Friday, November 3, 2023

Vài Kỷ Niệm với Ca Sĩ Duy Trác

   VÀI KỶ NIỆM VỚI CA SĨ DUY TRÁC

Hát Tù Ca Với Anh Trác Ở Trại Z30D 

 

Khoảng tháng 6 năm 1979 tôi bị giải từ Phước Long về trại Z30D Hàm Tân. Ngay ngày đầu tiên tôi đã quen với Vũ Mạnh Dũng, một sinh viên văn khoa (trước 75) bị bắt vì tội tuyên truyền phản cách mạng. Không biết Dũng hỏi ai mà biết tôi ở Phước Long thường “gầy sòng” tụ họp anh em hát tù ca nên đến thăm và bắt chuyện làm quen với tôi trước. Dũng trẻ hơn tôi mấy tuổi nhưng lanh lợi, ăn nói hoạt bát và đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp rất “văn chương”.

 

Hôm sau Dũng dẫn tôi về chỗ của mình ở một nhà khác và hai anh em “giao lưu” tù ca. Dũng đệm đàn vững và giọng hát cũng truyền cảm, dễ thương.  Trong lúc “xả hơi” Dũng cho biết ở cùng nhà có ca sĩ Duy Trác (một trong hai nam ca sĩ nổi tiếng bậc nhất của Miền Nam trước 1975) rất được bạn tù ngưỡng mộ và yêu mến vì đã sáng tác hai bản tù ca rất hay. Dũng bảo tôi sẵn sàng để sáng Chủ Nhật tới sẽ sắp xếp cho tôi gặp anh Trác ở chỗ của Dũng. 

 

Chủ Nhật ấy, đã hẹn trước nên khi tôi đến đưọc vài phút thì một “trung niên hán tử”, dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt thanh tú, hiền lành, từ đầu nhà bước lại. Đó là ca sĩ Duy Trác, người mà tôi chưa từng gặp mặt nhưng đã mến mộ từ lâu. Anh em bắt tay nhau rồi cùng leo lên tầng trên và lui hẳn vào chỗ nằm của Dũng ở trong góc.  

 

Sau vài câu thăm hỏi xã giao Dũng cầm đàn dạo nhạc và hát nho nhỏ một bản nhạc tình để “khởi động” rồi đưa đàn cho anh Trác.  

 

Anh cầm đàn rồi kể chuyện một đêm Giáng Sinh, nhìn qua khe vách, nghe tiếng chim hót trên bờ rào kẽm gai, nghĩ đến thân phận tù đày, mủi lòng viết bản nhạc có tựa đề LỜI NGUYỆN TRONG TÙ. Và anh dạo đàn rồi bắt đầu hát: 

 

Có con chim nhỏ trên hàng rào kẽm gai.

Đứng im than thở; cuộc đời còn có ai?

“Này chim có biết nơi đây sống kiếp đọa đày,

sống không ngày mai, như kiếp cỏ cây?” 

 

 

Có ngôi sao nhỏ trên bầu trời giá đêm.

Suốt đêm không ngủ thương ngục tù tối đen.

“Nhờ sao đem đến tin vui tới khắp mọi người:

Chúa đã giáng sinh cứu rỗi trần ai.” 

 

ĐK:

 

“Xin Chúa hãy vỗ về, ru no tròn giấc ngủ trẻ thơ.

Xin một giấc mơ lành cho mẹ già từ lâu mong nhớ.

Xin nguyện cầu cho vợ hiền lẻ bóng nơi xa.

Xin nguyện cầu, xin nguyện cầu cho cuộc đời vang tiếng tình ca.

 

Hãy cho tôi khóc bằng mắt Maria,

những cuộc đời khổ đau tăm tối.

Hãy cho tôi khóc bằng mắt Maria,

những cuộc tình bơ vơ tóc rối.

Xin quét hết lũ người sống hận thù, không óc, không tim.

Xin tiếng hát nụ cười cho mọi người được sống bình yên”. 

 

Anh trở lại điệp khúc một lần nữa rồi chấm dứt ở Coda: 

 

“Vinh danh Thiên Chúa! Vinh danh Thiên Chúa! A – men”

 

Tiếp theo, Dũng hát Mưa Trên Ngục Tù của Nguyễn Hưng Đạo (“cư dân” trại Z30D), tôi hát Bò Đỏ - thơ Nguyễn Văn Kỳ, Trương Văn Út phổ nhạc - thi sĩ và nhạc sĩ đều từ Phước Long. (Vì đâylà bài viết về anh Trác nên phần trình bày của 2 “nhân vật phụ” xin được “tiềm ẩn”) 

 

Xong, chúng tôi trò chuyện một lúc lâu rồi tôi trao đàn cho anh Trác. 

 

Anh Trác ôm đàn và trước khi hát, cũng kể lể chút nguồn cơn: 

 

Một hôm, chúng tôi được đưa đi đắp một con đường từ quốc lộ 1 vào trại Z30D. Đang lao động, tôi thấy một cô gái khoảng 20 tuổi, đeo ba lô đi về phía trại giam. Lúc cô gái đến gần chỗ mình tôi chào và hỏi thăm:   

 

"Sài Gòn có gì vui không em?"  

 

Cô nhỏ nhẹ trả lời: 

 

"Sài Gòn chỉ vui khi các anh về".

 

 Xúc động vì câu trả lời của cô gái tôi đã viết bản nhạc có tựa đề SÀI GÒN CHỉ VUI KHI CÁC ANH VỀRồi anh bắt đầu dạo đàn và cất tiếng hát: 

 

Tôi đã gặp em, bỡ ngỡ tình cờ

Đôi mắt ngây thơ, đến từ thành phố

Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời:

“Sài Gòn có vui? Sài Gòn có vui?” 

 

Em ngước nhìn tôi, cúi đầu nói nhỏ:

“Còn gì nữa đâu, thành phố mộng mơ

Thành phố đớn đau vẫn thường nhắn nhủ:

‘Sài Gòn chỉ vui khi các anh về’” 

 

“Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất.

Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt

Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui

những con đường tình trường xưa công viên tràn nắng mới.

Tôi sẽ về qùy bên thánh giá bao dung

Tôi sẽ nguyện cầu cho tình yêu và cuộc sống

Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê

Cám ơn Sài Gòn, tôi sẽ trở về”. 

 

Anh Trác lập lại điệp khúc một lần nữa rồi kết thúc bằng CODA. 

 

Ca từ của bản nhạc đơn giản, dễ hiểu và dễ cảm. Đơn giản nhưng vẫn đủ đẹp để chuyển tải tâm sự của tác giả. Có điều tâm sự của tác giả thì, do đối diện trực tiếp với cảnh đời, nên rất thật, và dĩ nhiên, cảm xúc cũng rất thật. Đặc biệt, sức gợi của câu ca từ (cũng là cái tựa của bản nhạc) - Sài Gòn Chi Vui Khi Các Anh Về - thật ghê gớm: 

 

Không cần tranh luận ai chính nghĩa, ai phi nghĩa, không cần những tĩnh từ, trạng từ xấu xa để mô tả thái độ, cách cư xử của những người cộng sản đối với người dân miền nam. Chỉ cần một câu ngắn gọn “Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về” là đủ. Những gì còn lại sẽ được hiểu ngầm, sẽ tự động thấm vào hồn người thưởng thức. 

 

Từ một góc nhỏ ở tầng trên của căn lán (nhà tập thể) khá lớn trong trại Z30D tiếng hát anh Trác - có tiếng đàn Ghi-ta nho nhỏ phụ họa - đã trôi thẳng vào tâm hồn hai người tù trẻ tuổi. Giọng anh Trác ấm quá, luyến láy điêu luyện quá, ca từ lại hợp cảnh hợp tình nên một số bạn tù khác đang nằm thư giãn gần đấy cũng ngồi dậy lắng nghe. Riêng tôi, nghe hết CODA: 

 

“Sài Gòn mến yêu! Người Tình dấu yêu! Tôi sẽ … trở … về”  

 

lúc giọng anh Trác vẫn còn ngân vang, đưa tay lên vuốt mặt thì không biết nước mắt đã ướt mi từ lúc nào. 

 

Anh em nói chuyện một lúc nữa thì có tiếng lao xao chuẩn bị lãnh cơm trưa (Chủ Nhật không đi lao động nên trại phát cơm trưa sớm). Anh Trác nhoài người ra cầu thang và trước khi vịn tay vào móc sắt vừa trèo vừa đu xuống tầng dưới để bước xuống nền nhà còn nói với một câu giã từ đầy hứa hẹn: 

 

Khi nào “gầy được sòng” cứ hú tôi. Cái gì chứ văn nghệ thì tôi không từ chối.” 

 

Buổi “văn nghệ bỏ túi” kế tiếp chưa thực hiện được thì tôi đã bị nhốt xà lim và sau đó bị giải về A 20 Xuân Phước. Anh Trác và Vũ Mạnh Dũng cũng có mặt trong đoàn tù này. 

 

Anh Trác Hát Ở A20 

 

Từ Z30D chuyển đến A20 được vài ngày, vào một buổi chiều se se lạnh (chúng tôi còn đang học nội quy, chưa bị đi lao động) chợt có tiếng hát nơi phòng ăn. Tôi đến nơi thì thấy Rene’ Hanh và Toàn (rỗ), cựu sĩ quan trẻ, người đàn, người hát bài "Lá Đỏ" (nhạc bộ đội Trường Sơn). Rene’ Hanh hát khá hay. Giọng ấm, phát âm rõ ràng, ăn nhịp. Bài hát chấm dứt. Một số anh em thưởng ngoạn vỗ tay. Toàn cao hứng tiếp tục với bài "Tình Đất Đỏ Miền Đông" của Trần Long Ẩn.  

