|
Gót
chân Asin của Trung Quốc: Cơ hội để thoát Trung
Nguyễn Quang Duy
“Trung Quốc là một gã khổng lồ
đang ngủ. Hãy để cho nó ngủ, bởi vì khi nó tỉnh dậy, nó lẽ làm đảo lộn thế
giới” (Napoleon
Bonaparte)
Mỗi khi đề cập đến tình hình kinh
tế hay chính trị của Việt Nam (như dịp Đại hội Đảng vừa qua), yếu tố Trung
Quốc lại nổi cộm lên ám ảnh như một đám mây đen (hay nghiệp chướng của địa lý
và lịch sử). Đã nhiều lần trong lich sử, người Việt dũng cảm đấu tranh để
“thoát Trung”. Nhưng từ sau thỏa thuận Thành Đô (1990), Việt Nam lại bị đám
mây đen Trung Quốc bao phủ như cái vòng kim cô (hay cái bẫy ý thức hệ). Vì
vậy, muốn “thoát Trung”, chúng ta cần lý giải gót chân Asin của Trung Quốc,
xem Trung Quốc thực sự mạnh hay yếu, để Việt Nam tìm cơ hội “thoát Trung”.
Có những cách lý giải khác nhau,
nhưng trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần 3 điều kiện cơ bản để “thoát
Trung”. Thứ nhất, cần nội lực mạnh: Trên dưới một lòng, trong ngoài hợp tác,
quyết tâm đổi mới thể chế và ý thức hệ, để cường thịnh kinh tế và độc lập
chính trị (không lệ thuộc vào Trung Quốc). Thứ hai, cần ngoại lực mạnh: Việt
Nam và Mỹ cùng xoay trục, trở thành đối tác chiến lược, trên cơ sở hợp tác
TPP để tái cân bằng (chứ không phải để chống Trung Quốc). Thứ ba, mỗi khi
Trung Quốc khủng hoảng nội bộ, họ thường gây ra khủng hoảng bên ngoài (như
tại Biển Đông) để làm giảm sức ép trong nước. Có thể đây là cơ hội cho Việt
Nam “thoát Trung” (như một hệ quả không định trước).
Trung Quốc mạnh hay yếu?
Nhiều người cho rằng Trung Quốc
đang ở đỉnh cao quyền lực. Đúng là Trung Quốc đã trỗi dậy với kỳ tích phát
triển kinh tế, có tốc độ tăng trưởng hai con số trong gần ba thập kỷ. Trung
Quốc đã trở thành công xưởng của thế giới, xuất khẩu hàng hóa khắp toàn cầu.
Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới
(chỉ sau Mỹ), và đang cạnh tranh với Mỹ về kinh tế và quân sự, với tham vọng
sẽ vượt Mỹ. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2015 là 144 tỷ USD (chỉ
đứng sau Mỹ). Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, với 1.300 tỷ USD tài sản
(chủ yếu là trái phiếu). Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đứng đầu thế giới,
với 3.300 tỷ USD (năm 2015). Hai trăm triệu người Trung Quốc đã trở thành
trung lưu. Đồng Nhân dân Tệ đã trở thành ngoại tệ mạnh (trong giỏ
SDR).
Nhưng đó là quyền lực cứng, còn
quyền lực mềm thì sao? Trung Quốc đã ý thức được tầm quan trọng của quyền lực
mềm và đã đầu tư gần 10 tỷ USD cho chương trình tuyên truyền “quyến rũ thế
giới” (Charm Offensive). Nhưng Trung Quốc không thành công vì ngộ nhận quyền
lực mềm giống như công tác tuyên huấn, hoặc “giống như làm đường sắt cao tốc”
(David Shambaugh). Đây là một điểm yếu cơ bản của Trung Quốc không thể nào
khắc phục được, chừng nào Trung Quốc không chịu cải cách chính trị và dân chủ
hóa để phát triển xã hội dân sự (là tiền đề cho quyền lực mềm). Dù Trung Quốc
có bỏ ra kinh phí khổng lồ cho “Charm Offensive” để tuyên truyền về “Giấc
mộng Trung Hoa” (China Dream), hay tính ưu việt của CNXH “mang Màu sắc Trung
Quốc”, thì cũng không thể nào thuyết phục được thế giới (hay người dân Trung
Quốc) tin vào chế độ hiện nay, nếu họ tiếp tục chính sách cực đoan đầy tham
vọng, nhằm duy trì nguyên trạng (trong nước), hay thay đổi nguyên trạng
(ngoài nước).
Trong quá trình phát triển nóng,
Trung Quốc đã bộc lộ nhiều điểm yếu cơ bản mang tính quy luật và hệ thống,
không thể khắc phục được. Đó là môi trường ô nhiễm và ngộ độc thực phẩm ngày
càng tăng, mỗi năm làm 1,6 triệu người chết vì ô nhiễm không khí (trung bình
mỗi ngày có hơn 4000 người chết). Vì vậy, khi 3 chiến hạm của Hải quân Trung
quốc (PLAN) ghé thăm hữu nghị cảng Brisbane gần đây (2/1/2016), người dân Úc
thấy hầu hết thủy thủ tàu 152 đã đổ xô đi mua gom loại sữa bột trẻ em
“Aptamil 3”, là loại sữa bột được người dân Trung Quốc ưa chuộng. Đó là
khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn (đứng đầu thế giới) với hệ số Gini là
0,61% (mức báo động có thể dẫn đến bất ổn xã hội). Ví dụ, 70 người giàu nhất
Quốc Hội Trung Quốc có tài sản trung bình 1 tỷ USD (cao hơn cả Mỹ). Đó là quy
mô đô thị hóa khổng lồ để gia tăng thị trường trong nước (đối phó với giảm
xuất khẩu). Nhưng làn sóng di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị đã bắt đầu
đảo ngược, giảm 5,68 triệu người (năm 2015). Tết 2016 là bước ngoặt với
hàng chục triệu người dân trở về quê mà không quay lại thành phố (nơi cuộc
sống đắt đỏ, môi trường ô nhiễm, đe dọa thất nghiệp). Kế hoạch di dân khổng
lồ ra thành phố để thực hiện chương trình cải cách 10 năm đầy tham vọng của
thủ tướng Lý Khắc Cường có thể thất bại.
Trong khi người nghèo Trung Quốc
đang bỏ thành phố trở về quê (di dân ngược), thì người giàu Trung Quốc bỏ đất
nước di cư ồ ạt ra nước ngoài. Theo Hurun Report (August 2014), 64% người
giàu (có trên 1,6 triệu USD) đã hoặc định di cư khỏi Trung Quốc. (Andrew
Browne, The Great Chinese exodus, the Wall Street Journal, August 15, 2014).
Việc di cư ồ ạt đồng nghĩa với chuyển tiền ổ ạt ra nước ngoài. Theo Bloomberg
intelligence, 1.000 tỷ USD đã tháo chạy khỏi Trung Quốc năm 2015, tăng gấp 7
lần so với 2014. Đây là hệ quả của khủng hoảng lòng tin không thể kiểm soát
được, dù có xây vạn lý trường thành xung quanh Trung Quốc cũng không ngăn cản
được. Theo luật thì mỗi người dân Trung Quốc được phép chuyển ra nước ngoài
50.000 USD (mỗi năm). Chỉ cần 5% dân số Trung Quốc (1,3 tỷ người) chuyển tiền
ra nước ngoài (hợp lệ) thì dự trữ ngoại hối của Trung Quốc hiện nay sẽ biến
mất.
Bức tranh kinh tế vĩ mô của Trung
Quốc đáng lo ngại. Trong khi GDP tăng ở mức khoảng 7%, trong 7 tháng đầu năm
2015, tổng kim ngạch thương mại đã giảm 7,3% (xuất khẩu giảm 8,8% và nhập
khẩu giảm 8,6%). Chỉ số PPI đã giảm 42 tháng liên tiếp, xuống mức thấp kỷ lục
là -5,4% trong tháng 7/2015. Đồng Nhân dân Tệ bị phá giá liên tiếp và
thị trường chứng khoán tiếp tục lao dốc (thậm chí phải đóng cửa) gây hoang
mang và hỗn loạn trên thị trường. Dự trữ ngoại hối giảm xuống mức 3.650 tỷ USD
vào tháng 7/2015, từ mức đỉnh cao là 3.990 tỷ USD (cách đây một năm). Tính
đến cuối năm 2015 dự trữ ngoại hối đã giảm 513 tỷ, còn 3.300 tỷ USD; Riêng
trong 1/2016 dự trữ ngoại hối giảm 99,5 tỷ USD, còn 3.230 tỷ USD. Dự kiến
2016, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc có thể giảm 300 tỷ, chỉ còn 3.000 tỷ
USD.
Các chuyên gia nói gì?
Sau ba thập kỷ phát triển kinh tế
với tốc độ hai con số, được cả thế giới ngưỡng mộ như một hiện tượng thần kỳ,
“mô hình Trung Quốc” đã bộc lộ những điểm yếu cơ bản có tính hệ thống, trong
đó cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị là một tử huyệt trong
chương trình “Bốn Hiện đại Hóa” (nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng, khoa
học công nghệ) để biến Trung Quốc thành một cường quốc hiện đại. “Bốn Hiện
đại Hóa” mà không dân chủ hóa (đàn áp dã man “Pháp Luân công”), tôn vinh làm
giàu và sức mạnh cứng mà không biết cách xây dựng “sức mạnh mềm” (vô cảm),
phát triển nóng bất chấp cái giá phải trả về hủy hoại môi trường sống (gây ô
nhiễm nặng nề), thì phát triển không thể bền vững. Trước khi nghỉ hưu, thủ
tướng Ôn Gia Bảo và các nhà cải cách khác đã kêu gọi cải cách chính trị để
cứu vãn thành quả cải cách kinh tế, nhưng lãnh đạo Đảng CSTQ vẫn duy trì chế
độ độc tài, độc đảng.
Ngày càng nhiều chuyên gia về
Trung Quốc (và các nhà đầu tư) mất lòng tin vào “Mô hình trung Quốc” và cảnh
báo về những nguy cơ tiềm ẩn. Không phải họ ghét hay chống Trung Quốc nên
“độc mồm độc miệng”, mà nhiều người trong số họ đã từng ủng hộ các chương
trình cải cách của Trung Quốc. Hãy điểm lại một số ví dụ điển hình xem các
chuyên gia đó nói gì.
Trước hết là luật sư Gordon Chang
(một học giả về Trung Quốc) ngay từ năm 2001 đã cảnh báo Trung Quốc sẽ sụp đổ
“trong vòng năm đến mười năm tới” (Gordon Chang, “the Coming Collapse of
China”, Random House, 2001). Theo Gordon Chang, dưới cái vỏ hiện đại,
Trung Quốc là “con hổ giấy” với nhiều dấu hiệu đồi bại vì cải cách nửa vời đã
làm cho quốc gia này “mắc kẹt giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản”.
Nhiều người chỉ trích quan điểm quá bi quan của Gordon Chang vì sau 10 năm
Trung Quốc vẫn tồn tại và phát triển. Năm 2011 Gordon Chang thừa nhận mình đã
dự báo “sai mất một năm”, nhưng vẫn giữ quan điểm cũ, và còn cược là Trung
Quốc sẽ sụp đổ vào năm 2012. (Gordon Chang, “the Coming Collapse of China:
2012 Edition”, Foreign Policy, December 29, 2011).
Tại sao Trung Quốc không sụp đổ
(như các nước Đông Âu)? Andrew Nathan (một học giả về Trung Quốc tại Đại học
Columbia) giải thích bằng thuyết “sức bật của chuyên quyền” (Andrew
Nathan, “Authoritarian Resilience”, Journal of Democracy, January 2003).
