạn trích trên từ lá thơ của công ty Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ là một bằng chứng đã cho thấy rõ ảnh huởng mạnh của giới “ BẢY CHỊ EM” lên mối quan bang giao Việt-Mỹ tác động đến nền chính trị và các quyết định chính trị sau này của Cộng Sản Hà Nội. Xin vào website để đọc hết toàn bộ nguyên văn bức thư bằng Anh ngữ .
Phan Văn Khải cũng là người miền Nam , tiếp nối Võ Văn Kiệt làm thủ tướng từ năm 1997 cho đến 2006 , trong thời gian này thì tổng sản lượng dầu hỏa của Việt Nam nhanh chóng nhãy vọt từ dưới 200 ngàn thùng dầu lên gần 400 ngàn thùng dầu mỗi ngày  do sự hiện diện mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM” dập dìu ngoài khơi Việt Nam  (biểu đồ 1 )
Trong giai đoạn  tăng vọt sản lượng dầu hỏa này, chỉ cần nhìn vào Chevron thì đã thấy cổ phần của Chevron tăng vọt tại các mỏ dầu ngoài khơi Việt Nam:
+ Block 122 – Phu Khanh Basin : Chevron sở hữu 20%,
+ Block B&48/95 – Malay/Tho Chu Basin : Chevron sở hữu lên đến 42.38%
+ Block 52/97- Malay/Tho Chu Basin Chevron sở hữu lên đến 43.40%
Ông Khải cũng được cho là nhờ sự vận động ráo riết của BẢY CHỊ EM để ông trở thành Thủ Tướng Cộng Sản đầu tiên viếng thăm Hoa Kỳ , ký kết hàng loạt các hợp đồng kinh tế , trong đó là chuyến đi thăm ngoạn mục đến nơi sản xuất của một người bạn lâu đời thủy chung của giới “BẢY CHỊ EM “, đó là hãng Boeing.
Nguyễn Tấn Dũng tiếp nối ông Khải làm Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam cũng là người miền Nam, mở rộng cửa cho hàng loạt các tay chân của BẢY CHỊ EM vào Việt Nam, trong đó có các hãng lọc dầu của Pháp, Nam Hàn, Nhật Bản.
Thời của ông Dũng, Trung Quốc gia tăng sách nhiễu BẢY CHỊ EM ngoài khơi Việt Nam khiến quan hệ hai nước Việt – Mỹ xích gần nhau hơn về quốc phòng dẫn đến hàng loạt các chuyến ngoại giao con thoi Mỹ- Việt .  “BẢY CHỊ EM”  đang hậu thuẫn mạnh cho chính giới Hoa Kỳ gia tăng hợp tác quốc phòng với Việt Nam. Sự hậu thuẫn này khiến bộ quốc phòng Mỹ lần lượt có những đối sách gia tăng tuần tra hợp tác tại biển Đông để bảo vệ quyền lợi đầu tư của “BẢY CHỊ EM”  ngoài khơi Việt Nam.
“BẢY CHỊ EM “ đã âm mưu núp bóng , dựng ra nhiều tập đoàn dầu hỏa cho nhiều quốc gia khác , rồi lôi kéo các tập đoàn này vào Việt Nam , chịu dựng sự xách nhiễu và hăm dọa từ Trung Quốc buộc lòng chính phủ các quốc gia này lên tiếng phản đối áp lực Trung Quốc , tạo ra một thế cuộc quốc tế hóa vấn đề dầu hỏa tại Biển Đông có lợi cho toàn cầu và đương nhiên , chỉ có hại cho tham vọng riêng tư của Trung Quốc.
Hệ quả của âm mưu này là Việt Nam có thêm hàng loạt các tập đoàn dầu hỏa từ Thái Lan , Nhật , Úc , Canada , Nam Hàn , Quatar , Kuwait , India ….vân vân mà hầu hết điều là con đẻ của “BẢY CHỊ EM ” ồ ạt vào Việt Nam dưới sự hậu thuẫn của chính phủ các quốc gia này.
Như vậy, Trung quốc nếu muốn xách nhiễu hay áp lực cũng mệt mỏi vì có quá nhiều quốc gia liên can , nhiều tập đoàn khác nhau để liên hệ phản đối.