 

 

Khi Toàn hát xong tôi bấm Vũ Mạnh Dũng định chiếm sân khấu làm một phùa văn nghệ “phe ta” thì đã thấy anh Trác bước tới cầm đàn. Người ca sĩ được rất nhiều người ưa thích ở miền nam, không một lời giới thiệu, dạo đàn và cất tiếng hát. Giọng anh còn rất ngọt với bài Lời Nguyện Trong Tù do chính anh sáng tác. Mọi người lắng nghe say sưa.  Bài hát vừa hết thì Toàn kéo René Hanh đi và nói khá lớn tiếng: 

 

“Mình đi thôi. Anh ấy hát nhạc không đúng chính sách”. 

 

Đụng vào chỗ nhột, những người khác cũng bỏ đi. Và âm mưu “gầy sòng” của tôi thất bại. 

 

Nhưng trong không khí “ngột ngạt, khó thở” của A20 (tên gọi khác là Trại Trừng Giới) – nơi tập trung những thành phần “cứng đầu, khó bảo” từ các trại khác dồn về - mà dám hát một bản nhạc “không đúng chính sách” như anh Trác thì nếu độ lớn của lá gan không ở mức “đáng nể” thì “cơn hứng của nghệ sĩ” cũng cao ngất để có thể phủ mờ nỗi lo lắng, sợ sệt của lý trí. 

 

Dù ở vào trường hợp nào đi nữa đám tù trẻ chúng tôi đều nhìn anh với đôi mắt kính trọng và cảm phục 

 

Nhân Cách Của Một Nghệ Sĩ  

 

Ở A20 vào thời điểm đó, có chân trong đội văn nghệ, cơ hội sống sót để trở về với gia đình – so với các anh em khác (trừ đội nhà bếp) – có thể nói là cao hơn rất nhiều. Ở các đội khác mọi người phải dầm mưa dãi nắng, cuốc đất, gieo trồng, khuân vác nặng nhọc suốt 8 tiếng mỗi ngày, ăn uống thiếu thốn, kham khổ, thân xác héo mòn. Còn ở đội văn nghệ chỉ hát hỏng khoảng 3 tiếng trong hội trường mát mẻ rồi thì tự do đi tìm rau hoang cỏ dại, nấu canh nóng sốt để bữa ăn có thêm chất bổ dưỡng. 

 

Vì thế, nhiều người bon chen, cậy cục để có một chỗ “ngồi mát ăn bát vàng”.  

 

Là một ca sĩ nổi danh như anh Trác, làm sao tránh khỏi đôi mắt và đôi tai “tinh quái” của tay cán bộ giáo dục (tên Hanh). Nội tình việc giới thiệu, đề cử (hay bắt buộc) anh vào đội văn nghệ xảy ra như thế nào thì tôi không rõ. Nhưng anh đã vào đội văn nghệ và đã có một số ngày lên hội trường tập tành với mọi người trong đội. Điều này thì ai cũng biết. 

 

Riêng tôi, một hôm trên đường ra bãi tập họp chờ đi lao động, thấy đội văn nghệ cũng hàng lớp lên hội trường tập dợt, không nhớ ai đó đã chỉ anh Trác vừa cười vừa nói:  

 

“Nhìn ca sĩ Duy Trác kìa! Lên hội trường ca hát mà mặt thểu não cứ như là đi đưa đám ma ấy”. 

 

Tôi đưa mắt nhìn về hướng anh đi và lặng yên thông cảm. 

 

Thế rồi mấy ngày sau tôi được lệnh không đi lao động để ở nhà “làm việc” với cán bộ Tri an ninh. Chờ hơn một tiếng thì thấy anh Trác trên đường từ hội trường về nhà 3 (cùng nhà với tôi), mặt mày tươi vui và vừa đi vừa nhảy chân sáo. Đi qua chỗ tôi anh cười cười nói nhỏ:  

 

“Bị đuổi rồi. Hát sai nhịp.” 

 

Tôi phì cười. Mừng cho anh. Nhưng rồi lại ái ngại cho anh. Và sau cùng thì hết lòng nể phục anh. 

 

Với vóc người nhỏ con yếu đuối như thế, may mắn được vào chỗ mát mẻ, nhàn hạ, thỉnh thoảng được tặng thêm miếng cháy, kiếm thêm lá rau dại, cơ hội sống còn để trở về với vợ con nhiều hơn, lại vùng vằng không chịu, chấp nhận ra đội nắng, dầm mưa, chịu đói. Để được cái gì? Để khỏi phải hát những lời không hợp với lòng mình.  

 

Với tôi, dám làm điều đó, anh đã biểu lộ một nhân cách rất cao đẹp của người Nghệ Sĩ. 

 

Hai Món Quà Tết Quý Giá  

 

Sáng mồng 1 Tết năm Nhâm Tuất (1982) tôi đang ngồi nhâm nhi mấy lát khoai mì H34 thì Ngọc Đen và Hải Bầu chạy vào, mặt vô cùng phấn khích. Ngọc lên tiếng: “Ở trại giờ vắng hoe, chỉ còn 1 thằng võ trang ở tít cổng ngoài; chắc tụi nó tụ họp ăn nhậu ở khu trung tâm. Mày tính sao?” 

 

Tôi vẫn chưa hiểu ý Ngọc Đen nên hỏi lại: “Tính cái gì?”

Hải Bầu chêm vào: “Tụi tui tính nói với ông (tôi không thân với Hải nên vẫn gọi nhau là ông, xưng tôi) nhân dịp này làm một buổi văn nghệ long trời lở đất, không phải e dè gì nữa, chơi tới bến luôn”

…………….. 

 

Tôi hỏi: “Chơi ở đâu? Và bao giờ chơi?”

“Nhà 3 mình.” Ngọc Đen trả lời ngay không cần suy nghĩ.

“Tụi tao tính một tiếng nữa sẽ bắt đầu. Làm sao phải xong trước giờ lãnh cơm trưa.” 

 

Như vậy tôi chỉ có một tiếng đồng hồ để soạn một chương trình văn nghệ “tới bến”. Nhưng là tay chuyên “gầy sòng” ở các trại cũ nên tôi cũng không nao núng. Những tiết mục khác của chương trình thì đã có sẵn trong đầu. Tuy nhiên, nghĩ đến 2 bản nhạc của anh Trác thì chợt nhớ ra là  “Người đã về rồi” nên tôi hơi bối rối.  

 

Trong trại có Vũ Trọng Khải và Hải Bầu hát 2 bài này “có nét” nhất. Anh Khải giọng ấm hơn nên tôi đã nghiêng về phía ông Đại Úy cảnh sát. Hơn nữa, Hải Bầu đã rất nhuyễn bản Tình Yêu Từ Thung Lũng Khổ Sai của Trần Đức Long nên tôi cũng đỡ áy náy khi dành cả 2 bản nhạc của anh Trác cho Vũ Trọng Khải. Vả lại thời gian gấp rút quá nên tôi đã tự quyết định chứ không bàn bạc với anh em.

(Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20) http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=21513       

 

Rất may, trong 5 buổi văn nghệ của 3 ngày Tết năm đó – sau này được anh em truyền tụng là Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20 - Vũ Trọng Khải đã thể hiện rất thành công tâm tình của anh Trác trong Lời Nguyện Trong Tù và Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về. 

 

Có người đã phát biểu “AnhTrác về mà còn để lại cho anh em hai món quà Tết thật quý giá” (Xin đọc Vũ Trọng Khải thể hiện hai bản nhạc của anh Trác theo link đã dẫn ở phần trên). 

 

Buổi Văn Nghệ Dở Dang 

 

Trong lúc chạy hàng cho bà chị họ con ông bác ở quận 8, bán vải ở chợ An Đông tôi có quen một chị cũng có sạp vải (rất khá giả), thích văn nghệ và cũng mê giọng ca Duy Trác. Nghe tôi kể về tính nghệ sĩ của anh, chị nhờ tôi mời anh về nhà để làm một chầu văn nghệ bỏ túi. Tôi đề nghị thì anh vui vẻ nhận lời ngay.  

 

Anh bảo tôi: “Ông chuẩn bị sẵn cây đàn. Tôi hát, còn ông vừa hát vừa đọc thơ là có thể ‘bao dàn’ một chương trình kha khá”. 

 

Thế là vào tối Thứ Bảy trong tuần lễ đầu tháng 3 năm 1984 tôi với anh mỗi người một chiếc xe đạp từ cuối đường Lý Thái Tổ (Ngã 7 Cộng Hòa) nhắm hướng Cầu Chữ Y thẳng tiến.  

 

Đến nơi, tôi và anh Trác được chị tiếp đón vui vẻ và đưa lên một căn phòng rộng ở trên lầu. Cây đàn Ghi-ta đã để sẵn cạnh chiếc ghế ở vị trí trung tâm. Chỉ vài phút sau là khán giả bước vào tấp nập. Vì lý do an ninh nên không có màn giới thiệu “nghệ sĩ trình diễn” và cũng không có MC dẫn chương trình.  