Theo Nathan, sự trỗi dậy của nền độc tài (Trung Quốc) phản ánh sự suy yếu của
nền dân chủ (Mỹ). Muốn đối phó với thách thức hiện nay (Trung Quốc nổi lên và
lấn sân Mỹ), các nước dân chủ phải quản trị tốt hơn (Andrew Nathan,
“China’s Challenge”, Journal of Democracy”, January 2015). Francis
Fukuama (Đại học Johns Hopkins) cũng chia sẻ quan điểm tương tụ trong
cuốn sách phân tích thực trạng suy thoái của nền dân chủ Mỹ và Châu Âu (Francis
Fukuama, “Political Order and Political Decay”, Farrar Straus Giroux, 2014).
Giáo sư Minxin Pei (một học giả về
Trung quốc, giám đốc Trung Tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Đại học
Claremont McKenna) đã nghiên cứu về chiến lược cải cách của Trung Quốc trong
bối cảnh đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo, và đi đến kết luận là thay vì tiến
đến một nền kinh tế thị trường thực sự thì Trung Quốc “bị mắc kẹt trong quá
trình chuyển đổi do những cải cách kinh tế và chính trị nửa vời”. (Minxin
Pei, “China’s Trapped Transition: The Limits of Development Autocracy”,
Harvard University Press, 2006). Theo Minxin Pei, quá trình chuyển đổi
kinh tế tiệm tiến có thể thành công trong giai đoạn đầu, nhưng “Chủ nghĩa
Tiệm tiến” (Gradualism) cuối cùng sẽ thất bại.
Dưới thời Tập Cận Bình, xã hội
Trung Quốc lại một lần nữa chìm trong nỗi lo sợ vì chiến dịch “Đả hổ Diệt
ruồi” đang tiếp diễn, với 146 con hổ to đã bị sa bẫy chống tham nhũng. (Minxin
Pei, “China’s Rule of fear”, Project Syndicate, February 8, 2016). Theo
Minxin Pei, chính sách cai trị bằng sợ hãi (rule of fear) đang làm cho không
những bộ máy chính quyền và xã hội Trung Quốc hầu như bị tê liệt vì lo sợ, mà
cộng đồng kinh doanh, cộng đồng trí thức, giới truyền thông, và cả người nước
ngoài, cũng đang “sống trong sợ hãi” như bị khủng bố tinh thần (giống như thời
Cách mạng Văn hóa).
Hiện nay, Trung Quốc đang rơi vào
cái bẫy do chính họ tạo ra, trong đó “bẫy thu nhập trung bình” là rất khó
thoát. Theo World Bank, trong tổng số 35 nền kinh tế trên thế giới bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình,
chỉ có 13 nền
kinh tế đã vượt
qua được. Mô hình Trung Quốc là một nền kinh tế bong bóng lớn nhất thế giới
(và cũng cực đoan nhất thế giới), đặc biệt là bong bóng bất động sản, không
thể nào chỉnh sửa được, và cũng không thể nào “hạ cánh nhẹ nhàng” (soft
landing) được. Sớm muộn thì cái bong bóng khổng lồ đó sẽ phải nổ như một vụ
nổ lớn trong vũ trụ, tạo ra khủng hoảng tài chính (như một cái “hố đen”) hay
bị vỡ nợ (như một trận lở tuyết). Không phải ngẫu nhiên mà tỷ phú Lý Gia
Thành (giàu nhất Trung Quốc với tài sản gần 40 tỷ USD) đã nhanh chân bán tài
sản tại lục địa (trị giá 3 tỷ USD) để chạy khỏi thị trường Trung Quốc. Cũng
không phải vô cớ mà 64% người giàu Trung Quốc đã và đang di cư ra nước ngoài,
đồng thời tìm mọi cách chuyển tiền ra nước ngoài để tránh rủi ro trong nước.
Sau Gordon Chang và Minxin Pei
(hai học giả người Mỹ gốc Hoa) là Paul Krugman (một nhà kinh tế học Mỹ tại
Đại học Princeton) đã được giải thưởng Nobel về Kinh tế năm 2008. Năm 2013,
trong một bài báo, Paul Krugman đã đưa ra những cảnh báo về Trung Quốc làm chấn
động dư luận, “Trung Quốc đang gặp rắc rối to. Không phải là những thất bại
nhỏ dọc đường, mà là những vấn đề cơ bản. Toàn bộ cách thức kinh doanh và hệ
thống kinh tế đã từng thúc đẩy ba thập kỷ phát triển không thể tưởng tượng
được, thì nay đã đến điểm dừng. Có thể nói Mô hình Trung Quốc sắp đụng phải
Vạn lý Trường thành, và câu hỏi duy nhất lúc này là sự sụp đổ sẽ tồi tệ đến
mức nào… Các biện pháp trì hoãn ngày phán quyết chỉ làm cho ngày đó càng thêm
tồi tệ hơn khi cuối cùng nó phải xảy ra. Và ngày đó đang tới. Ngày hôm trước
chúng ta còn sợ người Trung Quốc, thì bây giờ chúng ta lo ngại cho họ”… (Paul
Krugman, “Hitting China’s Wall”, the New York Times, July 18, 2013). Chắc
Paul Krugman không nói đùa!
Chưa đầy hai năm sau, David
Shambaugh (một chuyên gia về Trung Quốc có uy tín tại Đại học George
Washington) có những nhận xét tương tự, nhưng còn mạnh hơn nữa (như một “quả
bom tấn”). Năm 2008, David shambaugh xuất bản một cuốn sách về Trung Quốc,
đánh giá cao năng lực của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc để thích ứng
với các thách thức mới trong thập niên đầu của thế kỷ 21 (được Bắc Kinh đánh
giá cao). Vì vậy, phát ngôn mới của Shambaugh về Trung Quốc đã gây sốc, “Màn
chót của chế độ cộng sản ở Trung Quốc đã bắt đầu, và những biện pháp mạnh tay
của Tập Cận Bình đang đưa đất nước đến gần hơn sự sụp đổ… Chúng ta không thể
đoán được khi nào thì Trung Cộng sụp đổ, nhưng không thể không kết luận rằng
chúng ta đang chứng kiến giai đoạn chót của nó”. (DavidShambaugh, “The
Coming Chinese Crackup”, the Wall Street Journal, March 6, 2015).
Không biết động cơ thực sự của
David Shambaugh là gì (qua bài báo nói trên), nhưng rõ ràng Shambaugh tỏ ra
rất thất vọng trước thái độ bảo thủ và ngoan cố của lãnh đạo Trung Quốc không
chịu triển khai những cải cách cơ bản để đối phó với những thách thức to lớn
mà Trung Quốc đang đối mặt. Shambaugh lập luận rằng Tập Cận Bình càng cố gắng
làm ngược lại với những gì Gorbachev đã làm, hòng duy trì chế độ cộng sản ở
Trung Quốc, thì hệ quả của nó lại càng giống như Liên Xô. Nói cách khác, ngày
càng nhiều người coi Trung Quốc như một gã khổng lồ tuy khỏe và giàu, nhưng
đã mắc căn bệnh ung thư (di căn giai đoạn cuối), nên hóa xạ trị cũng không
thể cứu được, nhưng lại từ chối giải
phẫu.
Gần đây, tỷ phú George Soros (nhà
đầu cơ gây nhiều tranh cãi) đã dự đoán (tại Diễn đàn Kinh tế Davos tháng
1/2015) rằng, do biến động tỷ giá của đồng Nhân dân Tệ, kinh tế trung Quốc sẽ
“hạ cánh cứng” (hard landing) và có khả năng Trung Quốc sẽ rơi vào khủng
hoảng tài chính (như Nga năm 2014). Trong khi cả thế giới vẫn còn bán tín bán
nghi trước nhận định gây sốc này của George Soros thì Chính phủ Trung Quốc
lại tự biến nó thành một câu chuyện đáng tin. Mặc dù Trung Quốc phản ứng rất
gay gắt đối với George Soros (“đừng bao giờ quay lại Trung Quốc nữa!”), nhưng
dự đoán bi quan của George Soros về tương lai kinh tế Trung Quốc đang ngày
càng có vẻ chính xác.
Còn nhớ năm 2014, các nhà đầu tư
nước ngoài đã ồ ạt rút vốn khỏi thị trường Nga để chuyển về nước. Trong một
thời gian ngắn, họ đã đẩy nước Nga rơi vào cảnh lạm phát phi mã, nền kinh tế
đình đốn do quan hệ kinh tế với Mỹ và EU bị đứt đoạn, tiêu dùng giảm sút và
tăng trưởng đình trệ. Hiện nay, Trung Quốc cũng đang trải qua một tình trạng
tương tự. Theo thống kê, hơn 1000 tỷ USD đã được các nhà đầu tư rút khỏi thị
trường Trung Quốc trong năm 2015. Việc một lượng quá lớn USD biến khỏi thị
trường Trung Quốc chỉ trong vòng một năm đang đẩy nền kinh tế số hai thế giới
lâm vào tình cảnh tương tự như Nga hồi cuối năm 2014. Áp lực tỷ giá đối với
đồng Nhân dân Tệ tại thời điểm hiện nay lớn hơn bao giờ hết, khi nó liên tục
bị mất giá kể từ khi được IMF cho vào giỏ tiền tệ SDR (12/2015).
Một số chuyên gia về Trung Quốc
cho rằng Tập Cận Bình đang theo đuổi một chính sách đối ngoại và an ninh đầy
tham vọng (nhưng cũng đầy rủi ro), thách thức trật tự an ninh của Mỹ tại Châu
Á-TBD, bất chấp lời khuyên của Đặng Tiểu Bình (và có thể chôn vùi di sản cải
cách của Đặng Tiểu Bình). Tại Châu Á, Trung Quốc đã cam kết hơn 100 tỷ USD
góp vốn cho Ngân hàng Hạ tầng Châu Á (AIIB). Tại Châu Mỹ La tinh, Trung Quốc
đã cho vay gần 120 tỷ USD (từ năm 2005). Tại Châu Phi, Trung Quốc cũng đã đầu
tư và cho vay hơn 100 tỷ USD. Trong khi đầu tư khổng lồ vào các dự án lớn đầy
phiêu lưu về kinh tế và quân sự, lãnh đạo Trung quốc đã trở nên kiêu ngạo và
quá tự tin vào quyền lực cứng, mà không biết cách xây dựng quyền lực mềm (một
tiêu chí cơ bản của siêu cường), trong khi thể chế kinh tế và chính trị của
Trung quốc đang tiềm ẩn và bộc lộ những tử huyệt đe dọa sự sống còn của chế
độ.
Biển Đông sẽ ra sao?