Các nhà phân tích , chiến lược gia đang chờ xem Trung Quốc sẽ đối phó với âm mưu này của BẢY CHỊ EM như thế nào.
Nền chính trị của Việt Nam độc tài Cộng Sản hôm nay và Tự Do Dân Chủ mai sau  luôn luôn sẽ phải chịu  những tác động và ảnh huởng mạnh từ “BẢY CHỊ EM”  Đây là một thực tế cần phải chấp nhận khi bàn thảo những đối sách chính trị cho Việt Nam
 
III. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” trong lịch sử  của Việt Nam:
Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam là điều mà các sử gia vẫn chưa chịu thừa nhận vì ảnh hưởng này không ồn ào lộ ra ngoài cho mọi người nhìn thấy dù ảnh huởng này rất là quan trọng
Trong quá khứ, Nhật Bản buộc lòng phải tấn công Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  vì Hoa Kỳ  cấm vận mọi chuyên chở dầu hỏa từ con đường dầu hỏa (đề cập ở phần II bên trên)  lên Nhật Bản khiến Nhật Bản sẽ suy xụp tê liệt hoàn toàn về kinh tế  nếu không có  hành động để tìm một giải pháp.
Hoa Kỳ hành động cấm vận dầu hỏa quyết liệt như vậy đối với Nhật Bản là để trả đũa hành động Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng, lúc bấy giờ còn thuộc Đông Dương- L’indochine do Pháp kiễm soát vào ngày 26 tháng 9 năm 1940
Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng nhằm cắt đứt đường mua bán , trao đổi tiếp viện xăng dầu đạn dượt cho chính phủ của Tưởng Giới Thạch  từ Hoa Kỳ thông qua cảng Hải Phòng và đường rày nối liền Hài Phòng- Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh và Vân Nam (Sino- Vietnamese railway)
Như vậy, cuộc đối đầu trực diện nảy lửa giữa Hoa Kỳ  với Nhật Bản  về ngoại giao  từ năm 1940 dẫn đến đối đầu quân sự trực diện ngay năm sau đó bằng trận tấn công Trân Châu Cảng kinh hoàng bởi Nhật Bản vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  tạo ra đệ Nhị Thế Chiến tại Châu Á khởi nguồn từ sự xâm lược của Nhật Bản vào cảng Hải Phòng vào ngày 26 tháng 9 năm 1940
Trong khi đó, Trung Quốc đã bị Nhật Bản xâm lược trắng trợn từ năm 1935 nhưng Hoa Kỳ vẫn chỉ phản đối cho có lệ mà thôi, không hề có những hành động cấm vận cương quyết toàn diện đối với Nhật Bản như sau trận tấn công Hải Phòng của Nhật.
Đây là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng mà các chiến lược gia của Hoa Kỳ cố gắng đánh lờ đi.
Việt Nam lao vào lốc xóay của Đệ Nhị Thế Chiến bởi những tranh chấp dầu hỏa giữa các siêu cường trong vùng.
Quyết định của chính phủ Hoa Kỳ cấm vận Nhật Bản dẫn đến chiến tranh đương nhiên là có sự hậu thuẫn của “BẢY CHỊ EM”  vì các đại công ty dầu hỏa lúc bấy giờ không muốn bị Nhật Bản khống chế khi chuyên chở dầu hỏa trong vùng  cũng như cắt đứt một khách hàng tiêu thụ xăng dầu khổng lồ của “BẢY CHỊ EM” là Trung Hoa Quốc Dân.
Khi Đệ II thế chiến chấm dứt  năm 1945 , trợ tá đắc lực của tướng Douglas MacArthur, Thống Đốc Toàn Quyền Nhật Bản là phó thống đốc toàn quyền Laurence Rockefeller, cháu ruột của ông tổ ngành dầu hỏa Hoa Kỳ , John D.  Rockefeller, tìm đủ cách tăng viện cho Hồ Chí MInh ,  mượn tên này gây rối Đông Dương để Hoa Kỳ CÓ CƠ HỘI CAN THIỆP CHÍNH TRỊ VÀO ĐÔNG DƯƠNG mai sau, nhằm có điều kiện kiểm soát dò tìm trữ lượng dầu hỏa và khí đốt tại miền nam duyên hải Việt Nam và lập ra kế hoạch khai thác   lâu dài trên biển Đông  sau này.
