Phóng Sự
Điều
Tra Về
Thuốc
Tây: Bán Bệnh
Bs Nguyễn Thượng Chánh
“From
2001 to 2013, total pharmaceutical sales in Canada have almost doubled to $21.6
billion, with 89 percent sold to retail drug stores and 11 percent sold to
hospitals. Governments account for 42 percent of drug expenditures and private payers
the remaining 58 percent (private coverage and individuals).”
* * *
Các nhà bào chế cố tình “tạo ra” ra một bệnh lý (pathologie) phù hợp với phân tử (molécule) mà họ vừa tìm ra được mặc dù đôi khi món thuốc mới nầy có những phản ứng phụ không thể tránh khỏi được.
Ròng rã trong thời
gian 6 tháng, nhóm Cash Investigation đã điều tra về lề lối làm ăn
của một số nhà tài
phiệt lớn trong ngành dược
phẩm và họ đã phải giật mình trước
những điều khám phá ra: “Từ 15 năm
qua, các nhà bào chế lớn đã tạo (façonner)
ra nhiều bệnh mới để bán thêm được
nhiều thuốc”.
Bệnh lý
giả tạo, hội chứng tưởng
tượng…Lề lối làm ăn
vô lương
tâm kiểu nầy có hại vô cùng
cho sức khoẻ bệnh nhân.
Thuốc mới chứa đầy phản ứng phụ nguy hiểm mà nhà sản xuất cố tình
lờ đi.
Đây là một
cuộc điều tra vô
tiền
khoáng hậu
của
các nhà báo Pháp. Họ đã dám
vuốt
râu hùm để tìm
sự
thật
và gom góp chứng cớ tại Pháp
cũng như tại nhiều quốc gia khác
chẳng
hạn
như
Hoa Kỳ và Canada.
Từ 15 năm qua, các nhà bào chế tạo ra bệnh nhằm mục đích
để bán thuốc.
(Phỏng dịch từ: Psychologies.com/seniors/ les
vendeurs de maladies)
http://forum.psychologies.com/psychologiescom/Seniors/vendeurs-maladie-sujet_3972_1.htm
Các bệnh mới không ngớt ra đời, lấy thí dụ như “Hội chứng biến dưỡng”
(Syndrome métabolique) hay còn gọi lại Hội chứng thùng
nước
lèo hay bụng bự (Syndrome de la bédaine).Công
ty dược
phẩm Sanofi (Pháp)
tuyên bố rầm rộ về sự ra đời của một món thuốc mới: Acomplia (Ribonabant) và tung ra một chiến dịch nhồi sọ quảng cáo
trên khấp thế giới. Ngày
nay, nhiều
nhà chuyên môn trong y khoa quả quyết
rằng
tất
cả đều trên
là bịa đặt, sai bét
hết.
Hội
chứng
biến
dưỡng thật sự ra không
có. Nhưng đó là bốn loại bệnh đã được
biết từ trước
rồi: áp
huyết
cao, cholesterol, tiểu đường, và dư cân
(hypertension, cholesterol, diabète
et surpoids) kết hợp lại chung với nhau trong một bao bì mới (nouvel emballage) hay nói
một cách
khác là bình cũ nhưng rượu mới. (fait du neuf avec du
vieux).
Thuốc Acomplia cho
thấy đã gây
phản ứng phụ cho trên
1000 bệnh nhân
tại Pháp
(xáo trộn tâm
thần nặng, troubles psychiatriques graves). Có
10 người
chết trong số nầy có 4
người
tự tử…
Một năm
rưởi
sau ngày có mặt trên
thị trường, Acomplia bị cấm bán
tại
Pháp và sau đó thuốc
cũng bị cấm trên
cả
thế
giới.
Hơn nữa, qua thí nghiệm lâm
sàng trước
khi thuốc được phép bán,công ty Sanofi hơn
ai hết đã
biết rất rõ tầm quan trọng của các
phản ứng phụ…
Cơ quan quản lý dược
phẩm Liên Âu (Agence
européenne du médicament) đã quyết định cho phép bán Acomplia sau khi họ cân nhắc “
lợi
nhiều
nhiều
hơn
hại” (bénéfice
supérieur au risque).
Thiên phóng sự đã
cho chúng ta thấy
có mối liên
hệ tài
chánh giữa cty Sanofi và một số bác
sĩ specialists “chuyên
môn” về “bệnh” đó.(chẳng hạn như Gs Després tại Canada hay Bs Boris Hansel tại Pháp.)