Mỗi khi trong nước
khủng hoảng nội bộ (sức ép lên cao) thì lãnh đạo Trung Quốc lại gây ra khủng
hoảng với bên ngoài để “tháo ngòi nổ bên trong” (như một quy luật). Nhưng lần
này có khác là lãnh đạo Trung Quốc tin rằng thời cơ đã tới và quân đội Trung
Quốc (PLA) đã đủ sức mạnh để thách thức Nhật và Mỹ. Vì vậy, Trung Quốc đã chủ
động gây ra khủng hoảng với Nhật, tranh chấp đảo Điếu Ngư (Senkaku) và áp đặt
khu nhận diện phòng không (ADIZ) tại Biển Hoa Đông, nhằm: (1) kích động tinh
thần dân tộc (cực đoan) của người Trung Quốc, (2) phô diễn sức mạnh mới để
đòi thay đổi nguyên trạng (với Nhật) tại Đông Bắc Á, (3) nhân đó “rửa vết
nhục lịch sử” (muốn người Nhật phải xin lỗi). Làn sóng chống Nhật tại Trung
Quốc chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc hầu như đã đạt được mục tiêu nói trên.
Nhưng cái giá phải trả
(và hệ quả không định trước) cũng rất lớn. Không những nhiều nhà đầu tư Nhật
rút vốn khỏi thị trường Trung Quốc, mà Chính phủ Nhật còn có “cơ hội vàng”
thay đổi Hiến pháp (điều 9) để tái vũ trang, một điều mà chưa chính phủ Nhật
nào dám làm (sau chiến tranh).
Trong khi chưa ai có
thể lường hết được hệ quả của việc “Nhật tái vũ trang” sẽ làm thay đổi cán
cân chiến lược tại Đông Á như thế nào, thì Trung Quốc gây ra khủng hoảng tại
Biển Đông, nhằm: (1) kích động tinh thần dân tộc (cực đoan) của người Trung
Quốc, (2) phô diễn sức mạnh mới để đòi thay đổi nguyên trạng (với Mỹ) tại
Đông Nam Á, (3) áp đặt chủ quyền tiến tới độc chiếm Biển Đông nơi giàu tài
nguyên biển (dầu hỏa và hải sản), có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng (hơn
cả Biển Hoa Đông), trong khi ASEAN còn yếu, dễ phân hóa, và cam kết của Mỹ
tại đây còn lỏng lẻo (so với Nhật Bản và Hàn Quốc). Nhưng cái giá phải trả
(và hệ quả không định trước) của việc Trung Quốc đưa dàn khoan HD 981 vào
Biển Đông (5/2014), ráo riết san lấp các đảo nửa chìm nửa nổi và xây dựng sân
bay và hạ tầng quân sự trên 7 đảo tại khu vực Hoàng Sa và Trường Sa, cũng rất
lớn, chưa thể lường hết được.
Sự kiện dàn khoan
HD981 đã tạo ra một bước ngoặt lớn (và khủng hoảng) trong quan hệ Trung-Việt,
làm thay đổi cán cân tam giác chiến lược Mỹ-Trung-Việt tại Đông Á. Muốn hay
không, lãnh đạo Hà Nội (nhất là phái bảo thủ) đã bị sốc, buộc phải xem xét
lại những cam kết với Trung Quốc (tại Thành Đô), phải “xoay trục” xích lại
gần Mỹ hơn. Chuyến thăm Mỹ chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một
dẫn chứng. Muốn hay không, Chính quyền Obama cũng buộc phải xem xét lại chính
sách Trung Quốc, phải “xoay trục” mạnh hơn để “tái cân bằng” quyền lực với
Trung Quốc tại Đông Á, thúc đẩy tiến trình ký kết thỏa thuận TPP, tăng cường
cam kết an ninh và hợp tác quốc phòng với ASEAN (đặc biệt là với Philippines
và Việt Nam) để “ngăn chặn” Trung Quốc. Washington đã quyết định điều tàu
chiến tuần tra đảm bảo tự do hàng hải (FONOP) tại Biển Đông (2 lần với “innocent
passage”) trong khu vực 12 hải lý quanh các đảo đang tranh chấp tại Trường Sa
và Hoàng Sa, để thách thức Trung Quốc.
Tuy nhiên, những tuyên
bố và hành động để triển khai chính sách “tái cân bằng” của Chính quyền Obama
(từ năm 2011) chưa phải là một chiến lược tổng thể rõ ràng, chặt chẽ và nhất
quán cho khu vực Châu Á-TBD, đặc biệt là để đối phó với sự trỗi dậy của Trung
Quốc đang hành xử một cách quyết đoán, cưỡng ép các nước khác tại Biển Đông.
Điều này đòi hỏi Mỹ phải đánh giá lại chính sách đối với Trung Quốc, việc
phối hợp với đồng minh và đối tác để duy trì trật tự và ổn định tại đây, nếu
không Trung Quốc sẽ biến Biển Đông “thành cái ao nhà của họ vào năm 2030,
giống như biển Caribbean hoặc vịnh Mexico đối với Mỹ”. (Asia-Pacific
Rebalance 2025, CSIS Report, January 2016).
Việt Nam đang ở đâu?
Trong 124 nền kinh tế trên thế giới được World
Bank đánh giá, có 52 nền
kinh tế ở mức thu
nhập trung bình, trong đó có 35 nước đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình,
nhưng chỉ có 13 nước
đã vượt
qua được cái bẫy này để trở thành những nước có thu nhập cao. Ở khu vực Đông
Á chỉ có 5 nền kinh tế là Nhật Bản, Hong Kong, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore
nằm trong số đó.
Thường các nước bị sa vào bẫy thu
nhập trung bình khi tốc độ tăng trưởng bị trì trệ kéo dài nhiều năm mà không
vượt qua được mức thu nhập trung bình (khoảng từ 2000 đến 4000 USD/năm). Việt
Nam thuộc nhóm nước thu nhập trung bình thấp, có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập
trung bình. Trong khi tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2015 là 6,68%
thì thu nhập bình quân đầu người là 2.300 USD/năm. Theo con số của Tổng cục
Thống kê (tại hội thảo “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát
triển giai đoan 2015-2035”) bình quân đầu người của Việt Nam đã bị tụt hậu
sau Hàn Quốc 35 năm, sau Malaysia 25 năm, sau Thailand 20 năm, sau Indonesia
và Philippines 5-7 năm. Năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực của
Việt Nam rất thấp (so với các nước khu vực Châu Á).
Nhưng điều còn đáng lo ngại hơn là
chính phủ Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào chính phủ Trung Quốc cả về kinh tế
lẫn chính trị (trong khi phong trào nhân quyền và dân chủ hóa tại hai nước
chẳng liên kết gì với nhau). Chưa biết TPP có giúp tháo gỡ được vấn nạn này
hay không, nhưng hiện nay tỷ trọng nguyên liệu đầu vào phải nhập của Trung
Quốc là 60%. Cơ cấu này đang gây khó khăn rất lớn cho Việt Nam khi tham gia
TPP, vì một điều kiện tiên quyết để tham gia TPP là Việt Nam phải chuyển đổi
vùng nguyên liệu nhập từ các nước ngoài TPP (như Trung Quốc) sang các nước
thành viên TPP. Một vấn nạn khác là các nhà thầu Trung Quốc là tổng thầu EPC
của 77/106 dự án lớn tại Việt Nam, trong các lĩnh vực quan trọng như hóa
chất, khai thác chế biến bauxite, xi măng và nhiệt điện.
Về thương mại, Việt Nam tiếp tục
nhập siêu khổng lồ từ Trung Quốc: năm 2015 là 32,3 tỷ USD, tăng 12,5% so với
năm 2014 và được coi là con số cao nhất từ trước đến nay. Nếu tính cả con số
nhập lậu (theo “tiểu ngạch”) khoảng 20 tỷ USD thì tổng giá trị nhập siêu từ
Trung Quốc năm 2015 là gần 52 tỷ USD. Về tài chính, Việt nam thâm hụt ngân sách quá lớn vì bội chi, dự trữ
ngân sách chỉ đủ để trả nợ nước ngoài đến hạn. Trong khi nguồn vay ưu đãi ODA
đang cạn dần, thì 33 tỷ USD đã chạy khỏi Việt Nam (năm 2015) bằng nhiều con
đường bất hợp pháp (rất khó kiểm soát) như buôn lậu, hoán đổi, mua tài sản để
rửa tiền, dùng đồng tiền ảo. (Theo chuyên gia kinh tế Vũ Quang Việt).
Nợ công của Việt Nam
đã lên tới 93 tỷ USD (tính đến cuối 2015). Theo Bộ Tài chính, nợ công chiếm
61,3% GDP, riêng nợ nước ngoài là 65,46 tỷ USD (bằng 41,5% GDP). Các doanh
ghiệp nhà nước vay đến 1,6 triệu tỷ VND, nhưng sử dụng vốn không hiệu quả, và
mất khả năng thanh toán. Năm 2015, số doanh nghiệp phá sản tăng vọt, trong 7
tháng đầu năm cả nước có 32.373 doanh nghiệp ngừng hoạt động. Không thể hy
vọng các nhà tài trợ xóa nợ cho Việt Nam (một đất nước “không chịu phát
triển”). Việt Nam đang chịu sức ép rất lớn phải cải cách thể chế, nhưng vẫn
tìm cách trì hoãn cải tổ, duy trì “định hướng XHCN”. Đã đến lúc Việt Nam
không thể trì hoãn đổi mới thể chế, không thể coi thường sự hợp tác và sức ép
của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nhà tài trợ. Giám đốc World Bank tại
Việt Nam (Victoria Kwakwa) đã thẳng thắn hỏi thủ tướng, “Chính phủ Việt Nam
lấy tiền đâu để phát triển nhanh và bền vững?”
Thay lời kết
Sau Đại hội Đảng, dàn
lãnh đạo mới tại Hà Nội phải tiếp tục trả lời câu hỏi trớ trêu này, trong khi
họ tiếp thu một di sản kinh tế và xã hội đầy bất ổn. Trong khi đó, vấn đề cải
cách thể chế cấp bách mà Bộ trưởng KH & ĐT) Bùi Quang Vinh đặt ra tại Đại
hội Đảng có thể bị bỏ qua. Nếu Việt Nam không chịu đổi mới thể chế chính trị
thì khó thoát khỏi cái bóng đen của Trung Quốc đang đè nặng lên số phận của
dân tộc này, và lối thoát tại cuối đường hầm ý thức hệ vẫn chưa tìm thấy.
Dù cuộc gặp thượng
đỉnh Mỹ-ASEAN sắp tới tại Sunnylands (15-16/2/2016) có bàn về Biển Đông thì
vai trò của Việt Nam có thể mờ nhạt, vì thủ tướng (lameduck) sẽ không tham dự
mà chỉ có một phó thủ tướng đi thay, trong bối cảnh “hậu Đại hội Đảng”. Nếu
Việt Nam không thay đổi thể chế, thì chuyến thăm cuối cùng của Tổng thống Obama
(dự kiến vào 5/2016) có thể trở thành một chuyến thăm xã giao, và tầm nhìn
chiến lược có thể trở thành nửa vời (vì hai nước vẫn chưa trở thành đối tác
chiến lược). Việt Nam có thể nhỡ chuyến tàu một lần nữa, trong khi Trung Quốc
mỉm cười đắc ý…
Tham khảo
1. Andrew Browne, “the Great
Chinese exodus”, the Wall Street Journal, August 15, 2014
2. Gordon Chang, “the Coming
Collapse of China”, Random House, 2001; Gordon Chang, “the Coming Collapse of
China: 2012 Edition”, Foreign Policy, December 29, 2011
3. Andrew Nathan, “Authoritarian
Resilience”, Journal of Democracy, January 2003; Andrew Nathan, “China’s
Challenge”, Journal of Democracy”, January 2015
4. Francis Fukuama, “Political
Order and Political Decay”, Farrar Straus Giroux, 2014
5. Minxin Pei, “China’s Trapped
Transition: The Limits of Development Autocracy”, Harvard University Press,
2006; Minxin Pei, “China’s Rule of fear”, Project Syndicate, February 8, 2016
6. Paul Krugman, “Hitting China’s
Wall”, the New York Times, July 18, 2013
7. David Shambaugh, “The Coming
Chinese Crackup”, the Wall Street Journal, March 6, 2015).