Chín năm sau đó , tức là năm 1954-1955 , cũng Laurence Rockefeller , lúc bây giờ là trợ tá đắc lực cho tổng thống Eisenhower, đã cố vấn cho chính phủ Hoa Kỳ,  vận động hậu trường chính trị  ở Washington DC ủng hộ Diệm truất phế Quốc Trưởng  Bảo Đại nhằm chấm dứt vĩnh viễn ảnh huởng của người Pháp lên Đông Dương , mở rộng cửa cho Hoa Kỳ can dự vào chính trị tại Việt Nam , mở ra cơ hội cho Hoa Kỳ chuẩn bị thăm dò khẳng định trử lượng dầu hỏa của Việt Nam, ngoài khơi Cửu Long Basin và quần đảo Trường Sa.
Vào thập niên 1950 , kỹ thuật thăm dò dầu hỏa ngoài khơi của Hoa Kỳ  đã rất tiến bộ và chính xác , chỉ cần cho nổ bom hoặc mìn dười lòng biển sâu , rồi đo sự dội lại của âm thanh sẽ biết được chính xác vị trí của salt dome , tức là những bọng muối chứa dầu bên dưới.
Từ năm 1964 trở đi, “BẢY CHỊ EM” ta , nhờ các kế họach quân sự của Hoa Kỳ khi tham chiến tại Việt Nam làm bình phong che đậy, đã có thể âm thầm thực hiện kế hoạch thăm dò mười năm của mình trên toàn bộ vùng biển Đông , biết rõ chính xác và chi tiết  trữ lượng cũng như vị trí sự phân bố dầu hỏa trên vùng biển Đông này.
(Nếu không có sự thăm dò này , EIA của Hoa Kỳ làm sao có dữ liệu , data mà thông báo?)
Hiện tại, chưa có một sử gia nào bỏ công nghiên cứu ảnh huởng sâu rộng của “BẢY CHỊ EM ” lên lịch sử của Việt Nam.
Đơn giản là vì, giới “BẢY CHỊ EM ” ta không bao giờ lộ diện mà đứng đàng sau các nhân vật chính trị , hoặc vây cánh với các nhân vật chính trị  của Hoa Kỳ để ảnh huởng đến các quyết định chính trị sao cho có lợi cho mình và phù hợp với tình thế chính trị toàn cầu
Hoa Kỳ ảnh huởng sâu rộng đến lịch sử của Việt Nam từ năm 1945 đến nay từ việc đưa Hồ Chí Minh về đảo chánh chính phủ Trần Trọng Kim gây rối Đông Dương, cắt viện trợ chiến tranh cho nước Pháp tại Đông Dương khiến Pháp khốn đốn mà bỏ Đông Dương,  rồi đến tham chiến suốt 18 năm , sau lại  cấm vận Việt Nam 18 năm và giờ quay trở lại bảo vệ Việt Nam toàn diện từ kinh tế , quốc phòng đến môi trường thì rõ ràng , sự ảnh huởng của “BẢY CHỊ EM”, một thế lực mại bản hàng đầu của nước Mỹ,   lên các quyết định của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam , là điều tất nhiên xảy ra.
Chối bỏ vai trò & ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam sẽ khiến cho mọi sự nghiên cứu sử học cận và hiện đại của Việt Nam bị khiếm khuyết và lệch lạc đi
IV. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên kinh tế Việt Nam
Sự hiện diện đầy đủ của  “BẢY CHỊ EM”  ta tại Việt Nam về lâu về dài đương nhiên tạo ra sức mạnh tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam.
Căn cứ  vào dữ kiện  của World Bank , thì thu nhập về dầu hỏa của Việt Nam đang từ con số không vào năm 1986 đã lên đến gần 7 % tổng giá trị sản lượng quốc dân GDP vào năm 2012.
Biểu đồ 2:Thu nhập từ dầu hỏa của Việt Nam (%GDP)
bieu-2
Ghi chú: Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam
Trong điều kiện kinh tế lạm phát và tăng trưởng ở mọi quốc gia trên toàn cầu , nhu cầu về năng lượng chỉ gia tăng chứ không có giảm và dù nhiều kỹ thuật tân tiến được áp dung để tránh lệ thuộc vào dầu hỏa, thì dầu hỏa vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu của mọi nền kinh tế. Do đó , về lâu về dài,  giá dầu chỉ có xu huớng gia tăng chứ không có giảm.