Riêng tại
Pháp, có thể nói
rằng
90% dân chúng rất
tính nhiệm
bác sĩ gia đình của
họ.
Nhưng
sau những
scandales về
thuốc
men lòng tính nhiệm
của
người
bệnh
đối
với bác
sĩ cũng bị sứt mẻ đi
rất
nhiều.
Được
biết là các
nhà bào chế
chi 25 000 euros/ mỗi năm/cho
mỗi
bác sĩ để tạo ảnh hưởng
tốt đẹp cho sản phẩm mới. (rapport IGAS, inspections générales
des affaires sociales).
Để nhắm vào một thị trường
càng rộng lớn càng tốt, các
nhà bào chế quảng cáo khuyến mãi
những loại bệnh mà hầu như ai cũng
có thể mắc phải hết. Họ thu lợi rất nhiều qua việc sản xuất những món thuốc để trị những căn bệnh phổ thông hơn là sản xuất thuốc dể chữa trị những bệnh hiếm thấy hơn mà ít người mắc phải.
Nói chung, đó là những bệnh không rõ ràng thường
hay thấy xãy
ra ở những người
bình thường.
Cuối cùng
nhà bào chế thành
công trong việc làm
cho một số lớn quần chúng tin là họ đang mắc phải bệnh đó. Thị trường dược
phẩm nở rộng ra. Đôi
khi họ tạo ra những “bệnh dỏm”, đôi
khi họ
cho mở rộng thêm
chu vi của
căn bệnh.
Bằng cách
nào? Nhà bào chế cho hạ ngạch số định bệnh (baisse le seuil de
diagnostic) để có thể trị được
một số lớn bệnh nhân, càng nhiều, càng lâu, càng tốt.
Một khảo cứu Hoa Kỳ
cho biết chỉ cần thay đổi dấu chấm, hay thay đổi cái
dấu phết trên ngạch số của một bệnh là sẽ có thêm được
một số lượng
lớn bệnh nhân mới.($$$$).
Bênh tiểu đường type II.
Ngày xưa được xác định là đường huyết phải trên mức 140mg/dL.
Năm 1997, ngạch mức trên bị Cơ quan y tế thế giới OMS rút
xuống
còn 126 mg/dL (7mmol/L)…
Lập tức có thêm 1 700 000 người
Mỹ được xếp vào
danh sách bệnh nhân
tiểu đường (suốt đời!)
Cholestérol.
Năm 1998.ngạch mức từ
240mg/dL bị rút
xuống
còn 200mg/dL.
Lâp tức xã hội Hoa Kỳ có thêm 42 600 000 bệnh
nhân có cholesterol cao trong máu…
Các nhà bào chế có
thêm được
86% khách hàng mới.
“Trên thế giới, chỉ có
hai nhóm người:
nhóm người đã bệnh rồi và
nhóm người
chưa biết họ bệnh.”
Đó là mục tiêu
của các
nhà bào chế dược phẩm.
«Dans le monde, il ny a plus que 2 groupes de gens: ceux qui sont
malades… et ceux qui ne le savent pas encore… et ça, cest lobjectif des firmes
pharmaceutiques.»
Những chiến lược
thường
được
các công ty bào chế áp dụng
1 - Cho giảm
ngạch
số định bệnh (réduire
le seul de diagnostic):
Đây là chiến lược nhằm thổi phồng lên
một cách
giả tạo số bệnh nhân cần phải được điều trị.
Lấy thí dụ bệnh tiểu đường
type 2.
Như vậy số người cần phải uống thuốc gia tăng thêm lên mặc dù
nguy cơ tiểu đưởng
rất ư là thấp.
Nay họ lại phải bị bắt buộc chịu đựng thêm nguy cơ phản ứng phụ từ những loại thuốc uống vào.
Réduire le seuil de diagnostic: il sagit dune stratégie destinée à
gonfler artificiellement le nombre de gens à traiter. On peut prendre par
exemple le cas du diabète de type 2. Bien que garder un niveau faible de
glucose dans le sang na pas de réel impact pour la majorité des patients, le
seuil de glucose à partir duquel le diabète est diagnostiqué ne cesse de
baisser. Ainsi, le nombre de gens médiqués augmente, et les personnes avec un
risque diabétique très faible sont soumis aux risques dus aux effets
secondaires des médicaments quon leur fait prendre
2 - Phóng đại sự
hiệu
nghiệm
(Exagérer lefficacité);
tạo cho bệnh nhân ấn tượng thuốc có
hiệu nghiệm rất lớn nhằm thống lĩnh thêm thị trường. Theo các nhà chuyên môn, chiến lược nầy rất thường
được áp
dụng nhưng cũng chỉ là để hổ trợ cho những chiến lược
khác mà thôi.