8. “Asia-Pacific Rebalance 2025”,
CSIS Report, January 2016.
NQD. 12/2/2016.
Tác giả gửi cho viet-studies ngày
12-2-16
Nguồn: http://vietstudies.info/kinhte/NQuangDy_CoHoiThoatTrung.htm
|
Monday, February 15, 2016
Gót chân Asin của Trung Quốc: Cơ hội để thoát Trung
Hiệu ứng giá dầu
Hiệu
ứng giá dầu
Nguyên Lam &
Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA
2016-02-10
2016-02-10
Dầu thô là sản phẩm
chiến lược trong ý nghĩa là loại nhiên liệu cần thiết cho nền công nghiệp của
các nước trên thế giới và ai làm chủ nguồn năng lượng này thì có thể chi phối
nhiều quốc gia khác. Nhưng từ hơn một năm qua, giá dầu sụt mạnh đã lại gây hậu
quả ngược là làm các nước bán dầu và các doanh nghiệp sản xuất bị điêu đứng.
Bước vào năm Bính Thân, tiết mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hiệu ứng của
dầu thô khi giá dầu sụt mạnh và gây biến động cho các thị trường chứng khoán
trên thế giới. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam nêu vấn đề với chuyên
gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của đài Á Châu Tự Do.
“Hiệu ứng thịnh vượng ngược”
Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa.
Hôm nay là chương trình kinh tế đầu năm của chúng ta, Nguyên Lam mong là ông đã
vừa cùng gia đình ăn một cái Tết Bính Thân vui vẻ. Khi chuẩn bị đề tài kỳ này
là hiệu ứng của giá dầu, Nguyên Lam tìm lại các chương trình trước vẫn được đài
lưu trữ và nhớ rằng cách nay đúng một năm, trong chương trình ngày Thứ Tư 11
Tháng Hai năm 2015, ông có phân tích nguyên nhân của việc dầu thô sụt giá và
khi ấy giá dầu còn ở khỏang 65 đô la một thùng ông đưa ra dự báo rằng giá có
thể sụt nữa và di động trong biên độ từ hai chục đến năm chục đô la một thùng
mà thôi. Ngày nay, giá đầu đã chạm mức 30 đồng và mỗi lần sụt dưới ngưỡng đó
thì các thị trường cổ phiếu đều tuột giá. Ông cũng có nêu ra rằng giá đầu chỉ
là một dấu hiệu của tình hình sinh hoạt kinh tế và dầu thô mà sụt giá thì đấy
là triệu chứng đáng ngại cho viễn ảnh kinh tế trước mắt. Quả là từ đầu năm
dương lịch, tình hình kinh tế thế giới có dấu hiệu không mấy khả quan nhưng kỳ
này chúng ta sẽ tìm hiểu riêng về hậu quả của nạn dầu thô sụt giá. Ông nghĩ sao
về ý kiến này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng nói về bối cảnh thì chúng ta
có thể đang chứng kiến một chuyển động lớn, trăm năm mới có một lần. Khi dầu
thô là nguồn năng lượng chính cho công nghiệp cách nay trăm năm thì xứ nào hay
doanh nghiệp nào có dầu thì tưởng như là làm chủ thế giới. Cách nay nửa thế kỷ
thì có lúc thiên hạ hốt hỏang báo động rằng sinh hoạt kinh tế hủy hoại môi
sinh, thế giới sẽ đói ăn và thiếu dầu. Ngày nay, tình hình xảy ra trái ngược
với dầu thô dư thừa và gây hậu qủa chưa ai lường được nên ta sẽ khởi sự từ một
giác độ khác.
Thứ nhất, cuộc cách
mạng về kỹ thuật gạn đá phiến ra dầu, tạm gọi là fracking, đảo lộn thế cung cầu
với Hoa Kỳ và cả Canada trở thành hai nhả sản xuất mới và tăng số cung cho thế
giới. Thứ hai, từ biến động năm 2008, kinh tế thế giới vẫn chưa khả quan và lại
có dấu hiệu suy trầm từ Trung Quốc nên số cầu về dầu khí không tăng mà giảm.
Thứ ba, kinh tế của Trung Quốc đã hạ cánh rồi và sẽ sa sút trong nhiều năm tới,
và khi số cung tăng vọt mà số cầu vẫn đình trệ thì giá dầu phải sụt. Thứ tư,
cùng với cuộc cách mạng kỹ thuật về dầu khí, nhân loại cũng ra sức tìm các
nguồn năng lượng “sạch” như quang năng là ánh mặt trời hay phong năng là sức
gió, nên dầu thô, khí đốt và than đá hết còn vị trí nhu yếu như trước, và vì
vậy giá dầu sẽ còn giảm nữa.
Nguyên Lam: Ông Nghĩa vừa tóm lược một bối cảnh
rất rộng của hồ sơ dầu khí với kết luận hợp lý là giá dầu sẽ còn giảm. Khi ấy,
ai mua dầu thì có lợi và ai bán dầu thì bị thiệt hại, nhưng thưa ông, nếu cân
nhắc lợi và hại thì hậu quả sau cùng là gì? Giả dụ như Nguyên Lam có thể mua
xăng với giá rẻ hơn, đấy là cái lợi, nhờ đó có thêm tiền mua thứ khác và kích
thích sản xuất ở khu vực khác, nhưng giới sản xuất xăng dầu thì bị thiệt hại vì
tài sản của họ mất giá và cũng có thể giảm đầu tư vào ngành khác. Trong cái
chuỗi liên hệ rắc rối ấy thì người ta dựa vào những yếu tố nào để suy tính?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin khởi đi từ tổng thể với vài con
số đơn giản để mình cùng tính.
Từ giữa năm 2014 thì
giá dầu ở khoảng 100 đô la một thùng, nay chỉ còn 30 đô la, coi như mất 70%.
Tổng số trữ lượng về dầu của thế giới đã được xác định thì ở khỏang một ngàn
700 tỷ thùng. Khi dầu mất giá 70% thì kho dầu toàn cầu coi như mất giá khoảng
120 ngàn tỷ đô la, tính cho tròn thì hơn gấp 10 sản lượng kinh tế của nước Mỹ,
bằng 500 lần sản lượng của Việt Nam hay 200 lần tài sản của vài doanh nghiệp
lớn nhất thế giới. Con số ấy cho thấy kích thước của vấn đề. Dù biết rằng lượng
dầu ấy vẫn còn nằm dưới đất và chỉ có giá khi đào lên khai thác và bán ra,
nhưng trong sổ sách hay đầu óc của các quốc gia hay các doanh nghiệp làm chủ
lượng tài sản này thì người ta phải thấy là mình bị nghèo đi mất 70%. Khi ấy,
chúng ta nghĩ tới khái niệm gọi là “hiệu ứng thịnh vượng ngược” để dự đoán về
hậu quả.
Nguyên Lam: Ông nói đến khái niệm hay phạm trù
“hiệu ứng thịnh vượng ngược”, thưa ông, đấy là cái gì vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu tôi thấy mình giàu hơn thì tự nhiên
tôi nghĩ đến việc xài tiền này cho các nhu cầu trước đây mình muốn mà không thỏa
mãn được. Thí dụ như mua một cái xe lớn hơn hay một ngôi nhà sang hơn. Từ đó,
quyết định chi tiêu phụ trội của tôi có thể kích thích sản xuất cho doanh
nghiệp và đấy là phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng”, cơ sở của các tính toán và dự
đoán kinh tế của giới hữu trách. Ngược lại, khi thấy mình bị nghèo đi thì tất
nhiên là phải thu vén chi tiêu, tạm đình chỉ những gì muốn làm. Doanh nghiệp
dầu khí đang khai thác các giếng dầu bị mất giá thì phải tiết giảm đầu tư, có
khi sa thải nhân viên và gây hậu quả bất lợi cho kinh tế. Một quốc gia bán dầu
ra như Liên bang Nga hay Saudi Arabia cũng thế, bị thất thâu ngân sách vì dầu
thô sụt giá và không thể duy trì các chương trình phúc lợi xã hội như trước và
hậu quả bất lợi sẽ lan rộng ra khỏi lĩnh vực năng lượng qua kinh tế và xã hội.
Đấy là hiện tượng “hiệu ứng thịnh vượng ngược” hay “hiệu ứng nghèo túng”. Với
giá dầu bị mất 70% và sẽ còn mất nữa, hiệu ứng bất lợi cho các nước bán dầu sẽ
lây lan và gây ra nguy cơ “giảm phát” là sản lượng kinh tế suy giảm, hàng họ
bán rẻ mà vẫn ế và thất nghiệp sẽ tăng.
Biến cố trăm năm mới thấy một lần
Nguyên Lam: Ông vừa nhắc tới vai trò của Hoa Kỳ
là quốc gia đi tiên phong trong cuộc cách mạng về kỹ thuật khai thác dầu thô và
khí đốt khiến số cung trên thế giới tăng mạnh, làm sụt giá dầu trong bối cảnh
trì trệ của kinh tế thế giới. Khi dầu sụt giá như vậy thì vì sao các công ty
không giảm mức sản xuất để hãm số cung?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nhờ cuộc cách mạng kỹ thuật mà Hoa Kỳ đã
vọt lên thành quốc gia sản xuất nhiều dầu nhất thế giới và giảm hẳn số dầu nhập
khẩu nên càng làm thế giới bị ứ dầu. Khi ấy, các tiểu bang có giếng dầu lớn
nhất như Texas, Oklahoma hay North Dakota đã thành đầu máy kinh tế. Các doanh
nghiệp loại nhỏ và vừa lao vào lĩnh vực sản xuất dầu với kỹ thuật mới cũng
tuyển dụng nhiều nhân công nhất và khai thác cả ngàn giếng dầu loại bỏ túi ở
mọi nơi và góp phần làm giảm nạn thất nghiệp tại Mỹ. Nhưng từ giữa năm 2014,
tình hình hết còn khả quan như trước và ngày càng khó khăn hơn vì dầu thô sụt
giá khiến nhiều giếng bị tạm đóng cửa và ngân sách nhiều tiểu bang như North
Dakota bị hao hụt nặng chẳng khác gì tình hình Liên bang Nga hay Á Rập Saudi
hoặc Venezuela.
Sang câu hỏi vì sao
nhà sản xuất không giảm số cung để giá khỏi sụt thì ta gặp một vấn đề kế toán
tài chính. Nhiều doanh nghiệp Mỹ đã đi vay thay vì chủ yếu bỏ vốn để khai thác
dầu. Khi giá sụt thì họ vẫn có nhu cầu thanh toán các khoản nợ đáo hạn nên vẫn
cứ phải bơm thêm dầu và bán lỗ để có tiền mặt hầu còn trả nợ trên thị trường
trái phiếu hay cho các ngân hàng. Và động thái tuyệt vọng ấy lại càng làm dầu
hạ giá trong một vòng luẩn quẩn đáng ngại! Mà không chỉ có doanh nghiệp, nhiều
quốc gia cũng gặp cảnh ngặt nghèo ấy khi đi vay quá trớn.
Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì phải chăng
các doanh nghiệp khai thác dầu lao vào một cuộc chơi nguy hiểm vì đi vay tiền
để áp dụng một kỹ thuật tân kỳ làm tăng sản lượng và giảm phí tổn sản xuất cho
tới khi dầu thô sụt giá quá mạnh thì họ phải tiếp tục bơm dầu trả nợ dù có
bị lỗ. Nhìn ra ngoài Hoa Kỳ thì tình hình của các nước sản xuất coi bộ cũng ít
quả quan mà còn có vẻ nguy ngập, thí dụ như xứ Á Rập Xaou-đi và các nước trong
Hiệp hội OPEC của 14 quốc gia xuất khẩu dầu thô. Ông nghĩ sao về chuyện này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta đang chứng kiến một biến cố gọi
là trăm năm mới thấy một lần. Cùng nhiều nước bán dầu trong Vịnh Á Rập, Saudi
Arabia có chiến lược độc đáo là không giảm sản lượng để giữ giá mà cứ tiếp tục
bán thêm để giá sụt mạnh làm các doanh nghiệp Mỹ lỗ vốn và đóng cửa, là điều có
xảy ra. Khối Á Rập này, như Saudi, Kuweit và các tiểu vương quốc, có nhiều dầu
và dự trữ ngoại tệ dồi dào nên mới theo đuổi việc ấy, chứ các thành viên khác
của tổ chức OPEC, như Venezulea thì bị khốn đốn nặng. Cuối tuần qua thì rạn nứt
bùng nổ trong nhóm OPEC và tổ chức này hết còn thế lực làm giá như hơn 40 năm
trước mà còn bị nguy cơ tan rã.
Cũng về hiệu ứng của
giá dầu, ta không quên là Iran đang nuôi hy vọng bán dầu từ một triệu rưỡi đến
ba triệu một ngày sau khi hết bị quốc tế cấm vận để có thu nhập cải thiện kinh
tế, nhưng sẽ lại tăng số cung. Là đối thủ chính trị của Iran, Saudi Arabia càng
không muốn giảm sản lượng trong mục tiêu làm dầu thô sụt giá nữa hầu Iran không
chiếm được lợi thế kinh tế. Ta không nên quên vai trò võ khí của dầu thô và
Hoàng gia Saudi đang sử dụng võ khí ấy để gây khó cho Iran, cho Liên bang Nga
và các doanh nghiệp Mỹ.
Nguyên Lam: Khi nói đến hoàn cảnh thuận lợi hơn
cho các nước mua dầu thì chúng ta phải nhớ tới Trung Quốc là một nước cũng sản
xuất dầu thô nhưng vẫn phải mua thêm cho đủ yêu cầu tiêu thụ quá lớn với hiệu
suất rất kém. Thưa ông, nếu nói về hậu quả của việc dầu thô xuống giá thì kinh
tế Trung Quốc được lợi những gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc có lợi nhờ hóa đơn mua dầu
được rẻ hơn trước, nhưng tự thân thì đã có quá nhiều vấn đề nên kết cuộc thì
chẳng có gì khả quan hơn. Tôi xin vắn tắt như thế này: Trung Quốc là nơi mà mỗi
tuần lại có nhiều tin xấu về kinh tế và tình hình tiếp tục suy đồi hơn với nạn
đồng bạc mất giá, thất nghiệp tăng, tư bản tẩu tán ra ngoài, dự trữ ngoại tệ sẽ
hao hụt bình quân chừng hơn 100 triệu đô la một tháng - trong năm nay có thể
mất thêm khoảng hơn một ngàn tỷ. Vì vậy, bước vào năm Thân này, vấn đề của
Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị. Trong hoàn cảnh đó số
cầu về dầu thô càng giảm và giá dầu sẽ càng hạ.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm
tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa.
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/EconomicForum/oil-price-effects-nxn-02102016223934.html
Trung Cộng, Con Cờ Thứ Hai của Cộng Đồng Mỹ Gốc Do Thái
TRUNG CỌNG, CON CỜ THỨ 2 CỦA CỘNG ĐỒNG MỸ GỐC DO THÁI
1.- Cộng Đồng Giàu
Nhất Thế giới
Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có khoảng từ 5,3 đến 8,4 triệu
người gồm 3 nhóm, lớn nhất là nhóm Ashkenazi, chiếm đến 90% dân số cộng đồng,
hai nhóm khác là Sephardic và Mizrahi.
Người Do Thái xem quan
trọng 3 thứ : Do Thái Giáo ( Judaism ), trí thức và tài sản. Do Thái Giáo đã
giúp cho người Do Thái bị phiêu bạt mấy ngàn năm mà không mất gốc. Trí thức
giúp cho người Do Thái vươn lên đứng đầu mọi lãnh vực của nền văn minh nhân
loại (30% giải Nobel được trao cho người Do Thái). Tài sản đã làm cho người Do
Thái giàu có mà đặc biệt là cộng đồng Do Thái tại Mỹ đang quản lý một số tài
sản có thể ngang với từ 15 % đến 20% tài sản của nhân loại. Người Do Thái rất
đoàn kết, có tổ chức và không giữ bí mật để làm lợi riêng nên khi họ quây quần
thành tập thể thì họ có cơ chiếm hết mọi quyền lợi chung quanh và trở thành mối
họa cho những cộng đồng bản xứ nơi họ định cư.
Thế chiến thứ II,
người Đức đã thấy được mối họa Do Thái nên đã diệt chủng hơn 2 triệu người Do
Thái. Thảm cảnh Holocaust đã làm động tâm cả nhân loại nên các cường quốc mới
dành một mảnh đất nhỏ bên bán đảo Sinai của Ai Cập để cho người Do Thái có chổ
đi về, nước Israel.
Cộng đồng Do Thái ở Mỹ
thoát được sự tàn phá của hai trận thế chiến và không bị họa Holocaust nên họ
vươn lên giàu có rất nhanh và chiếm lấy nước Mỹ và dùng nước Mỹ như một con cờ
điều khiển cả thế giới. ( Helen Thomas, một phóng viên nổi tiếng và là một
thành viên của cơ quan báo chí Tòa Bạch Ốc hơn 50 năm, đã bị sa thải. Về sau,
bà đã đọc một diễn văn tại một hội nghị ở Detroit trong đó bà trình bày quan
điểm cho rằng “Quốc Hội, Tòa Bạch Ốc, Hollywood, và Wall Street đều bị Do Thái
làm chủ. Dứt khoát là thế.” (Congress, the White House, Hollywood, and Wall
Street are owned by Zionists. No question in my opinion.)
2.- Mục tiêu tối hậu :
Tiền
Nhóm Sephardic là nhóm
người Do Thái đầu tiên từ Tây Ban nha và Bồ Đào Nha di cư sang Mỹ, Đến năm 1749
đế quốc Anh làm luật cho ưu tiên người Do Thái di cư sang thuộc địa cùa Anh tại
Hoa Kỳ. Năm 1880 Châu Âu đi vào khủng hoảng kinh tế nên cộng đồng Do Thái nói
tiếng Yiddish thuộc nhóm Arkenazi ở các nước nghèo đói Trung Âu và Đông Âu tuôn
sang Hoa Kỳ khoảng 2 triệu người. Họ làm đủ nghề thấp kém nhất để kiếm sống và
nhanh chóng biến thành ông chủ trong mọi ngành. Nay điều hơi khó khăn là tìm
cho ra một người Mỹ gốc Do Thái không phải là triệu phú, họ tập trung đông nhất
ở mạn dưới Manhattan của New York, từ đó bàn tay Do Thái vươn ra quậy khắp thế
giới với một mục đích tối hậu là để kiếm …. TIỀN.
Khi phân tích tình
hình thế giới đi về đâu, cái gì đang xảy ra, cái sẽ sẽ xảy ra mà muốn điều phân
tìch ấy sâu sắc và chính xác thì chúng ta nên nhìn vào khối tài sản của cộng
đồng người Mỹ gốc Do Thái hướng vào đâu để đầu tư, như thế là nên nhìn cho ra
địa điểm đầu tư, hướng giải quyết sản phẩm đầu tư hay nhìn vào hướng cung và hướng
cầu có thề làm cho số tiền đầu tư ấy được sinh lợi thì mới biết được mục đích
của các diễn biến trên trường quốc tế.
3.- Các địa điểm đầu
tư trước đây.
Một số chuyên gia về
đầu tư cho rằng có 3 yếu tố cần phải nghĩ đến khi bắt tay vào việc đầu tư :
Yếu tố thứ nhất : Địa
điểm đầu tư (Location)
Yếu tố thứ hai : Cũng
là địa điểm đầu tư
Yếu tố thứ ba : và
cũng là địa điểm đầu tư
Địa điểm đầu tư của
tập đoàn tư bản Do Thái tại Hoa Kỳ lẽ dĩ nhiên là nước Hoa Kỳ, là một vùng an
toàn nằm ngoài nhiều xung đột của thế giới, khi đầu tư thành công thì lợi nhuận
làm cho số tài chánh ngày càng tăng thì phải nghĩ đến một địa điểm đầu tư khác
nằm ngoài Hoa Kỳ, để cho số tài chánh thặng dư sinh thêm lợi nhuận.
Sau thế chiến thứ II
địa điểm đầu tư ngoài nước Hoa Kỳ mà tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái chọn là 2
nước Đức và Nhật, bởi hai nước này là hai nước hoang tàn đổ nát, các cơ sở sản
xuất vẫn có mà công nhân thì đang chết đói đang cần những bị bạc của những nhà
tư bản Do Thái vực dậy để sản xuất ra những sản phẩm rẽ mạt bán khắp năm châu.
Sau hơn 20 năm thâu
lợi nhuận hã hê, một người Nhật hay người Đức làm ra một đồng thì phải chia cho
người Do thái ở Mỹ một ít, tập đoàn tư bản Do Thái rút tiền đầu tư từ hai nước
này về vì họ nhìn ra một địa điểm đầu tư khác hấp dẫn hơn, nước Trung Quốc.
Nước này đang bị đại
loạn của Hồng Vệ Binh, anh Mao Xếng Xáng giết các đồng chí của anh ta nên gây
ra thảm cảnh 36 triệu người chết… vì đói. Các cơ sở sản xuất tiêu điều mà công
nhân hơn 1 tỷ người đang thất nghiệp. Tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ rót tiền vào
đâu tư làm ra những sản phẩm rẽ mạt ” Made in China” bán ra toàn thế giới.
4.- Khủng hoảng địa
điểm đầu tư :
Để giải quyết những
sản phẩm quân sự làm ra tại địa điểm đầu tư ở Hoa Kỳ, tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do
Thái đã đem quân Mỹ gây bất ổn khắp Trung Đông khiến cho các ông vua dầu lửa
phải chạy đua vũ trang hay nói cách khác đem tiền bán dầu đưa cho tập đoàn tư
bản Do Thái để đổi lấy những đoàn tàu bay tàu bò giết nhau cho bỏ ghét.
Chính sách này gây cho
nước Mỹ bị thù ghét khắp Trung Đông. Vụ đánh sập Tòa Tháp Đôi năm 2001 ở New
York đã làm cho những tập đoàn tư bản Do Thái giật mình hoảng sợ và điều đầu
tiên mà bất cứ anh nhà giàu nào khi lo sợ cũng phải làm là lo giữ của.