 

Khán giả vào chỗ ngồi thì anh Trác dạo đàn để không khí thêm chút tươi vui. Khi mọi người yên vị thì anh cất tiếng hát. Bản nhạc MỜI TÔI BẠN NHÉ sẽ làm nóng chương trình. 

 

MỜI TÔI BẠN NHÉ 

 

Này bạn mời tôi ca tôi sẽ ca ngay

Dù giọng khàn môi khô tôi hát say sưa

Này bạn bảo tôi vui tôi sẽ vui liền

Dù buồn phiền quanh đây bao nhiêu năm tháng 

 

Này bạn mời đi xa đã thấy mê tơi

Vì từ nhiều năm qua vẫn cứ loay hoay

Lòng cầu được bình yên sao vẫn rối bời

Giờ ngồi thuyền ra khơi“sướng như Thiên Đàng”. 

 

ĐK: 

 

Niềm vui ở đây đâu chỉ riêng tôi

Mà là niềm vui tất cả mọi người

Niềm đau ở đây đâu phải riêng ai

Mà là niềm đau khắp cả mọi miền. 

 

Này bạn bảo tôi điên tôi thấy vui vui

Vì cuộc đời quanh đây ai đã không điên

Nhiều chuyện kể vui tai nghe rất đau lòng

Chuyện kẻ ở người đi nghe sao không chán 

 

(Tôi quên mất một phiên khúc) 

 

Được nghe một ca sĩ lừng danh hát bản nhạc vừa vui nhộn vừa có chút “nỗi niềm riêng tư” hợp với lòng mình nên khán giả ai cũng mặt mày rạng rỡ, phấn khích. Thấy vậy, anh Trác hát lại cả bài và kết thúc ở Điệp Khúc (Đoạn màu xanh).  

 

Khán giả vỗ tay rất nồng nhiệt. Có người còn la to “Hết sẩy”, “Quá độc”. Tôi vội đưa ngón tay lên miệng và thì thầm hai tiếng “Nho nhỏ”. 

 

Có thêm vài khách nữa mới đến nên mọi người chen nhau ngồi lấn lên phía trước để gần ca sĩ hơn. Không khí thật vui nhộn, hào hứng.  

 

Anh Trác liếc nhìn tôi có ý dò hỏi. Tôi nhẹ nhàng hất hàm nhép miệng (nói thầm không ra tiếng): “Anh hát tiếp đi”. 

 

Chờ cho những lời ngợi khen, bàn tán của khán giả lắng dịu anh dạo đàn và hát bài Ở LẠI

 

Ở lại để thấy người ra đi rất nhiều

Ở lại để nghe những hận hờn vọng mãi đêm thâu

Ở lại để thấy những đổi thay trên nét mặt người

Ôi nếp nhăn nào tựa vết roi 

 

Ở lại để thấy đường đi không lối về

……………..

(Phần còn lại của bài hát tôi đã quên) 

 

Bài hát nói đến hoàn cảnh xã hội thay đổi (theo hướng xấu) mà người dân miền nam – không vượt biên được,  phải ở lại - đang căng mình chịu đựng.  

 

Khán giả lại vỗ tay vang dội. Anh đưa mắt nhìn tôi rồi định chuyển đàn Ghi-ta qua nhưng tôi xua tay từ chối. Bởi “tranh tài với anh trong lời ca tiếng hát” lúc ấy thì chỉ có thua thiệt. Tôi chọn lối chơi khác - sử dụng “chiêu độc” của mình là đọc thơ.

 

Và tôi hắng giọng rồi nói với mọi người là sẽ đọc một bài thơ tình: SÀI GÒN MỘT CHIỀU EM LỖI HẸN 

 

Bài thơ này là “hậu quả” của một hiểu lầm. Tôi với Nàng hẹn nhau ở công viên Tao Đàn nhưng tôi lại đãng trí ra quán nước quen ở gần chợ Bến Thành ngồi chờ. Dĩ nhiên, Nàng không đến. Không gặp “người thương” nên buồn bã nổi hứng viết mấy vần thơ trách móc.  

 

Nhưng trong cái không khí của buổi văn nghệ hôm ấy khán giả có ý chỉ mong “tiết mục phụ” của tôi chóng qua để được tiếp tục nghe anh Trác hát nên tôi “biết thân, biết phận” bỏ cái phần “giải thích dài dòng” (chữ xanh) đó để đi thẳng vào bài thơ.  

 

SÀI GÒN MỘT CHIỀU EM LỖI HẸN 

 

Sao em nỡ tiếc anh

một chiều hò hẹn

khi chúng mình đã nguyện

cho nhau hết cả những ngày xuân? 

 

Trời chiều nay trong xanh

lang thang ngoài phố

anh nghe lòng mình

ngập tràn thương nhớ 

 

Đây quán nước hôm nào hai đứa

ngồi bên nhau

nhìn ly kem óng ánh mấy màu

sao em nói “Em yêu chỉ mình anh thôi” nhỉ?

Gió thổi tóc anh bay nhè nhẹ

như chiều nào đứng đợi trước công viên

Ồ kia rồi! Vóc dáng thân quen

em như nàng tiên

mỗi lần đến mang một niềm vui mới 

 

Còn nhớ không?

Có lần anh lấn tới

cũng một buổi chiều em vẽ một lằn ranh

“Đây là biên giới!

Đừng bao giờ vượt quá nghe anh” 

 

Đường chiều dập dìu áo đỏ áo xanh

chẳng áo nào đẹp bằng chiếc áo em thường mặc

hàng nghìn khuôn mặt

chẳng ai duyên dáng bằng người anh yêu 

 

Tình đôi ta đẹp quá những buổi chiều

dù trời mưa hay nắng

cả Sài Gòn chiều nay im vắng

chỉ vì bên anh

thiếu buớc chân em. 

 

Cũng may, bài thơ tình tứ ướt át nên cũng được khá nhiều tiếng vỗ tay tán thưởng. Tuy nhiên, ngay sau đó mọi ánh mắt của khán giả đều đổ dồn về phía anh Trác. Anh mỉm cười cầm đàn dạo nhạc và hát bản ÁO DÀI.           

 

              ÁO DÀI 

 

Ngày nào mới mặc áo dài

Tay em run quá chẳng cài nổi khuy

Chuyện giờ kể có khác đi

Run run anh cởi hết khuy em cài 

 

Ngày nào mới thở hương người

Em say ngây ngất rụng rời ngón tay

Chuyện giờ kể có khác đi

Tay em buông thõng mỗi khi nhớ người 

 

Ngày nào anh cũng làm thơ

Dù em là chiếc gương mờ đã lâu

Trước khi đi ngủ, chải đầu

Ðể trong giấc mộng gặp nhau đàng hoàng 

 

Ngày nào mắt ngọc xanh tình

Ðêm khuya anh nhớ dịu hiền mắt em

Chuyện giờ kể có khác đi

Mi xanh mắt ngọc bút chì tô quanh 

 

Ngày nào mới mặc áo dài

Trông gương soi bóng tự cài lấy khuy

Chuyện giờ kể có khác đi

Không đem bán áo lấy gì nuôi nhau 

 

Hai câu cuối của bản nhạc còn có chút “hoàn cảnh xã hội”. Vào thời điểm đó cuộc sống của dân miền nam thiếu thốn, cơ cực quá nên bàn ghế tủ giường, tivi radio máy hát - tất tật mọi thứ - kể cả sách quý hiếm, quần áo đẹp (kỷ niệm) đều bị lôi ra bán để kiếm chút bỏ bụng cho đỡ đói. Có lẽ lâu lắm mới được nghe những lời hát vừa đậm chất tình, vừa dễ thương, vừa đúng với cảnh đời (chứ không phải toàn những lời tuyên truyền) nên khán giả sướng quá, đồng loạt vỗ tay thật lớn, thật dài. 

 

Khi tiếng vỗ tay nhỏ dần thì có một giọng Bắc dõng dạc cất lên:  

 

“Anh hát như thế là ngầm nói xấu chế độ đấy. Hát hỏng kiểu ấy ở nhà tôi là không được đâu.”  

 

Chị chủ nhà mặt biến sắc vội chạy lại vừa kéo tay ông lão vào phía trong vừa vẫy tay ra hiệu cho mọi người giải tán. Tôi và anh Trác được mọi người nhường đường rút lui trước. Hai anh em hai chiếc xe đạp vù qua Cầu Chữ Y rồi vừa cười vừa sóng đôi đạp về nhà anh Trác ở Ngã Bảy. 

 

Sau này mới biết ông lão là bố của chị chủ nhà. Chị biết thái độ, lập trường của bố mình đối với những lời nhạc kiểu này nên đã cho người chở ông xuống bà cô ở khu Chợ Bàn Cờ để giúp họp bàn tổ chức đám hỏi cho cháu gái (con bà cô) vào tháng sau. Không hiểu sao ông không chờ con đến đón mà đi xe ôm về sớm, làm bể chương trình văn nghệ đang hấp dẫn.  

 

Hôm sau gặp ở chợ An Đông, chị xin lỗi tôi và nhờ chuyển lời xin lỗi đến anh Trác. 

 

Sự kiện này làm tôi nhớ đến “câu giã từ đầy hứa hẹn” của anh sau khi cùng hát tù ca với tôi và Vũ Mạnh Dũng ở Z30D năm nào: 

 

Khi nào “gầy được sòng” cứ hú tôi. Cái gì chứ văn nghệ thì tôi không từ chối. 