Exagérer lefficacité: de la même façon, faire croire à une plus
grande efficacité permet de conquérir de nouveaux marché. Daprès les auteurs,
cette stratégie est fréquente mais nest quun complément aux autres stratégies.
3 - Tạo
ra những
bệnh
mới
(créer de nouvelle maladie):
Có gì hay hơn là tạo nên được
một thị trường
mới. Người ta chứng kiến sự ra đời của những bệnh lý mới, chẳng hạn như tiền tiểu đường (Pre-diabète)
và tiền
cao máu (Pré-hypertension)
Đồng thời với việc giảm ngạch mức định bệnh,( baisser seuil de
diagnostic) hoặc áp
dụng những sự thay thế (utilisation de substituts). Người ta có
thể
nghĩ đến
chứng
ostéopénie nghĩa
là những
xương
có mật độ thấp (faible densité)
nhưng
chưa đủ để phải bị liệt vào
trường
bệnh
loãng xương
ostéoporose.
Ngày nay, ostéopénie được công tuy dược
phẩm nhồi vào đầu bệnh nhân và nó trở thành
một bệnh mới và
chiếm một số bệnh nhân nhiều hơn là số bệnh nhân của bệnh loãng xương
ostéoporose thật sự gấp bội. Nhà bào chế tha hồ mà bán ra thuốc Fosamax(bisphosphonate)
là thuốc đặc trị do bs kê
toa trong trường
hợp các
bà bị loãng
xương.
“Laccueil réservé à la ménopause, somme toute normale, en dit long
lui aussi sur lamplitude du désastre. Comme le racontait, en 2005, Jưrg Blech, journaliste
scientifique au "Spiegel", dans son livre d'enquête "les
Inventeurs de maladies" (Actes Sud), les fabricants sont parvenus à ancrer
dans les esprits que lostéoporose (dont la définition ne cesse de sétendre avec
lostéopénie ) est une fatalité”.
Được
biết thuốc bisphosphonate mặc
dù có hiệu quả trong việc giảm thiểu bệnh loãng xương
nhưng thuốc có thể có
phản ứng phụ làm
osteonecrosis hư mục xương
hàm (osteonecrosis), nhưng cũng rất hiếm thấy.
Créer de nouvelles maladies: quoi de mieux quun nouveau marché? On
a ainsi pu assister à la création de nouvelles pathologies, comme le
pré-diabète et la pré-hypertension (en conjonction donc avec la baisse des
seuils de diagnostic ou lutilisation de substituts). On peut aussi penser à
lostéopénie, qui correspond à des os de faible densité, mais dune densité
suffisante pour ne pas être un cas dostéoporose. Cette “maladie” touche
beaucoup plus de personnes que lostéoporose, et permet donc de vendre plus de bisphosphonates.
BỆNH
HOẠN,
MỘT
THỊ
TRƯỜNG
BÉO BỞ
Rf Anne Crignon –Le Nouvel Observateur -La maladie, un marché
juteux
Messages sanitaires mensongers
Laccueil réservé à la ménopause, somme toute normale, en dit long
lui aussi sur lamplitude du désastre. Comme le racontait, en 2005, Jưrg Blech, journaliste
scientifique au "Spiegel", dans son livre d'enquête "les
Inventeurs de maladies" (Actes Sud), les fabricants sont parvenus à ancrer
dans les esprits que lostéoporose (dont la définition ne cesse de sétendre avec
lostéopénie ) est une fatalité. Message sanitaire mensonger, conçu pour faire
peur. Car cest par la peur que les firmes gagnent les vastes marchés de la
prévention et ses milliards de dollars et deuros. Plus le mensonge est énorme
et moins il se voit.
Depuis quon a abaissé la valeur de référence en matière de cholestérol, on est
passé de 13 millions de patients traités à vie à 36 millions. Combien de bien
portants ainsi capturés sur la base dune étude biaisée ? John Abramson,
médecin et auteur d"Amérique sous overdose", raconte comment
lindustrie pharmaceutique a focalisé toute la prévention des troubles
cardio-vasculaires sur labaissement du taux de cholestérol par les statines
alors que la recherche montre que la meilleure prévention relève bien plus
simplement de lexercice physique et de lalimentation.