Sau một thời gian dài
hơn 20 năm thâu lợi nhuận nhờ đầu tư vào đúng địa điểm, một nước Trung Cọng
nghèo đói tan hoang. Tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái tính toán không thể kiếm
thêm lợi nhuận hơn nửa vì chi phí đầu tư quá cao và sẳn dịp Tòa Tháp Đôi bị
đánh sụp nên họ đồng loạt rút tiền về nước rồi đem cho vay dễ dàng, tắt trách
mới sinh ra cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Hoa Kỳ vào năm 2008.
Hiện nay số tài sản
kết sù này đang đưa nền kinh tế Hoa Kỳ qua cơn suy thoái, đang chê Châu Âu già
cổi nên khó kiếm ra tirền, Châu Phi hoảng loạn không an toàn để đầu tư, Trung
Đông nguy hiểm lắm kẻ thủ vừa mất tiền đầu tư vừa mất mạng.
Khối tài sản kết sù
này đang nhắm nhé hướng về Châu Á Thái Bình Dương, một vùng năng động chưa khai
phá hết, để đầu tư nên nước Mỹ mới lập nên có hiệp định TPP làm nòng cốt, và
chính quyền Hoa Kỳ xoay trục sang Châu Á để bảo vệ vùng đầu tư. Nhưng các quỉ
đầu tư của các tập đoàn tư bản Do Thái chưa chuyển động phải chăng họ đang mưu
tạo ra một địa điểm đầu tư lý tưởng ở Châu Á như Đức và Nhật sau thế chiến thứ
II.
5.
Mưu tạo địa điểm đầu
tư mới
Nay chúng ta thấy tình
hình Châu Á có những biến chuyển như sau : Trung Cọng gây bất ổn ở Biển Hoa
Đông và Biển Đông. Siêu quyền lực Bilderberg club họp ngày 6/6/2014 tại Watford
ở Anh Quốc lên kế hoạch chia Trung Cọng thành 5 nước nhỏ. Trung Cọng bồi đắp
các đảo nhân tạo để núng ra ở Biển Đông. Các nước Đông Nam Á lo sợ chạy đua vũ
trang. Hoa Kỳ đè dặt tuần tra Biển Đông v.v…
Mấy hôm nay người viết
bài này đọc được bản tin như sau :
Ông Obama đã cảnh cáo
quan chức Trung Quốc: Nếu quý quốc dám gây chiến tranh với Philippines, Việt
Nam, Nhật Bản, tôi chỉ cần nói ra 6 điều là Trung Quốc tan vỡ, không phải sử
dụng đến dù chỉ một người lính.
1.
Công bố tài khoản nước
ngoài của quan chức Trung Quốc và cho đóng băng.
2.
Công bố danh sách quan
chức Trung Quốc có hộ chiếu Mỹ.
3.
Công bố danh sách
người nhà các quan chức cấp cao Trung Quốc định cư tại Mỹ.
4.
Ra lệnh thanh tra biệt
thự và tình nhân của quan chức Trung Quốc ở Los Angeles.
5.
Đưa người nhà quan
chức Trung Quốc đang sống tại Mỹ đến nhà tù nổi tiếng của Mỹ ở Guantanamo
(Cuba).
6.
Tiếp tế vũ khí cho
công nhân thất nghiệp ở Trung Quốc (có lẽ chỉ cần áp dụng điều thứ 6 này là
đủ).
Người viết nghĩ :
Đây là lời đe dọa thứ
hai nhắm vào Trung Cọng sau khi đe dọa lên kế hoạch chia Trung Cọng thành 5
nước nhỏ. Đe dọa có nghĩa là anh phải thực hiện những thỏa thuận đã đề ra nếu
anh không thực hiện những thỏa thuận đã đề ra thì tôi sẽ thực hiện những thứ
sau đây …. làm anh thiệt hại.
Vậy những thỏa thuận
đã đề ra là những thỏa thuận gì ?
Những thỏa thuận đã đề
ra thường thuộc loại TOP SECRET nên không ai biết được. Giống như thỏa thuận
bán đứng MNVN giữa tên Do Thái Henry KIssinger và thủ tướng Chu Ân Lai của
Trung Cọng phải 30 năm sau mới lòi ra.
Người viết xin đoán mò
:
Thỏa thuận 1 : Làm bất
ổn để Châu Á chạy đua vũ trang cho tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ bán vũ khí kiếm
tiền ( đã và đang thi hành)
Thỏa thuận 2 : Gây
chiến tranh phá nát vùng Đông Nam Á để tạo một địa điểm đầu tư lý tưởng cho tập
đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ bỏ tiền vào đầu tư ( chưa thực hiện ).
Người viết xin bình
luận thỏa thuận 2 :
Tập đoàn tư bản Mỹ gốc
Do Thái và chính quyền Hoa Kỳ tuy hai mà một tuy một mà hai. Trung Cọng muốn
độc hiếm Biển Đông thì phải đánh chiếm trọn Đông Nam Á mới thành công. Đánh
chiếm Đông Nam Á lại là cơ hội cho các cường quốc xâu xé nước Trung Hoa thêm một
lần nửa. Tiến thoái lưỡng nan đang làm cho anh Đại Hán tham ăn ngồi trên đống
lửa.
Nostradamus tiên tri
thế chiến thứ III xảy ra do AntiChrist điều khiển. Các thầy bàn Phương Tây đang
đi tìm AntiChrist là ai. Họ quên rằng Nostradamus không nói AntiChrist là cá
nhân hay tập đoàn. Nếu là tập đoàn thì chuyệm tìm ra AntiChrist thì cũng dễ
thôi.
Nhất Hướng nguyễn Kim Anh
Đây là bài viết trước
đây nói về thời gian thỏa thuận
Wednesday, February 10, 2016
Con Lu nhà tôi
Con Lu nhà tôi
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Trong ba chú chó mới
sinh, bà dì ở Ðà Lạt cho tôi một con và được chọn ưu tiên.
Cả ba đều là chó đực nên chỉ cần lựa con nào có bộ lông đẹp nhất
là đủ. Khi tôi ngồi sà vào ổ của ba chú chó chưa mở mắt, chợt
con có màu lông xám, hai đốm vàng trên lưng ngúc ngoắc đầu đánh hơi bò
về phía tôi. Nó đưa cái mõm mũm mĩm, ươn ướt ủi vào bàn
chân của tôi. Cái đuôi cũn cỡn ngoe nguẩy như loài chuột xạ…
Hai tuần lễ sau
tôi ghé thăm dì. Bầy chó đã mở mắt đang ngậm vú mẹ. Khi nghe tiếng tôi
trốc trốc, chú chó lông xám ấy bỏ vú mẹ bò vào lòng tôi. Dù màu
lông không nổi bật như hai con kia nhưng tôi thích cái tính thân thiện của
nó ngay từ giờ phút đầu.
Mang chó về nhà,
con tôi chê màu lông nhớp nhem rồi tự động đặt tên là Lu. Dù mới một tháng
tuổi, nhưng khi rời chó mẹ vềnhà tôi, Lu ít khi kêu đêm như những chú
chó con khác. Ban đầu cho Lu bú bằng bình sữa, rồi cho ăn sữa đặc đổ vào
đĩa. Chỉ ba tháng sau là Lu lớn như thổi.
Lai lịch của dòng
họ nhà Lu cũng ly kỳ lắm. Jolie là tên mẹcủa Lu, giống chó xù Nhật
Bản, nhỏ con, chân thấp, dáng đi lũn cũn. Nó hay qua nhà láng giềng đùa
giỡn với anh chàng berger to con, tai vểnh, đôi chân sau vạm vỡ.
Một hôm, lũ
trẻ đến trước nhà Dì tôi kêu giật giọng rằng là con Jolie bị con chó
berger của ông Tư Ðợi tha đi khắp khu vườn. Dượng tôi hốt hoảng chạy sang.
Những tưởng con berger đã cắn chết con xù của nhà dượng. Nào ngờ cảnh
tượng lạ lùng rất khó tin đã xảy ra: Con berger lẹo với Jolie nhỏ hơn
nó gấp mấy lần. Vì là phần kết thúc sau “cuộc mây mưa” của loài chó, cho nên
hắn na con cái còn mắc cứng phía sau đuôi. Hai chân sau của con Jolie
bị treo hỏng trên cao chỉ còn cái mõm và đôi chân trước bị kéo
lê trên đất. Nàng kêu toáng lên khiến chàng đâm hoảng na chạy khắp vườn
như na cái đuôi của mình trở nên nặng chình chịch. Kết quả cuộc
tình giữa hai “chủng tộc”, nàng Jolie đẻ ra ba chú chó lai. Nhờ vậy
mà đời con của nàng không còn mang dáng dấp thấp lè tè của loài chó xù nữa.
Con Lu lớn lên bộ lông ngày càng đẹp. Màu xám của mẹ pha màu vàng của bố mướt mượt như nhung. Hai đốm vá màu vàng đậm nằm hai bên hông, thoạt trông như yên ngựa. Dù không to con lớn xác như bố Berger của no,́ nhưng con Lu cũng vượt trội hơn đám chó nhà. Chân cao, dáng đi oai vệ như loài hổ. Hai vai rộng, u thịt nổi vồng lên khi nó bước đi. Cặp mắt ánh lên màu lửa như có thần lực. Ðàn chó hàng xóm gặp Lu là cụp đuôi chạy dài. Sau này, những lần đi săn giải trí loanh quanh ởnhững khu đồi còn an ninh, tôi mới nhận biết loài chồn, loài thỏ thấy Lu là hồn xiêu phách lạc, đứng chôn chân tại chỗ.
Mỗi lần con tôi đi học
về là dành nhau ôm Lu vào lòng. Tình cảm giữa chó và người không
hề phân biệt. Ngoài cái khứu giác bẩm sinh độc đáo của loài chó có
thể đánh hơi hàng mấy dặm, thính giác con Lu còn phân biệt được tiếng xe
quen thuộc của tôi từ xa. Nó nghểnh mõm, ve vẩy đuôi chạy ra trước sân.
Nhìn cử chỉ đó là nhà tôi đoán biết tôi sắp về đến nhà.
Lu cạ vào chân
tôi từ lúc xuống xe đến khi tôi vỗ về âu yếm nó mới chịu đi nơi
khác. Lu cũng cảm nhận khá nhạy bén lúc tôi buồn bực hay giận hờn. Những
lúc ấy nó nằm khoanh tròn nhìn tôi với ánh mắt buồn xo. Ðến khi tôi vui
vẻ trở lại là Lu chạy đến cạ lưng vào người và liếm tay tôi
như để hòa đồng niềm hân hoan với chủ.
* * *
Sau ngày “gẫy gánh
75”, tôi lên đường trình diện ban Quân quản thị xã. Tôi mang theo
mười ngày gạo cùng ít đồ dùng, từbiệt vợ con với bao âu lo trong
lòng. Khi bước ra khỏi cửa, con Lu cứ luấn quấn cản bước chân, tôi trực
nhớ đến nó liền cúi xuống ôm Lu vào lòng. Ánh mắt ươn ướt buồn
thiu của nó nhìn tôi chẳng khác gì đôi mắt của vợ tôi rươm rướm lệ. Lu
liếm vào mặt tôi như quyến luyến từ biệt chủ phải đi xa lâu
ngày. Trong tù, nhớ lại ánh mắt con Lu, tôi hiểu ra rằng loài chó còn có
một giác quan đặc biệt, cảm tính rất nhạy bén về thái độ và tâm trạng
của người gần gũi nó.