 

Quả đúng như vậy. Với văn nghệ thì anh đã “rất chịu chơi” chứ không từ chối. Không những chỉ “rất chịu chơi” mà còn có khả năng “chơi rất đẹp” nữa. 

 

Một Buổi Đọc Thơ Đặc Biệt 

 

Một hôm có việc cần gặp anh Phạm Chí Thành (cũng là bạn anh Trác, ở ngã tư Hồng Thập Tự - Lê Văn Duyệt) mà không thấy anh ở nhà tôi bèn đạp xe thẳng ra nhà anh Trác ở gần đấy tìm anh. Không thấy anh Thành nhưng anh Trác đã đon đả mời tôi vào nhà. 

 

“Sao? Chiều Thứ Bảy tuần này có bận gì không? Tôi định rủ ông đến nhà anh Sỹ chơi. Có cả Nguyễn Hữu Nhật ở đấy. Hai thi sĩ tha hồ mà đọc thơ”. 

 

Anh đã bóng gió nói chuyện này với tôi từ lâu nhưng có lẽ tuần này mới tiện dịp. Tôi trả lời: 

 

“Hôm ấy định ra Chợ Lớn nhận ít hàng cho bà chị, nhưng không gấp. Có chuyện vui chơi thì để hôm sau cũng đưọc”. 

 

Tôi đến nhà anh Trác khoảng1 giờ trưa Thứ Bảy. Thư thả uống trà một lúc rồi hai anh em hai chiếc xe đạp ra đường Cộng Hòa (Nguyễn Văn Cừ), qua Đại Học Khoa Học một đoạn rồi rẽ phải. Nhà anh Sỹ ở trong một con hẻm rộng trên đường này, đường An Dương Vương. 

 

Đến nơi, một người đứng tuổi, dáng vẻ trí thức, mặt phúc hậu, ra cửa đón vào. Trong nhà đã có một người nữa đứng cạnh bàn. Anh Trác lịch thiệp giới thiệu và mọi người vui vẻ bắt tay nhau. Người đứng tuổi là nhà văn Doãn Quốc Sỹ (sinh năm 1923), người kia trẻ hơn là nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật (1942), chồng nhà văn Nguyễn Thị Vinh (em gái Nguyễn Tường Tam và là thành viên trẻ tuổi nhất của Tự Lực Văn Đoàn). Bên cạnh anh Trác (1936), tôi trẻ nhất (1952) – năm đó mới 32 cái xuân xanh. Anh Sỹ mời mọi người ngồi và rót trà tiếp đãi rất lịch sự. Sau vài phút thăm hỏi xã giao là phần diễn đọc thơ. Anh Nhật được coi là người nhà (thơ của anh đã rất quen thuộc với nhóm văn nghệ sĩ quen biết anh Sỹ) nên anh Sỹ mời anh mở đầu chương trình.  Anh Nhật nhắp một hớp trà rồi bắt đầu đọc bài thơ HOA CÚC VÀNG      

 

            HOA CÚC VÀNG 

 

Chỗ anh đứng chờ em ra

Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng

Mỗi lần có dịp đi ngang

Nhớ em anh tưởng áo vàng lụa bay 

 

Nghĩ  hoài sống mũi cay cay

Mấy năm chẳng được một ngày gần nhau

Hạnh phúc thường hay qua mau

Vắng nhau thì thấy ở đâu cũng buồn 

 

Tự dưng thương ghế thương bàn

Nơi em đã để cho làn hương rơi

Anh muốn kêu lên em ơi

Nhớ gì nhớ đến chết người như không 

 

Tay vò hoa cúc nát lòng

Vàng phai hay ý chờ mong nhạt dần.

 

(Bài thơ này đã được anh Đinh Văn Trang phổ nhạc tại trại Thanh Cẩm vào năm 1979) (1) 

 

Đây là tâm tình của anh trong những tháng năm cải tạo xa cách vợ hiền. Anh Trác đã kể tôi nghe về chuyện tình của anh Nhật với chị Vinh - chị hơn anh 18 tuổi. Ở thời điểm ấy – Nàng ra đời trước Chàng từng ấy năm - kể cũng hơi khác thường. 

 

Nhưng phải công nhận tình yêu và nỗi nhớ thương của anh với người tình đậm đà, sâu sắc, lãng mạn và rất Thơ – nghe rất khoái. Chờ một lát cho chất tình, chất lãng mạn, chất Thơ thấm vào hồn khán giả, anh Nhật nhắp một hớp trà nữa rồi đọc tiếp 4 câu thơ: 

 

Một ngày không thấy mặt nhau

Đã như phát ốm phát đau một ngày

Xa nhau đã mấy năm nay

Mình không bỏ mạng là may lắm rồi 

 

Như đã nói ở trên, chị hơn anh 18 tuổi nên nghe đoạn thơ rất sâu sắc, đậm tính lãng mạn đó, anh Sỹ, anh Trác và cả tôi đều cười thích thú.  

 

Đến đây anh Sỹ nhìn tôi thân thiện nói: 

 

Nghe anh Trác kể thơ anh Nhì được anh em trong trại cải tạo rất ưa thích. Nhân dịp này cho chúng tôi nghe vài bài nhé. 

 

Tôi cũng cầm ly nhấp một hớp trà thấm giọng rồi tự giới thiệu và đọc bài thơ HẸN MỘT NGÀY MAI. Tôi viết bài này ở phân trại E năm 1981, lúc mới bước qua tuổi 30.   

 

HẸN MỘT NGÀY MAI 

 

Ai chẳng muốn có một mái nhà êm ấm

khi đã bước qua tuổi ba mươi

một cô vợ hiền lành duyên dáng

một hai đứa con kháu khỉnh tươi cười 

 

Bắt tay vào xây dựng tương lai

trong muôn nghìn việc chung của quê hương dân tộc

ai chẳng có một đôi khoảnh khắc

nghĩ về những riêng tư 

 

Tôi còn bà mẹ già

như ngọn đèn sắp tắt

mong đứa con trai từng giờ, từng phút

sớm trở về nhà lấy vợ, đẻ con 

 

 

Mang trong lòng một hoài bão sắt son

“Bồi đắp vun trồng những mầm non nước Việt”

tôi cũng muốn mai đây trong cánh rừng tươi đẹp

có một, đôi cây mang vóc dáng của mình

ngạo nghễ giữa trời xanh 

 

Nhưng hôm nay nghĩ đến chuyện gia đình

tôi như chạm phải vết thương nhức nhối

đất nước vẫn chìm trong đêm tối

lũ quỷ đỏ dã man vẫn đày đọa muôn dân

đường đấu tranh sẽ còn lắm gian nan

mà sự nghiệp chỉ đôi bàntay trắng 

 

Tôi biết mình chưa thể chu toàn bổn phận

làm chồng, làm cha khi chí vẫn tang bồng

vẫn chưa chồn chân lội suối băng rừng

vẫn đôi tay muốn ghì chặt súng

trên đầu tóc vẫn đang dựng đứng

mắt vẫn in rõ mặt quân thù 

 

Và trái tim

vẫn hằng đêm

nhói đau trong ngực

khi xa xa vọng về tiếng khóc

của những bà mẹ già, những đứa trẻ thơ 

 

Nên dù có lời hứa đợi chờ

của cô láng giềng tôi yêu tha thiết

dù mẹ tôi khao khát

mong cô con dâu, mong đứa cháu gọi bà

tôi vẫn lắc đầu và mỉm cười vu vơ

khi có người hỏi

“Sao chưa lấy vợ?” 

 

Tôi mơ đến một khoảng trời rộng mở

có những đoàn quân

tiến về Sài Gòn

đòi lại quê hương đã mất

và hòa trong ào ào tiếng thét

“Tiến lên! Hãy tiến lên!”

có bóng tôi lao vút như tên. 

 

Vâng. Đó là tâm sự của tôi– một thanh niên sắp “tam thập nhi lập” nhưng hoàn cảnh trớ trêu, vẫn còn nằm trong trại cải tạo, chưa được ra đời thực hiện những ước mơ - xây dựng gia đình, tạo lập tương lai sự nghiệp. 

 

Tứ thơ “nhất khí liền mạch”, âm điệu chảy thành dòng làm chỗ dựa cho cảm xúc cùng những mảnh tâm sự bám theo đi vào tâm hồn những người yêu thơ. Anh Sỹ đang gật gù như muốn nhờ năng lượng từ sự chuyển động của cái đầu đưa cảm xúc thấm sâu vào tâm hồn. 

 

Không khí lặng đi một lúclâu. 

 

Rồi anh Sỹ ngẩng đầu lên nhìn tôi nhẹ nhàng “ra lệnh”: 

 

Một bài nữa đi anh Nhì. 

 

Tôi dùng vài phút kể lể sự tình:  

 

Sau khi bị đánh đập dập xương sống, bị cùm kẹp đến liệt hai chân và rối loạn cơ tròn, không kiểm soát được đường tiểu tiện và đại tiện, tôi nằm chờ chết trong xà lim. Nhờ sự can thiệp tận tình của hai bác sĩ tù Trần Quý Nhiếp và Trần Văn Lịch, cộng thêm đề nghị của một phái đoàn Thanh Tra Y Tế Trung Ương, tôi được chuyển vào một bệnh xá nhỏ ở Phân Trại B, nơi giam giữ tù hình sự.