Biểu đồ lên xuống giá cả của dầu hỏa trong suốt 40 năm tính từ năm 1973 đã cho thấy giá dầu đã tăng từ 16 Mỹ kim một thùng vào năm 1973 lên đến gần 50 Mỹ kim một thùng vào năm 2013.  Còn nếu lấy cột mốc là năm 1994 tức là năm khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận cho Việt Nam thì giá dầu đã tăng gần 20 Mỹ kim một thùng khiến lợi nhận dầu hỏa của Việt Nam chiếm từ 3% tổng giá trị sản lương quốc dân GDP vào năm 1994 lên gấp đôi trên 6% vào năm 2013
Biểu đồ 3 : Biến chuyển giá dầu 1973-2015 ( US dollars / barrel )
bieu-3
Ghi chú : Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam
Tuy nhiên , nếu chỉ nhìn về trị giá dầu hỏa mà coi đây là nguồn lợi duy nhất mà “BẢY CHỊ EM” có thể đem lại cho nền kinh tế Việt Nam là hoàn toàn sai lầm.
Sự hiện diện của “BẢY CHỊ EM ” là cơ hội rất tốt để Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng kinh tế từ kho bãi , cảng , kỹ thuật  , nhà máy lọc dầu , các nhà máy sản xuất các hóa chất trọng yếu cho kinh tế quốc gia, kiến thức quản lý. Đó là chưa kể “BẢY CHỊ EM” là nguốn tài trợ vô cùng lớn cho Việt Nam gia tăng khả năng sản xuất điện với kỹ thuật tân tiến, một nhu cầu vô cùng quan trọng cho một xã hội đang phát triển.
Chỉ tính riêng công ty ExxonMobil mà thôi, một khối lượng vốn lên đến 20 tỷ Mỹ kim đã được công ty này loan báo đầu tư vào Việt Nam vào ngày 19 tháng Ba năm 2014 tại Hà Nội không phải để mua dầu mà là để xây nhà máy nhiệt điện sử dung khí đốt khái thác tại biển Đông. Chỉ với 20 tỷ Mỹ kim mà ExonMobil đã là công ty đứng hàng thứ bảy về số vốn đầu tư tại Việt Nam thì rõ ràng , nếu tính sự hiện diện đầy đủ của “BẢY CHỊ EM “,tức là sự hiện diện của mọi tập đoàn dầu hỏa được  chính phủ Hoa Kỳ  hậu thuẫn thì con số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cho Việt Nam từ các công ty này sẽ vượt qua xa tất cả các công ty không thuộc giới ….”BẢY CHỊ EM “!
Ước đoán số vốn đầu tư của “BẢY CHỊ EM ” tại Việt Nam  như sau:
1. Chevron: 7 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy điện chạy bằng khí đốt khai thác từ BLOCK B từ Cửu Long Basin , trong đó có tính luôn cả chi phí các ông dẫn khí từ khơi vào đất liền có chiều dài lên đến 400 km. Chevron cũng được cho là sở hữu 42 % số dầu khai thác từ Cửu Long Basin theo các hợp đồng đã ký với Cộng Sản Hà Nội.
2. ExxonMobil : 20 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy nhiệt điện lớn từ khí đốt tại tỉnh Quãng Ngãi. Hợp đồng này khiến Việt Nam có cơ sở hạ tầng tân tiến , cải thiện sức mạnh kinh tế quốc dân.
3. British Petroleum(BP) ” được cho là bỏ ra 2 tỷ Mỹ kim để thăm dò Block 05-2 tai Nam Côn Sơn , có tin đồn là bỏ của tháo chạy vì bị Trung Quốc đe dọa và lấy cớ là cần tiền để bồi thuờng vụ rò rỉ ( leak) dầu tại  Gulf of Mexico  nên bán mọi asset  tại Việt Nam nhưng nay rõ ràng BP có cổ phần gần như mọi dự án lớn nhỏ về năng lượng của Việt Nam.  Hệ thống ống dẫn khí đốt đang hoạt động tại Việt Nam hầu hết là do BP thi công , trừ hệ thống ống dẫn của Chevron .