Những tưởng mười ngày
nửa tháng rồi quay về, nào ngờ cách biệt gia đình với thời gian dài hun
hút. Tôi nhớ con Lu cũng tương tự như nhớ các con tôi. Nỗi
lo ngại của tôi là lương thực ngày một khó khăn làm sao vợ tôi chạy đủ bữa
cho đàn con bốn đứa lại thêm miệng ăn con chó.
Một ngày nọ, nhà tôi
lên trại tù thăm, cho biết chú Dương Thái Lân, con của bà cô Út tôi
từ Bắc về Nam có ghé thăm gia đình. Chú ấy bảo con Lu có
cốt tướng nòi săn, muốn xin nó về đơn vị nuôi để săn mồi cải
thiện thịt tươi. Lân là vai em nhưng lớn tuổi hơn tôi nhiều. Ði bộ đội
từ trước 1954, sau tập kết ra Bắc được sang Tiệp Khắc học ngành cầu đường.
Hiện là thủ trưởng đơn vị Công binh sửa đường ở Cao nguyên.
Vợ tôi nhất quyết không cho con chó, lấy lý do phải qua ý kiến của chồng.
Một hôm, quản giáo
trại gọi tôi lên văn phòng ban giám đốc. Một anh bộ đội mặc áo quần đại
cán ngồi trong phòng tiếp khách tay cầm một tờ tạp chí cuốn tròn. Anh cán
bộ thấy tôi vào, liền hỏi:
- Nguyễn Tấn đấy à?
Tôi ngập ngừng:
- Thưa vâng,
- Tôi là Dương Thái
Lân.
Tôi à lên một tiếng
để tỏ rằng mình biết hắn là ai. Thực ra, qua 21 năm ở Bắc
và mấy năm đi bộ đội Vệ Quốc Ðoàn làm sao tôi nhớ nỗi cái khuôn
mặt ngày xưa của thằng em con bà cô Út. Ðưa tờ báo cuốn tròn cho tôi, Lân
bảo:
- Ngày trước anh cũng
viết sách, làm báo dữ dằn đấy nhỉ?
Tôi mở cuộn báo
thì ra là tờ Bán nguyệt san Quyết Tiến. Ðó là tạp chí do tôi trách nhiệm
biên tập trước 75 do cơ quan USAID của Hoa Kỳ yểm trợ ngân khoảng
để in ấn phân phát cho các đơn vị Ðịa phương quân và Nghĩa quân.
Tôi nghi là Lân đã tìm thấy tập báo nầy trong tủ sách tại nhà tôi.
Lân bảo:
- Tôi có đọc trong đó
truyện dài “Nhật Ký Bích Phương” của anh viết đăng nhiều kỳ về Tết Mậu
Thân 68. Viết bạo đấy chứ, đúng chính sách của Mỹ Ngụy.
Tôi giật mình và cảm
thấy bất an. Lân đưa tay ra hiệu lấy lại cuốn tạp chí rồi lên tiếng:
- Tôi có ghé nhà
thăm chị Tấn. Giai đoạn này mà trong nhà còn nuôi con chó kiểu tiểu
tư sản. Anh không sợ cặp mắt của quần chúng hay sao?
Tôi than thở:
- Thời gạo châu củi
quế, nhà tôi phải chạy gạo cho bốn miệng ăn, nhưng vì nuôi nó từ lúc mới
sinh nên tình cảm gắn bó nhưthành viên trong gia đình.
Hắn ngắt lời:
Hắn ngắt lời:
- Tôi có
đề nghị với chị cho tôi mang con chó đó về đơn
vị đểđỡ bớt khẩu phần ăn cho gia đình nhưng chị bảo phải qua ý
kiến anh. Mới nhìn là tôi biết nó thuộc giống chó săn quý hiếm và có
thể chống lại cả thú dữ.
- Nếu chú thích con
chó thì về hỏi nhà tôi, quyền quyết định ởbà ấy. Tôi
trả lời.
Lân đưa cho tôi một cây thuốc Ðiện Biên, tôi từ chối không nhận vì tôi đã bỏ hút thuốc từ lâu, rồi chào hắn quay về trại.
Lân đưa cho tôi một cây thuốc Ðiện Biên, tôi từ chối không nhận vì tôi đã bỏ hút thuốc từ lâu, rồi chào hắn quay về trại.
* * *
Ðến kỳ thăm nuôi sau, bà xã tôi báo tin chú Lân đến nhà bắt con Lu đi rồi. Bỗng dưng mắt tôi như nhòa sương, lòng xót thương con Lu vô hạn. Từ ngày vào tù, tôi nghi ngờ tất cảnhững gì người ta nói. Giờ đây Lân bảo đem Lu về nuôi hay ăn thịt chỉ có trời biết. Thấy mắt tôi rưng rưng ngấn lệ, vợ tôi anủi:
- Lũ con mình cơm không đủ ăn mà phải nhường cho chó một ít, lòng em cũng xót xa lắm. Nó thiếu ăn nên cả đêm chạy rông kiếm mồi đến sáng mới về nhà. Lông nó ướt nhớp nháp, đầy bùn. Biết đâu có cơm bộ đội dư thừa thân nó sẽ mập ra. Mình có giữ lại một thời gian sau cũng bị người ta đập chết làm thịt thôi. Xã hội bây giờ thiên hạ ghiền thịt chó lắm, anh có biết không?
Hết giờ thăm
nuôi, tôi đứng vào hàng. Nhìn đôi mắt nhòa lệcủa vợ khiến lòng tôi xót xa
vô cùng. Cả đêm hôm đó hình bóng con Lu cứ chập chờn trong giấc ngủ.
Tôi mơ thấy đôi mắt buồn rười rượi của Lu nhìn tôi trong ngày ra đi
như báo hiệu rằng nó không còn dịp gặp chủ nữa. Cái cảm giác man mác
êm êm của lưỡi nó liếm vào mặt, vào cổ, giờ đây tôi vẫn không quên. Niềm
tin gắng gượng nhỏ nhoi vào lời hứa của chú em con bà cô là xin con Lu
để canh chừng thú dữ và săn mồi. Vảlại, cái công khó của Lân đã
lặn lội đường xa đến trại cải tạo để gặp tôi nên cũng an ủi phần nào.
* *
*
Ba tháng sau,
vợ tôi với khuôn mặt hớn hở báo với tôi con Lu không
còn ở với chú Thái Lân nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi dồn. Nàng kể:
- Cách đây một tuần
lễ, chú ấy bất thần đột nhập vô nhà mình không
giữ kẽ như những lần trước. Chú dáo dác nhìn trước nhà, nhìn sau
nhà, cả cái phòng ngủ của vợ chồng mình chú cũng ghé mắt quan
sát. Ðột nhiên Lân hỏi:
- Con Lu có chạy
về đây không chị?
Em sững sờ hỏi:
- Nó ở với
chú mà?
- Tức lắm
chị ơi, Lân ngồi vào cái ghế đặt ngoài hiên, nói tiếp:
- Trước khi đi công
tác Hà Nội, tôi gởi Lu cho chị nuôi lo ăn hàng ngày. Không ngờ các
đồng chí trong đơn vị lợi dụng lúc tôi vắng nhà, bắt con Lu làm thịt đánh
chén. Các anh ấy bỏ con chó vào bao bố dìm xuống nước. Khi
mở bao ra con chó không còn thở nữa. Họ yên chí ngồi
chờ nồi nước đang nấu cho thật sôi để cạo lông. Ca nước sôi đầu tiên
tưới vào lưng con Lu, bất ngờ nó vùng dậy chạy đi mất dạng. Lập tức các
đồng chí ấy cầm súng lùng sục các ven rừng nhưng chẳng thấy nó đâu nữa.
Tôi yên chí con Lu
sẽ trở lại nhà chị vì nó vừa khôn vừa có sức mạnh khác thường.
Tôi đánh giá thành tích săn bắt mồi của con Lu rất cao. Nó thường xuyên bắt
được chuột đồng, thỉnh thoảng chồn hoặc thỏ. Mình có chất tươi thêm vào bữa ăn
nên tôi quý nó lắm. Kể xong, Lân đi ra xe xách vào một bao cát đựng
đầy gạo, bảo:
- Ðây là số gạo
tiêu chuẩn tôi đi công tác còn thừa, chị nhận cho các cháu bồi dưỡng và
thêm phần cho con Lu. Nếu nó có trở về đây xin chị báo tin cho
tôi biết.
Lân ra đi được một
ngày.
Hôm sau, lúc chạng
vạng tối, cả nhà đang ăn cơm, con Lu không biết từ đâu chạy xồng xộc
vào nhà, mình nó ướt đẫm mồhôi. Trên lưng một vết phỏng to bằng bàn tay
lột hết lớp lông và đã bắt đầu làm mủ. Lũ con mình ôm con Lu vào lòng mừng rơi
nước mắt. Cả nhà phải nhịn một phần cơm cho nó. Loáng cái là nó vét sạch
đĩa cơm độn sắn. Lu ve vẩy đuôi, đưa lưỡi liếm từng người trong gia đình
như để điểm lại những người thân. Mấy đứa con mang Lu ra giếng chà
xát xà phòng, tắm rửa, bắt sạch ve vắt bám vào da. Em khui bình thuốc
Peniciline rắc lên vết phỏng.
Chờ đến tối, bọn
em mang Lu về gởi cho ông bà ngoại vì biết thế nào chú Lân cũng
trở lại tìm chó. Ðêm đó, Lu cứ theo chân em đòi về, thằng Doãn phải
ngủ nhà ngoại để giữ con Lu ở lại. Em vuốt ve
vỗ về:
- Con
phải ở lại đây với ngoại. Lu không được theo mẹ về nhà,
người ta sẽ đến bắt con đi, biết hông? Lu vểnh tai nghe lời em dặn nên
ngoan ngoãn nằm trong lòng của Doãn mà không còn hậm hực đòi về nữa. Đêm
đó Doãn phải ở lại nhà ngoại với Lu.
Từ đó,
hễ thấy người lạ vào nhà là Lu chui dưới gầm giường chìa đầu ra, nhe
răng gầm gừ. Chỉ cần một cú giậm chân là đủđể nó phóng ra
vồ ngay. Sau lần thoát chết, con Lu nghi ngờhầu hết mọi người,
chỉ trừ gia đình tôi và ông bà ngoại. Tính thân thiện của con Lu
giờ đây không còn nữa. Loài chó rất trung thành với chủ nhưng khi
bị một lần đối xử tàn nhẫn với nó là bỏ nhà đi luôn.
Gia đình ông
bố vợ tôi tuy ở thị trấn nhưng vì là vùng đất đai đã
tạo mãi từ trước khi trở thành thị tứ nên nhà cửa vườn tược
rộng thênh thang. Tiếp giáp với vườn cây ăn trái là cánh đồng mía, nay thuộc
hợp tác xã nông nghiệp. Lu không bao giờ ra trước đường phố mà
chỉ lùng sục trong vườn cây, ruộng mía sau nhà tha hồ bắt chuột, chim
chóc, rắn rít. Nó sống như một tử tù thoát ngục. Nó biết ngoài xã hội
loài người đang nhìn nó một cách thèm thuồng.