 

Tôi đã sống chung với đủ mọi loại tội phạm: Giết người, trộm cướp, hiếp dâm, lừa đảo, xì ke ma tuý v.v. Lúc ấy ở bệnh xá có khoảng 30 bệnh nhân, toàn là tù hình sự. Chỉ mình tôi “lạc loài”. 

 

Rồi tôi bắt đầu đọc bài thơ TÔI ĐÃ GẶP Ở ĐÂY 

 

Tôi đến đây

trong một lần đi trốn

khi đang trong cuộc một trò chơi lớn

trò chơi đấu tranh 

 

Nhìn quanh

tôi thấy toàn thú dữ

mắt tròn xoe đổ lửa

uống máu ăn thịt lẫn nhau

trong khi bên ngoài những lớp rào và những hào sâu

bầy quỷ sứ đứng canh ngả nghiêng cười khoái trá 

 

Ở đây

một nắm rau dại một con sâu, con dế

lắm khi tàn tạ thân xác một con người

một mẩu tàn thuốc rơi

có thể làm máu đổ  

 

Tử thần đang mừng rỡ

bước từng bước đến gần

những con người khốn khổ

họ không có gì chống đỡ

nên chỉ biết bán rẻ nhân cách của mình

biến thành những con vật đê hèn

ngụp lặn trong vũng bùn tội lỗi 

 

May mắn thay

tôi đã gặp ở đây

ân tình đong thật đầy

của những người bạn mới

(giữa rừng cỏ dại quanh bờ suối

lác đác một hai khóm trúcđào) 

 

Tôi quên sao được hương vị ngọt ngào

của cành hoa các anh trao giữa muôn nghìn cay đắng

đàng sau những vệt máu, những giọt mồ hôi, những tia nhìn thù hận

là màu xanh ước mơ

những nét nhạc, những vần thơ

khung trời quê hương, biển tình yêu và cuồn cuộn dâng nhựa sống

tâm hồn tôi như bay cao giữa trời gió lộng

dù xác thân vẫn trĩu nặng gông xiềng 

 

Tôi cũng gặp những đứa em

còn chút dáng người giữa bầy dã thú

đói thắt ruột và roi quất trên đầu, trên cổ

vẫn chẳng nỡ ăn thịt đồng loại của mình (ý nói không làm Ăng - ten)

tôi ôm các em vào lòng

thủ thỉ bên tai những lời thân ái

để các em quen dần tiếng nói

của loài người đã quên mất từ lâu 

 

Tôi đã bị đẩy xuống tận đáy vực sâu

dù đường còn rất xa, và rất nhiều khó nhọc

vẫn cố trèo lên miệng vực

dù bọn quỷ sứ muốn biến tôi thành súc vật

trái tim tôi vẫn ăm ắp tình người

vẫn quay quắt nhớ người yêu

xa tít một phương trời

và vẫn niềm tin

ở một ngày mai. 

 

Viết cuối năm 1982 ở Bệnh Xá Phân Trại B 

 

Tôi cũng giải thích một chi tiết (coi như một chú thích) cho 2 câu thơ chữ nghiêng màu đỏ để có sự thông cảm của khán giả:  

 

Một ngày Chủ Nhật, được nghỉ lao động, có 2 em tù hình sự đến "cà kê dê ngỗng" kể chuyện tôi nghe. Số là cả 2 em đều ghiền thuốc nặng, lúc đang cuốc đất, thấy tên công an võ trang đứng gần đấy vứt cái tàn thuốc mới hút xong, cùng xông tới giành nhau. Đứa bị dộng báng súng lên ngực, chiều tối về phòng mới ói máu; đứa bị chân giầy đạp lên mặt, máu răng, máu miệng bê bết "giữa trận tiền". Một em vừa cười vừa nói với tôi: "Biết là ăn đòn nhưng ghiền quá chịu không nổi anh ơi!" 

 

Đến đây anh Trác chen vào lên tếng mời anh Nhật đọc thơ tình để thay đổi không khí. Anh Nhật là tay đọc thơ chuyên nghiệp nên dù đã sẵn sàng vẫn chờ thêm khoảng một phút nữa để thu hút sự chú ý của khán giả. Rồi anh không giới thiệu mà, thật chậm rãi, đi thẳng vào bài thơ: 

 

Ngày nào mới mặc áo dài

Tay em run quá chẳng cài nổi khuy

Chuyện giờ kể có khác đi

Run run anh cởi hết khuy em cài

……………….

 

 À thì ra đây là bài thơ ÁO DÀI được phổ nhạc mà anh Trác đã hát trong “buổi văn nghệ dở dang” ở Quận 8 hôm nào. Phải công nhận tình yêu của anh với người tình tình – hơn anh đến 18 tuổi - đậm đà, sâu sắc, lãng mạn và rất Thơ – càng nghe càng thấy khoái. 

 

Sau đó là giờ giải lao.  

 

Chị con dâu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đem chè đậu xanh lên mời khách. Đến chỗ tôi chị đặt chén chè lên bàn rồi nhỏ nhẹ nói: “Cháu mời chú ăn chè”. Tôi giật nẩy mình. (Chị ít ra cũng hơn tôi vài tuổi). Tôi nhìn anh Sỹ đỏ mặt, ngượng ngùng. Nhưng nhà văn đáng tuổi cha chú tôi đã lịch thiệp lên tiếng: 

 

Anh Nhì à! Anh Trác là bạn tôi. Anh là bạn anh Trác tức cũng là bạn tôi. Hơn nữa, chúng ta là nhà văn, nhà thơ – mà nhà văn, nhà thơ thì không có tuổi. Cháu xưng hô với anh như vậy là đúng đấy. Anh đừng ngại. (2

 

Tôi bỗng nghĩ đến câu “Trong văn chương thì ‘gừng càng già càng cay’, nhưng cũng có khi ‘tài không đợi tuổi’”. Như vậy câu nói của anh Sỹ cũng có phần đúng của nó. Nhưng rồi cũng có câu “Hãy kính trọng người già khi bạn còn trẻ” rất hợp với truyền thống, lễ giáo, cách xưng hô, giao tiếp của người Việt Nam - theo tôi, cũng không nên coi thường. Bởi vậy cách xưng hô của chị con dâu có làm tôi áy náy đôi chút. 

 

Tuy nhiên, “nhập gia tùy tục”nên tôi không có ý kiến gì thêm. 

 

Ăn chè xong, chị châm thêm một bình trà mới và chương trình đọc thơ lại tiếp tục. Tôi và anh Nhật cứ xen kẽ nhau trổ tài. Tôi đọc 2 bài (HOA DẠI và VÌ THẾ TÔI RA ĐI), anh Nhật đọc tiếp 3 bài nữa. Khi tôi đọc xong bài VÌ THẾ TÔi RA ĐI thì ba vị khán giả yêu thơ lim dim mắt, gật gù như muốn thử tìm xem có chỗ nào có thể cảm thông với nỗi niềm tâm sự hơi lạ đời đó không. Chắc là cũng có đôi chút nên ngồi uống trà một lát, anh Sỹ lại nhìn tôi có vẻ thúc giục. 

 

Anh Trác khuyến khích:  

 

“Cứ chơi thoải mái đi ông Nhì”. 

 

Và tôi đọc thêm bài thơ TẬP VẼ.  

 

Bài này tôi cũng viết lúc đang nằm ở bệnh xá phân trại B.  Một em tù hình sự có học lại có hoa tay,  vẽ đẹp nên được ưu tiên cho về đội nhà bếp để thỉnh thoảng vẽ cờ, hoa, khẩu hiệu trang trí cho phân trại. Em mến tôi và lúc bớt việc lại đến bệnh xá đề nghị tôi hát mấy bản nhạc vàng mà em ưa thích. 

 

Một hôm em tâm sự là rất buồn, rất chán khi bị bắt buộc phải vẽ những hình, khẩu hiệu mà em “không có cảm tình”.  Bài thơ ra đời trong khung cảnh ấy. 

 

TẬP VẼ 

 

Thuở bé thầy giáo thường khen em

có hoa tay, vẽ nhanh, vẽ đẹp

chỉ vài nét

là có hình người muông thú, cỏ hoa 

 

Thế mà mấy năm qua

em luôn bị điểm 2 môn vẽ

chăm chỉ, miệt mài tính em vẫn thế

chứ có đâu biếng nhác, ươn hèn 

 

Nhớ hôm vẽ cờ búa liềm

em đã ngắm kỹ từng đường cong nét thẳng

em cũng ướm thử từng đoạn dài đoạn ngắn

nhưng đến hết giờ

em vẽ cũng vẫn … sai 

 

Đưa lưng cho thầy quất mấy roi

em ngỡ liềm cứa thịt da em rách

thước kẻ thầy đánh vào tay

em tưởng búa đập xương em dập nát 

 

Một hôm khác

lớp em vẽ hình Lê- Nin

em hết nhìn thẳng lại nhìn nghiêng

để ý từ chòm râu, sóng mũi 

Nhưng lạ chưa!