Dịch từ báo Nouvel Observateur:
Thông tin y học
láo khoét
Năm 2005, phóng viên khoa học Jorg Blech của
báo Spiegel (Đức Quốc) trong tác phẩm điều tra của ông
dưới
tựa đề là “ Những người sáng chế ra bệnh” cho biết các
nhà bào chế đã
thành công trong việt nhồi sọ dân
chúng ý niệm loãng
xương
ostéoporose (mà định nghĩa
của nó
không ngừng được mở rộng thêm ra với hiện tượng
thiếu xương ostéopénie) là một định mệnh (fatalité).
Chính sự sợ hãi của dân chúng
đã giúp các xí nghiệp dược phẩm thống trị được một thị trường
to tát về việc phòng ngừa loãng xương và nhờ đó mà họ thu được
hằng tỷ dollars và euros. Láo khoét càng to tát chừng nào
thì khó phát hiện chừng đó.
Từ lúc
ngạch mức chẩn đoán
cholesterol được
người
ta cố tình
hạ xuống thì số bệnh nhân lúc trước
là 6 triệu người phải uống thuốc suốt đời, nay thì tăng
lên 36 triệu người. Như vậy có biết bao là
những người có sức khỏe bình thường
nay thì trở thành
nạn nhân
của một khảo cứu thiên vị (biasé)
và bắt buộc họ phải uống thuốc hết. John Abramson, là bác
sĩ và tác giả của quyển:
Overdosed America - John Abramson M.D.- the Dove.us
Theo Bs John Abramson, kỹ nghê dược phẩm tập trung việc phòng
ngừa
bệnh
tim mạch
qua việc
làm hạ cholestérol
bằng
thuốc statines
trong khi các khảo cứu minh chứng là
việc
phòng ngừa bệnh tim mạch tốt nhứt là
thực
phẩm
dinh dưỡng
và vận động thể dục thể thao.
Đọc cho biết tin mới nhứt: Bệnh tự kỷ không phải do thuốc chủng MMR gây ra.
Năm 1998 tạp chí y học nổi tiếng thế giới Lancet có đăng
bài “đính
chánh” (a now retracted study) khảo cứu của Gs Andrew Wakefield liên hệ đến nguyên nhân bệnh của bệnh tự kỷ (autism) liên quan đến thuốc chủng ngừa MMR (measles, mump, rubella)
tức là sởi, quai bị và sởi Đức. Bs
Wakefield bị
treo bằng
sau đó.
Vừa
qua, July 1, 2014, tập chí y
khoa Pediatrics cho biết nhiều khảo cứu liên
quan đến “Sự liên
hệ của vaccine MMR và bệnh tự kỷ” đã đưa ra kết luận là Vaccin MMR
không có gậy ra “ hội chứng phổ tự kỷ”
(autism spectrum disorders).
Video: Journal questions validity of autism and vaccine study-By
Debra Goldschmidt, CNN august 28/2014
http://www.cnn.com/2014/08/27/health/irpt-cdc-autism-vaccine-study/index.html?hpt=hp_c2
The debate over whether autism spectrum disorders are caused by
vaccines started when researcher Andrew Wakefield published a now-retracted
study in The Lancet in 1998 that linked the MMR vaccine to autism.
Most of Wakefield's co-authors withdrew their names from the study when they
learned Wakefield had been compensated by a law firm intending to sue
manufacturers of the vaccine in question. In 2010, Wakefield lost his medical
license. And in 2011, The Lancet retracted the study after an investigation
found Wakefield altered or misrepresented information on the 12 children who
were the basis for the conclusion of his study.
Other researchers have not been able to replicate Wakefield's findings. In
fact, several subsequent studiestrying to reproduce the results have found no
link between vaccines and autism, including several reviews by
the Institute of Medicine. Most recently, a study published in Pediatrics
on July 1 concluded that vaccines do not causeautism spectrum disorders.
Vaccine MMR là gì?
http://www.healthlinkbc.ca/healthfiles/bilingua/vietnamese/hfil::4Â1::-V.pdf
Đọc thêm: video:Maladies
inventées:un juteux marché
http://www.youtube.com/watch?v=3EQ2nn3Jx7o