Họ chỉ chờ cơ hội là biến thân xác nó thành miếng nhừ,
miếng mận.
Ngày ra tù, tôi
vào thăm ông bà nhạc gia. Khi vợ chồng tôi vừa đến cổng nhà, con Lu đánh
hơi được từ trong nhà phóng ra chồm lên người tôi. Với sức nặng của nó đã
khiến tôi té ngồi xuống đất. Người nhà ngỡ con Lu tấn công
kẻ lạ mặt nên vội la lên: “Bố đấy Lu, tránh ra!” Nhưng không. Nó
xoải hai chân trước đứng trên đùi tôi rồi đưa lưỡi liếm trên khắp mặt mày, tai
cổ của tôi. Qua cơn hốt hoảng vì cú ngã bất ngờ, tôi hiểu ra con Lu đang
mừng chủ. Tôi liền ôm chầm lấy nó rồi người và chó lăn lộn trên nền sân xi-
măng. Cha mẹ vợ tôi vui mừng thấy con rể được ra tù. Hàng xóm
đứng nhìn cảnh người vật ôm nhau, họ không tránh khỏi xúc động trong lòng.
Sáu tháng sau,
nhà tôi sắp xếp cho tôi và thằng con trai lớn một chuyến vượt biển. Tôi phải
xin hộ khẩu ở nhà bà dì tận làng An Vĩnh gần mũi Ba-Tâng-Gâng.
Tôi có tên trong tổ hợp đánh bắt cá bằng lưới mành với ông dượng và mấy
người em bà con. Tôi dắt con Lu theo để tránh cặp mắt của láng giềng và
tránh luôn chú Lân bất thần đến nhà bắt gặp nó.
Trước một ngày tới
điểm hẹn, vợ tôi dẫn thằng Doãn, con trai đầu lòng của tôi xuống nhà bà dì
để chuẩn bị lên đường. Sáng hôm sau, nhà tôi mang con Lu lên xe lam
trở về nhà.
* *
*
Ðêm 30 tháng hai âm
lịch, trời không trăng nhưng rừng sao trên trời đủ soi rõ đường đi trên
bãi cát trắng lờ mờ. Hơi nước biển mát lạnh cùng với ngọn gió tây thổi
lồng lộng làm cho đám người trốn trong các bờ bụi rét run cầm cập.
Họ cố dõi mắt về hướng biển. Mười giờ... mười một giờ... đến
mười hai giờ ba mươi khuya, ánh đèn pin từ gành đá chợt nháy sáng báo
hiệu ghe con đã đến. Tốp đầu tiên gồm bốn người lần lượt tiến ra gành đá.
Lần kế tiếp đến
lượt hai cha con tôi cùng hai người ở cánh bắc vừa rời
khỏi ổ núp.
Cuộc “ra quân” âm thầm
nhưng đúng theo thứ tự ấn định. Còn mười phút nữa mới đến tốp cuối
cùng. Bỗng, phía sau làng có tiếng chân người chạy rầm rập rồi tiếng súng
nổ loạn xạ. Toán đầu quay trở lại chạy tản mác vào xóm. Hai người
cánh bắc cũng thế. Riêng tôi chạy băng qua gành rồi luồn vào lùm cây đước.
Thằng Doãn, trước khi
đi tôi đã dặn dò kỹ lưỡng. Nếu họ bắt được là cứ khai đi một
mình đừng để liên lụy đến Ba. Toán du kích chia nhau chạy lùng trong xóm.
Một du kích đuổi theo Doãn, đến gần bìa làng anh ta chộp được cổ con tôi.
Thằng bé la toáng lên:
“Thả tôi ra,
thả tôi ra”. Anh du kích xách thằng bé lên cao. Tay chân nó không ngừng
giẫy giụa. Chợt, một bóng đen từ trong hàng dừa phóng ra nhảy chồm lên bám
vào cổ anh du kích.
Con chó! Tôi thầm kêu
lên. Nó tấn công khá bất ngờ khiến anh ta đánh rơi cây súng và buông thằng
nhỏ để đánh vật với con chó. Anh ôm đầu con chó nhưng răng chó càng
lúc càng lún sâu vào cổ như con quỷ Dracula đang hút máu người.
Hắn kêu cứu. Một lúc sau mới có đồng đội đến tiếp sức. Con chó cũng vừa
nhả ra chạy vào trong xóm. Một loạt súng của người mới đến bắn đuổi theo.
Tôi nghe tiếng ăng ẳng của chó từ trong xóm vọng ra. Một nghi
ngờ thoáng qua, chẳng lẽ con Lu? Nhưng tôi yên tâm ngay bởi con Lu đã
được vợ tôi dẫn về nhà trong ngày hôm trước.
Núp trong đám cây đước
tôi quan sát đầy đủ cảnh chó và người vật nhau. Con chó xuất hiện trong
bóng đêm chớp nhoáng nhưloài sói vồ mồi. Hình ảnh con chó ngoạm
cổ anh du kích, tôi liên tưởng đến ma cà rồng đội lốt chó để hút máu
người. Nhưng dù ma hay chó tôi cũng thầm cảm ơn nó đã giải cứu cho con tôi
và giải thoát được bao nhiêu người.
Tôi về đến nhà
lúc tờ mờ sáng nhờ chiếc xe Honda thồ đi kiếm khách sớm.
Tắm rửa thay áo quần xong, chợt nhớ đến con chó. Tôi hỏi vợ:
- Con Lu đâu?
Bà ấy bảo:
- Khi xe lam vừa đến
ngã ba quốc lộ, con Lu vọt xuống xe chạy ngược theo con đường về hướng
biển. Em nghĩ nó trở lại với anh và con. Nếu có điều gì không may xảy ra
cho nó thì em biết làm sao bây giờ. Tôi nhìn vợ buông tiếng thở dài:
- Thôi rồi!
- Thôi rồi!
Tôi nghĩ ngay đến
tiếng kêu đau đớn của chó vang lên sau tiếng súng. Con Lu có thể chết vì
loạt đạn bắn theo. Tôi cảm thấy đau xót vô cùng.
Chờ trời tối hẳn,
dì tôi mướn xe Honda thồ đưa Doãn về với chúng tôi. Vợ tôi ôm
con vào lòng, khóc thút thít:
- Giờ con đã
thoát được về đây với mẹ cùng các em. Từ nay trởđi, đói no, chết
sống mẹ nhất quyết không để gia đình ta chịu cảnh phân ly Doãn nhìn
tôi hỏi:
- Ba có thấy con Lu
không?
Chẳng đợi tôi
trả lời, Doãn quả quyết:
- Lúc ông du
kích buông con ra, trước khi chạy trốn, con có quay lại nhìn thấy con Lu đang
ngoạm cổ ông ấy.
- Như vậy
là con Lu đã chết vì loạt đạn, không còn nghi ngờgì nữa. Tôi kết luận.
Các con tôi đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Tôi an ủi:
- Dù sao
thì mình đã dành tình thương và chăm sóc Lu nhưcon trong gia đình. Nó có
chết cũng là cái chết có ý nghĩa, một nghĩa cử vô cùng cao quý của loài
chó không khác gì con người.
* * *
Cả nhà đang say
ngủ. Ðột nhiên, tôi nghe tiếng cào sột soạt vào cánh cửa trước. Im ắng một
hồi lâu, tiếng cào lại nổi lên lần nữa. Ghé mắt nhìn ra ngoài, tôi chẳng thấy
gì cả. Chỉ có bóng đêm bao trùm và sương mù dày đặc phủ đầy trời. Tôi
thiếp đi một chốc. Tiếng sột soạt nổi lên lần thứ ba. Lần nầy lâu hơn
vàở ngay cánh cửa hông. Tôi vội bật đèn lên, hé cửa nhìn ra. Hốt hoảng,
tôi kêu lên:
- Em ơi, con Lu trở về.
- Em ơi, con Lu trở về.
Cửa mở toang, Lu
đi khập khiễng vào nhà. Tôi ôm Lu vào lòng và nước mắt tôi tuôn trào. Tôi khóc
vì vui mừng và khóc vì thương nó quá đỗi. Bầy con tôi xúm vào quấn quýt bên Lu.
Máu khô bê bết trên mông và đùi trái của nó. Một viên đạn ghim vào đùi sau, rất
may là không đụng xương. Tôi rửa sạch vết thương bằng rượu cồn, xoa thuốc
đỏ rồi băng kín vết thương lại.
* *
*
Từ năm 1986 chính
sách đổi mới, thị trấn quê tôi bắt đầu có sinh khí trở lại. Chẳng bao
lâu sau, nơi đây buôn bán sầm uất. Cửa hàng tư nhân được mở ra tranh
đua cùng với cửa hàng quốc doanh. Ðời sống có phần dễ thở hơn.
Sau trận chiến biên giới Việt Trung năm 1979, Dương Thái Lân và cả đơn vị công binh được điều động đến vùng thượng du Bắc Việt. Vì thế con Lu sống thoải mái với chúng tôi không còn lo lắng gì nữa.
Ðến tháng 7 năm 1991,
gia đình tôi lên đường đi Mỹ theo diện tỵ nạn HO8. Con Lu cũng vừa
tròn 18 tuổi. Nó đã quá già chỉlẩn quẩn trong nhà. Nhưng khi có khách đến là nó
vẫn không quên chạy vào gầm giường.
Ngày gia đình tôi vào
Sài Gòn để lên máy bay, tôi cho Lu theo đến ga xe lửa cùng với bà con đưa
tiễn. Khi còi tàu hụ từ xa, Lu đứng dậy sủa vang cả khu vực nhà
ga. Trước khi lên tàu, mỗi người trong gia đình chúng tôi đều thay nhau ôm Lu
vào lòng, rưng rưng, lưu luyến.
Khi tiếng còi báo hiệu
tàu chuyển bánh, con Lu nhìn đòan tàu rồi tru lên một tràng dài. Ðây là tiếng
tru lần đầu tiên trong cuộc đời 18 năm của nó. Tôi rùng mình. Tiếng tru thật áo
não tưởng chừng như lời trối trăng vĩnh biệt của Lu nhắn gởi.
Khi qua Mỹ rồi,
chúng tôi được thư nhà cho biết, con Lu không chịu về nhà nữa. Nó lẩn
quẩn ở khu vực nhà ga cho đến một ngày vào mùa Ðông rét buốt, Lu nằm
chết bên cạnh đường ray xe lửa, nơi mà chúng tôi đã ôm hôn nó trước khi bước
lên tàu.
Hay tin Lu chết, con
tôi ôm nhau khóc. Nước mắt chảy ròng ròng như khóc thương một người thân
đã ra đi vĩnh viễn. Riêng tôi thầm nghĩ: “Cũng may là nó đã quá già yếu, thân
chỉ còn da bọc xương nên được chết toàn thây. Dù muốn dù không nhân viên
nhà ga cũng phải chôn xác Lu ở một nơi nào đó trong lòng đất. Ðất mãi
mãi ấp ủ thân xác nó và ngàn vạn năm sau biết đâu
bộ xương của Lu sẽ hóa thạch tồn tại mãi trên mảnh đất Việt Nam.”
Tôi khóc âm thầm trong
đêm như khóc cho đứa con của tôi còn để lại quê nhà nay không còn
nữa. Suốt mấy đêm liền tôi nghĩ về Lu như nghĩ về một con người
quả cảm và thủy chung./
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Nguồn: Email
Subscribe to:
Posts (Atom)