Lê – Nin của em vào cuối buổi

trông cứ như đang múa vuốt, nhe nanh

xem bài em thầy giáo giật mình

đánh em ngã lăn giữa lớp 

 

Hôm vẽ Bác Hồ lòng em hồi hộp

thầy đứng bên em chẳng phút nào rời

thầy nhắc em Bác nhân đứcyêu người

thầy sánh Bác với vua Hùng dựng nước 

 

Em cố vẽ theo lời thầy nhưng không sao vẽ được

tay chén chè tàu tay ly rượu Vốt- Ka

Bác Hồ của em trông gian ác, điêu ngoa

em lại bị thêm trận đòn tím bầm thân thể 

 

Bản đồ nước Việt Nam

một hôm em đang vẽ

này biển, này sông, này rừng núi, ruộng vườn

này những thành phố quê hương

em đặt hết tâm hồn vào trang giấy nhỏ 

 

Thầy đứng sau lung cầm cây cọ đỏ

bôi kín tấm bản đồ tổ quốcem yêu

đỏ biển, đỏ sông, đỏ những đê điều

đỏ phố, đỏ phường

đỏ hết cả núi rừng, nương rẫy 

 

Em bỏ ngôi trường làng ra đi từ dạo ấy

lang thang như một khách giang hồ

Ôi! Nhớ làm sao những lần tập vẽ ngày xưa

Ồ! Giá trường em giờ có thầy giáo mới 

Em sẽ chạy về ngay

không để lỡ một ngày, một buổi

ngồi vào hàng ghế ngày xưa

thầy đang dậy những câu hát mẹ ru

còn em háo hức chờ đến giờ tập vẽ.  

 

Lúc viết bài thơ này, dù còn đang bại liệt trong trại cải tạo, tôi đã mơ đến chuyện ra đi chứ không như ngày 29 tháng tư năm 1975: 

 

Khi đoàn tàu chở đơn vị tôi

chuẩn bị rời Vũng Tàu hướng ra Đông Hải

thương cha mẹ già, đàn em dại

tôi bước lên bờ ở lại quê hương.

(Bờ Vẫn Quá Xa, Phạm ĐứcNhì) 

 

Bởi thông tin truyền vào qua thăm nuôi cho biết “sĩ quan cải tạo” trở về nếu không nhanh chóng tìm đường ra đi thì ở lại sẽ bị tước đoạt hết mọi cơ hội kiếm sống, sẽ chỉ là gánh nặng cho gia đình mà thôi.     

 

Và đây cũng là bài cuối của chương trình. Khác mấy bài trước, bài này được 3 khán giả đón nhận nồng nhiệt. 

 

Trong gần 3 tiếng đồng hồ thả hồn vào thơ, anh Nhật đọc 7 bài. Tôi đọc 5 bài. Thỉnh thoảng cũng có những “lời bình ngắn” rất uyên bác, điệu nghệ của anh Sỹ và anh Trác.  Vì đây là bài viết về anhTrác nên tôi chỉ đưa vào 3 bài thơ của anh Nhật và 3 bài của tôi để độc giả có thể mường tượng ra phần nào khung cảnh, không khí của buổi đọc thơ. Mục đích chính của đoạn này là làm nổi bật vai trò “đạo diễn ngầm” của anh Trác.

 

Độc giả có thể đọc cả 5 bài thơ tôi đọc tại nhà anh Sỹ theo link sau đây:

https://maybaitho.blogspot.com/2023/10/may-bai-tho-oc-o-nha-anh-doan-quoc-sy.html    

 

Còn 4 bài khác nữa của anh Nhật, rất tiếc lâu quá, tôi đã quên. 

 

Anh Nhật đọc thơ rất có duyên. Anh để ý “luyến láy” từng chữ, từng câu. Anh đọc thơ của chính mình, lại thuộc lòng, nên dễ dàng lột tả được những chỗ ý tứ sâu sắc, “chữ tình” đằm thắm, thiết tha. Cái thú khi nghe thơ anh Nhật là không phải “ngẫm” cũng có thể hiểu rồi cảm được ý tứ sâu sắc, cảm xúc dạt dào đằm thắm được gói ghém khéo léo trong những câu thơ có ngôn ngữ, hình tượng tỏa ra nét đẹp văn chương óng mượt.  

 

Thơ tôi dễ đọc hơn. Bài thơ dài, nhất khí liền mạch và tôi đã thuộc như cháo nên khi đọc cứ thả hồn theo dòng chảy của tứ thơ, dòng cảm xúc và nhờ dòng âm diệu dẫn đưa về Bến Đỗ. 

 

Một người đọc thơ, 3 người còn lại cũng lặng yên thả hồn vào từng chữ, từng câu. Phòng khách thì rộng rãi, thoáng mát nhưng cũng hoàn toàn im ắng như muốn cùng hòa điệu với những người thưởng thức thơ ca toàn tâm, toàn ý. 

 

Trước khi chia tay anh Sỹ dặn tôi: 

 

“Anh Nhì nhớ cho tôi mấy bài thơ để gởi cho các anh ấy ở bên kia nhé.” 

 

Được một người như nhà văn Doãn Quốc Sỹ quý trọng, yêu mến thơ của mình và bộc lộ một cách tế nhị như thế thật là một điều vinh hạnh. Điều đó đã giúp tôi tự tin hơn, thoải mái hơn khi phóng bút viết những bài thơ sau này. 

 

Ra về tôi không nói gì thêm với anh Trác nhưng lòng thầm cám ơn anh đã có công “gầy sòng” rồi cùng anh Sỹ “đạo diễn” để tôi có một buổi đọc thơ đáng nhớ trong đời.  

 

Tôi chưa kịp “trao thơ” thì anh Sỹ, anh Trác và một số nhà văn, nhà thơ khác đã bị bắt trong vụ NhữngTên Biệt Kích Cầm Bút. (Chuyển “thơ văn chống đối chế độ” từ trong nước ra hải ngoại) (3

 

Gặp Lại Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ 

 

Giữa tháng 2 năm 2003 anh Trác gọi điện thoại rủ tôi đi dự văn nghệ mừng Thượng Thọ 80 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Buổi lễ được tổ chức tại một hội trường lớn ở thành phố Houston. Anh Trác và tôi chọn hai chỗ sát lối đi ở bên trái khán đài, anh Sỹ cùng gia đình ngồi ở phía bên kia lối đi. Chương trình văn nghệ bên cạnh “cây nhà lá vườn” tại Houston còn có vài ca sĩ từ xa đến chung vui. Người hát nhạc vàng trước 75, người hát nhạc mới sáng tác tại hải ngoại. Cũng có người đọc bài thơ “Mừng Bác 80” để chúc thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Không khí thật rộn ràng, vui vẻ. Được ngày nghỉ lên khu trung tâm thành phố chơi nên tôi thả hồn vào lời ca tiếng hát.  

 

Bỗng MC cao giọng:  “Để thay đổi không khí chúng tôi xin giới thiệu anh Phạm Đức Nhì. Anh sẽ đọc một bài thơ do chính anh sáng tác. Xin mời nhà thơ Phạm Đức Nhì”. 

 

Hơi bị bất ngờ, tôi đứng dậy nhìn anh Trác thì thấy anh cười nói: “Ông cứ lên cho bà con thưởng thức một bài cho vui.” Thì ra anh đã “gài độ” trước. 

 

Năm 1996, sau khi dự lễ khai mạc kỳ đài tại Houston, nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ phất phới bay trong gió, cảm xúc dâng trào, tôi đã viết bài thơ LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA. Thời gian đó chưa có Facebook, nhưng chỉ qua Emails bài thơ đã được loan truyền rộng rãi trên các diễn đàn.  Lễ mừng thượng thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ - một người yêu tự do, đã bị chính quyền Cộng Sản bỏ tù – mà đọc bài thơ ấy thì rất hợp cảnh hợp tình.

 

Nhưng đứng trên khán đài nhìn anh Sỹ, rồi lại nhìn anh Trác ở bên kia lối đi giữa hội trường, kỷ niệm buổi đọc thơ 19 năm trước tại nhà anh Sỹ lại hiện về. Qua những “lời bình ngắn” ý nhị hôm ấy, tôi biết hai anh - đặc biệt là anh Sỹ - có lòng ưu ái với bài thơ TẬP VẼ của tôi. Thế là sau một chút lưỡng lự tôi đã quyết định đọc “bài thơ kỷ niệm” ấy. 

 

Bài thơ được mọi người nhiệt tình tán thưởng, tiếng vỗ tay lớn và kéo dài rất lâu. Xuống khán đài về chỗ ngồi, lúc qua chỗ anh Sỹ, anh đứng lên kéo tôi lại gần rồi ghé sát tai tôi nói nhỏ: 

 

“Tôi vẫn nhớ mấy bài thơ anh đọc năm nào tại nhà tôi. Riêng bài Tập Vẽ bây giờ nghe lại càng thấy thấm thía”. 

 

Tôi chỉ biết đứng yên, miệng lí nhí “Cám ơn anh” nhưng trong đầu lại hiện ra khuôn mặt khả ái và nụ cười ý nhị của ca sĩ Duy Trác.             

 

Tiệc Giã Từ Đời Ca Hát  

 

Một hôm chị Trác gọi điện thoại mời vợ chồng tôi vào chiều cuối tuần (lâu quá tôi đã quên ngày tháng) đến dự buổi tiệc họp mặt gia đình và thân hữu để anh “rửa tay gác kiếm” – giã từ đời ca hát. Buổi tiệc khoảng hơn trăm người tại một nhà hàng (hôm đó không tiếp khách vãng lai) nên không khí gần gũi, thân tình và ấm cúng. 