4. Shell : Được cho là bỏ ra gần 300 triệu để đầu tư sản xuất dầu cơ khí , hay còn gọi là dầu máy hoặc là nhớt máy. Tuy con số tiền đầu tư có vẻ ít nhưng Việt Nam chưa hề tự lực nổi về sản xuất dầu nhớt cơ khí và cần Shell hiện diện để canh tân kỹ thuật và cung ứng cho nhu cầu quan trọng này của xã hội
5. ConocoPhilipe : công ty dầu hỏa mới thành lập của Hoa Kỳ , được cho là lớn đứng hàng thứ ba trên thế giới trong giới “BẢY CHỊ EM ” ngày nay , nắm 23.25% cổ phần block 15-1 , 36%  cổ phần block 15-2; và 16.3 % hệ thống Nam Côn Sơn ống dẫn dầu và khí đốt ( Nam Con Son pipeline) .
ConocoPhilipecũng loan báo bán tháo bỏ chạy ra khỏi Việt Nam vì Trung Quốc đe dọa năm 2012 , nhưng nay cũng quay trở lại khi biết chính sách “nhìn về châu Á “ của Obama được thi hành. Tổng trị giá tài sản mà  ConocoPhillipe có ở Việt Nam có thể lên đến 5 tỷ Mỹ kim là ít nhất
6. Korea National Oil Corporation (KNOC) : dù mang tiếng là của Nam Hàn nhưng thực chất Chevron đứng đàng  sau, theo chân Hoa Kỳ vào Việt Nam , nhận điều hành Block 11-2, tin rằng số vốn cơ sở hạ tầng tại Việt Nam lên đến khoảng 2 tỷ Mỹ kim
7. Nippon Oil Exploration Limited and Teikoku Oil : xuất thân tự Nhật có  35% cổ phần cho block 05-1 b và 05-1c. Số vốn hạ tầng tại Việt Nam khoảng 4 tỷ Mỹ kim
Thu nhập ngoại tệ từ dầu hỏa , canh tân cơ sở hạ tầng năng lượng cho nền kinh tế quốc dân như hệ thống  ống dẫn dầu hay khí đốt , hệ thống nhà máy nhiệt điện , hệ thống nhà máy chưng cất dầu ( oil refinery ), nhà máy sản xuất ống dẫn dầu và các thiết bị liên quan , dàn khoan dầu , tàu chở dầu , phi trường  , công ăn việc làm  , kỹ thuật , vân vân là những quyền lợi kinh tế rất lớn  mà giới “BẢY CHỊ EM “sẽ mang đến cho Việt Nam về lâu về dài, chưa kể hậu thuẫn về an ninh quốc phòng cho Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc.
V. Kết Luận:
“BẢY CHỊ EM ” hay còn gọi là Seven Sisters là tiếng lóng để chỉ các tập đoàn dầu hỏa hàng đầu thế giới, hầu hết là được chính phủ Hoa hậu thuẫn đằng sau.
Các công ty dầu hỏa này đang ngày càng có một ảnh hưởng chính trị sâu rộng trong thuợng tầng , lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sẽ còn tiếp tục ảnh huởng đến nền chính trị của quốc gia chúng ta trong tương lai sau khi cộng sản xụp đổ
Việt Nam bị lôi cuốn vào đệ nhị thế chiến cũng vì những căng thẳng về dầu hỏa xãy ra giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ do sự cấm vận từ Hoa Kỳ sao khi Nhật Bản tấn công  cảng Hải Phòng của Việt Nam thời Đông Dương thuộc Pháp . Hai cuộc chiến tại  Việt Nam sau 1945 điều có sự can dự âm thầm của giới “BẢY CHỊ EM ” và là cơ hội tốt để giới BẢY CHỊ EM tiến hành thăm dò trử lượng dầu hỏa và khí đốt tại biển Đông . Cho nên, lịch sử của Việt Nam thật sự đã bị ảnh hưởng bởi giới ” BẢY CHỊ EM” mà các sử gia cần thừa nhận và đào sâu thêm
Ảnh hưởng về kinh tế đối với Việt Nam từ giới “BẢY CHỊ EM ” rất lớn . Sự hiện diện của  “BẢY CHỊ EM” tại Việt Nam sẽ thúc đẩy Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng và đem đến một tương lai thịnh vượng hơn cho đất nước về đường dài.