 

Trong phần văn nghệ tôi có dịp nghe lại bản nhạc Lời Nguyện Trong Tù (đã được đổi tên thành Giáng Sinh Trong Ngục Tù) do con gái của anh Trác hát. Tôi để ý thấy ở đoạn: 

 

“Xin quét hết lũ người sống hận thù không óc không tim. Xin tiếng hát nụ cười cho mọi người được sống bình yên” 

 

nhóm chữ “Xin quét hết lũ người” đã được đổi thành “Xin cứu vớt những người”

 

Hai chữ “sân hận” màu đỏ máu lửa ngày xưa đã được buông bỏ. Thay vào đó là hai chữ “nhân ái” màu xanh hiền hòa mát dịu. Tôi bỗng thấy lòng thật vui. Và mừng cho sự đổi thay trong tâm hồn anh Trác. Ở tuổi anh, như thế sẽ nhẹ lòng hơn, thanh thản hơn để sống những năm tháng còn lại của cuộc đời. 

 

Tôi cũng may mắn, có“duyên” - gặp được “cao nhân đạt đạo”, giúp cởi bỏ hận thù trong tâm khảm – đã bắt tay kết bạn với khá nhiều “kẻ thù xưa” trong chốn văn chương và cả ngoài đời thường. Lại gặp cái “nghiệp” bị Nàng Thơ quyến rũ, mê hoặc suốt mấy chục năm trời đến mức đã “dại dột” bước vào lãnh địa Phê Bình – “đưa ra lời khen, tiếng chê, cái này ‘đường mới’ cái kia ‘lối mòn’, bài thơ này đúng hướng, bài thơ kia lạc đường”. Bởi vậy, nếu còn khư khư ôm giữ lập trường, phân định “địch ta” thì làm sao có được công tâm trong việc nhận định giá trị nghệ thuật của một thi phẩm. 

 

Vào buổi họp mặt để anh “giã từ đời ca hát”, tôi nhận ra anh với tôi còn có thêm một điểm tương đồng nữa: Đó là hai chữ “nhân ái” hiền hòa màu xanh mát dịu ẩn hiện đâu đó trên mặt của anh. Còn tôi, sau nhiều năm cởi bỏ được hai chữ “hận thù”, thỉnh thoảng soi gương thấy mặt mình cũng “hiền” hơn xưa khá nhiều. Có điều hai chữ “nhân ái” trên mặt anh tự nhiên hơn, rõ nét hơn, còn của tôi, do dính líu chút “tư ý tư dục” trong chuyện thơ văn nên mờ nhạt hơn.  

 

Kết Luận 

 

Tôi với anh Khuất Duy Trác, tức ca sĩ Duy Trác, tuổi đời có đến hơn 16 năm cách biệt. Học vấn, kiến thức, địa vị trong xã hội tôi kém anh rất xa. Cung cách ứng xử văn hóa trong giao tiếp, so với anh, tôi thấy mình còn quá “bình dân”. Xưng hô thì anh gọi tôi là Ông, xưng Tôi, tôi gọi anh là Anh, xưng Tôi – cũng không được gần gũi lắm. 

 

Chúng tôi gặp nhau trong hoàn cảnh tội tù khắc nghiệt, giống nhau ở lòng đam mê âm nhạc, thi ca. Nhờ “Duyên” đã có cơ hội “cùng nhau vui chơi” để lại vài kỷ niệm - những kỷ niệm in đậm tính cách, nhân cách của anh - một Nghệ Sĩ Chân Chính. 

 

League City tháng 11/ 2023

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com   

 

CHÚ THÍCH: 

 

   

1/ https://www.diendantheky.net/2012/06/tho-nguyen-huu-nhat-hoa-cuc-vang-tho.html

 

2/ Sau này nhờ tâm hồn cởi mở, phong cách phóng khoáng trong giao tiếp với bè bạn văn chương của anh Sỹ và đặc biệt là câu “Chúng ta là nhà văn, nhà thơ - mà nhà văn, nhà thơ thì không có tuổi” tôi đã có cái nhìn tự do hơn, khách quan hơn đối với các nhà văn, nhà thơ và tác phẩm của họ. 

 

Tôi đã tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu để tạo cho mình một nền tảng kiến thức lý luận văn học và khi nhận xét, đánh giá một bài thơ, một tác phẩm văn chương tôi chỉ dựa trên cái nền tảng kiến thức đó.

 

Kết quả là tôi đã bỏ được một “thói xấu” trong phê bình: Coi trọng đến mức tôn thờ tác phẩm của các “cây cổ thụ văn chương” – không dám “đụng đến” những khuyết điểm, dù sờ sờ trước mắt, của họ - và ngược lại, coi thường đến mức bất công tác phẩm của những văn thi sĩ còn non trẻ. 

 

3/ Còn tôi mấy tháng sau cũng bị bắt ở Bến Lức, Long An vì tội vượt biên. Trong khi bị “tập trung cải tạo” ở Nhơn Hoà Lập thì được công an thành phố HCM đến “đón” về traị giam Phan Đăng Lưu, Gia Định. Lý do: Trong thời gian ở A20, một bạn tù hỏi xin và tôi có chép bài thơ Từ Ngục Tù Cộng Sản cho anh đem về. Ít lâu sau anh vượt biên bị bắt cùng với bài thơ và bị xử 12 năm tù. 

 

Anh không khai gì để tổn hại đến tôi, nhưng một thời gian sau nữa có ăng - ten khai báo và công an truy xét nét chữ đã tìm ra tôi. Mấy cán bộ công an bắt tôi phân tích và “bình” bài thơ của mình suốt 6 tháng trời. Cứ đến chỗ đụng chạm đến chế độ tôi lại bị hạch sách đủ điều. Có lần còn bị công an võ trang len lén đến tát vào mặt, đấm vào lưng vì đã xúc phạm đến Bác Hồ.

 

Vũ Văn Ánh, người sáng lập và chủ biên tờ Hợp Đoàn, sau khi kết cung đã “lên đài” nói với tôi (hét to trực tiếp từ xà lim này qua xà lim kia):

 

“Chắc không đến nỗi ‘dựa cột’ (tử hình) nhưTạ Vinh đâu; nhưng lịch thì chở cả (xe) GMC cũng không hết”.  

 

Tuy nhiên, khi ông Nguyễn Văn Linh lên nắm quyền với chủ trương cởi mở chính trị, những người liên quan đến vụ Hợp Đoàn ở A20, vụ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ca sĩ Duy Trác … và cả tôi đều được thả về. Tôi về sau các anh vài tháng.   

 

Monday, October 23, 2023

A’MAN CƠ-QUAN TÌNH-BÁO QUÂN-SU DO-THÁI

 A’MAN CƠ-QUAN TÌNH-BÁO QUÂN-SU DO-THÁI

I.    LỜI  GIỚI  THIỆU.
 
   Do-Thái là một quốc gia nhỏ vùng trung-đông có hơn sáu triệu dân, phải đương đầu với hơn một trăm triệu dân Ả-Rập bao quanh. Hai dân tộc này là kẻ thù không đội trời chung, Khối Ả-Rập liên-kết với nhau, nguyền tiêu diệt  người Do-Thái (Zionists). Để bảo-đảm cho sự sống-còn của một dân-tộc, Do-Thái lúc nào cũng phải đề-phòng, giữ một đạo quân hùng mạnh, mà cả thế-giới thán phục. Quân-lực Do-Thái được liệt kê là một trong những bộ máy chiến tranh hoàn hảo nhất.. Sự thành công của quân-đội Do-Thái trông cậy rất nhiều trong ngành tình báo, biết trước những mưu-mô, kế-hoạch chuyển quân của địch để đỡ đòn hoặc ra tay trước.
 
   Do-Thái có ba cơ-quan tình-báo: Tình-báo Quốc-ngoại MOSSAD, An-ninh Phản-gián nội-bộ SHIN BET và ngành Tình-báo Quân-sự A’MAN. Nổi tiếng nhất, được nói đến nhiều nhất là cơ-quan Mossad được thành lập bí mật vào ngày 01 tháng tư năm 1951, thuộc phòng chính trị, bộ ngoại-giao. Về sau trở nên vững chắc, trong những năm đầu, Mossad đã đem lậu hàng ngàn người Do-Thái ra khỏi Iraq. Mossad đã thiết-lập nhiều quan-hệ với cơ-quan Trung-ương Tình-báo Hoa-Kỳ (CIA). Trong thời gian được lãnh đạo bởi siêu điệp-viên Isser Harel, cơ-quan Mossad được thế-giới xem như một thứ James Bond trong việc bắt cóc tội-phạm Quốc-Xã (Nazi) Adolph Eichmann từ thủ-đô Buenos Aires, Á-Căn-Đình và việc ‘chiêu hồi’ một phi-công Iraq lái chiếc MIG-21 về  Do-Thái. Mossad cũng rất thành công trong cuộc chiến với Tháng Chín Đen (Black September), một tổ chức khủng-bố người Palestine, ám-sát Ali Hassan Salameh, tay soạn-thảo ra vụ thảm-sát lực-sĩ Do-Thái trong kỳ thế-vận Olympics năm 1972 tại Munich. Gần đây, Mossad bắt cóc kẻ phản bội về  nguyên-tử  Morderchai Vanunu từ Âu-châu đem về Do-Thái. Ngoài ra theo báo ngoại quốc, Mossad cũng dự phần trong kế hoạch ám-sát thần-sầu viên phụ tá cho tổ chức Giải-phóng Palestine (PLO) Abu Jihad. Trùm khủng bố bị giết trong biệt thự riêng ở Tunis vào tháng tư, năm 1988.
 
   Trong ngành tình báo, đâu phải lúc nào cũng thành công, Mossad đôi khi bị ‘bể mặt’ như vụ xẩy ra tại một làng nhỏ Lillehammer bên Na-Uy nơi tổ chức thế vận hội mùa đông trước đây và đài truyền hình CBS có nhắc lại trong kỳ thế-vận). Toán hành-động (hit team) của Mossad giết  một người bồi bàn người Ma-Rốc vì tưởng lầm là một trong những thủ phạm trong vụ thảm sát các lực-sĩ Do-Thái ở Munich, Tây-Đức năm 1972. Sau vụ này vài điệp viên của Mossad bị bắt, ra tòa và ngồi tù.
 
   Lực-lượng an-ninh, phản gián Do-Thái có tên là SHIN BET hay SHA ‘BA’K, không quan trọng và ít nổi tiếng như Mossad. Shin Bet được biết đến trong vai trò phản-tình-báo và những năm sau này có thêm nhiệm-vụ chống khủng-bố. Cơ-quan này truy tầm gián-điệp phiá Nga-sô và Ả-Rập nổi tiếng trong vụ bắt được trung-tá  Israel Be’eri, quân-sử gia cuộc chiến đấu độc-lập 1948 và làm gián-điệp theo mùa cho cơ-quan tình-báo Nga-sô, bán tài liệu an-ninh quốc-phòng Do-Thái và  Tổ-chức Bắc Đại-Tây-Dương (NATO). Shin Bet còn bắt giữ giáo-sư Kurt Sita, nhà vật-lý học người Tiệp-Khắc, làm gián-điệp cho sở tình-báo Tiệp (STB).
 
   Về ngoại vụ, Shin Bet cung cấp lực lương an-ninh cho hãng hàng không Do-Thái El Al trên các phi trường quốc tế sau vụ một chiếc máy bay của El Al bị không tặc cưỡng bách bay đi Algeria vào năm 1968. Trong nhiệm vụ an-ninh, Shin Bet bị tai tiếng đôi khi quá tay, tàn bạo. Một vụ xẩy ra bắt lầm, buộc tội oan cho một sĩ quan trẻ gốc Circassian Moslem phục-vụ trong quân đội Do-Thái. Viên sĩ quan này bị tra tấn, đánh đập dã man đến độ phát điên sau khi sự thật phơi bầy ra. Một vụ khác dưới quyền chỉ huy trực tiếp của vị chỉ-huy Shin Bet, Avraham Shalom, đánh-đập hai tên khủng bố người Palestine cho đến chết, sau vụ cướp xe bus vào tháng tư năm 1984. Vụ này bị báo chí phanh-phui làm mất mặt chính-quyền. Khi Shin Bet tiên đoán sai về vụ khởi-nghiã (Intifadah) của dân-tộc Palestine trong năm 1987, Shin Bet bị chỉ trích, kiểm thảo.
 
   Mặc dầu Mossad và Shin Bet là hai cơ-sở quan trọng trong ngành tình báo Do-Thái. Không có một đơn-vị nào hữu-hiệu hơn cho vấn-đề sống còn của lực-lượng quốc-phòng, quân đội Do-Thái bằng cơ-quan A’MAN. Nhiệm-vụ chính-yếu của cơ-quan tình báo này là thâu-thập tin-tức tình-báo, phân-tích và phổ biến những nguồn tin tình-báo đến các đơn-vị trong quân-lực Do-Thái. Nhờ những tin tình báo do A’Man cung cấp, quân đội Do-Thái đã tạo được những chiến-thắng thần-tốc như trong Trận Chiến Sáu Ngày năm 1967 và nhiều vố khác làm cho kẻ thù Ả-Rập ‘bể mày, bể mặt’. Thất bại trong ngành tình báo sẽ đưa đến nhiều hậu qủa tai hại như trong Trận Chiến năm 1973 (Yom Kipur). A’Man trực thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu và bộ Quốc Phòng Do-Thái chứ không biệt lập như Mossad, A’man bị coi như nằm trong bóng tối của Mossad, sự liên hệ giữa A’Man và Mossad cũng tương-tự như cơ-quan An-ninh Quốc-gia (NSA) của Hoa-Kỳ và Trung-Ương Tình-Báo  CIA.
 
   Là một phần trong Lực-Lương Quốc-Phòng, A’Man bao gồm luôn hai cơ-quan tình báo của Hải và Không quân. A’Man tuyển-mộ đủ mọi thành-phần kể cả tội-phạm, trong những điệp-viên nổi tiếng có Eli Cohen được tôn-vinh là siêu gián-điệp (Sư-phụ - Master Spy) và ‘Champagne Spy’ Wolfgang Lotz mà về sau chuyển qua Mossad,  trở thành nhân-vật quan trọng cho cơ-quan này. A’Man chia ra làm bốn ban: Sản-xuất (Production), Tình-báo (Intelligence Corps), Quốc-ngoại (Foreign Relations) và An-ninh (Field Security/Military Censorship). Nhân viên làm việc cho A’Man vào khỏang bẩy ngàn người gồm binh-sĩ, sĩ-quan, hạ-sĩ-quan và dân sự. A’Man còn có nhiệm vụ gửi các tùy-viên quân-sự đi khắp thế giới làm việc trong các tòa đại-sứ Do-Thái và ngành phản gián tại quê nhà.
 
   Điệp-viên của A’Man có mặt ở khắp nơi, đằng sau phòng tuyến địch, hay ở văn phòng trong bộ Tổng-Tham-Mưu quân-lực. Viên chỉ-huy trưởng của ngành Quân-Báo (A’Man) thường là một vị tướng xuất sắc trong quân đội, đã đảm nhiệm  chức vụ chỉ huy những đơn-vị thiện chiến trong quân-lực Do-Thái. Sau đó thường được đề cử lên chức vụ tổng-tham-mưu trưởng. Hai vị cựu chỉ huy trưởng của A’Man trước đây  Trung-tướng Ehud Barak và Thiếu-tướng Amnon Shahak là những quân nhân nhiều chiến công nhất, nổi tiếng trong quân-đội. Tướng Barak chỉ-huy A’Man từ năm 1983 đến 1985, đã từng chỉ huy lực-lượng Sayeret Mat’Kal, Đơn-vị tối mật trinh-sát (LLĐB) của bộ tổng-tham-mưu. Ông ta đã từng chỉ huy nhiều cuộc hành quân đặc biệt và là một quân nhân nhiều huy chương nhất trong quân-sử Do-Thái (Đó chỉ là một phần thôi, vẫn còn nhiều bí mật về ông ta không tiện nói ra). Tướng Shahak xuất thân từ binh chủng Nhẩy Dù và Viễn-thám Biệt-động-quân đã tham dự nhiều cuộc hành quân nổi danh.

 

·        A’MAN CƠ-QUAN TÌNH-BÁO QUÂN-SU DO-THÁI

·        Your Guide to Understanding the Roots of the Israe...

·        LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT DO THÁI SAYERET MATKAL

·        Từ xung đột Israel-Hamas 2023 nhìn lại cú sốc xăn...

·        Đằng sau các cuộc tấn công bất ngờ 1968, 197...

·        ĐƠN VỊ BIỆT KÍCH DO THÁI 101

·        BÓNG MA TÌNH BÁO MOSSAD CỦA ISRAEL

·        CƠ QUAN TÌNH BÁO QUỐC GIA DO THÁI MOSSAD

·        Noa Argamani, 25; Avinatan Or - Hostages in Israel...

·        TÌNH BÁO DO THÁI - TRẬN YOMKIPPUR Doron Geller

·        Những điều cần biết về xung đột Israel-Hamas

·        How a secretive Hamas commander masterminded the a...

 

Saturday, August 19, 2023

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA BIDEN: BỎ RƠI CON NGƯỜI & VÔ TRÁCH NHIỆM - Đại Tá Hùng Cao

 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA BIDEN: BỎ RƠI CON NGƯỜI & VÔ TRÁCH NHIỆM

Đại Tá Hùng Cao

 Một Bài Viết Gây Chấn Động Chính Trường Mỹ Quốc của tác giả người Mỹ gốc Việt, cựu đại tá huấn luyện Thủy Quân Lục Chiến CAO HÙNG

��CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA BIDEN: BỎ RƠI CON NGƯỜI & VÔ TRÁCH NHIỆM��

Khi thế giới nhìn thấy những người dân tuyệt vọng chạy trốn khỏi Ukraine, tôi cũng muốn nhắc lại những cảnh tương tự, trong đó người Afghanistan đã trốn thoát khỏi quê hương họ chỉ vì sự an nguy của một màu cờ nước ngoài. Mới 6 tháng trước ở Kabul, những người đàn ông đã rơi xuống từ các máy bay tị nạn và những bà mẹ kinh hãi đẩy con nhỏ còn bú vào tay các Thủy quân lục chiến Mỹ trẻ măng mong họ đem theo con mình khi rút quân. Đây cũng là cảnh xảy ra ở Baghdad 12 năm trước khi ISIS lấn chiếm quyền lực và 47 năm về trước cũng xảy ra cảnh chạy nạn tương tự ở Sài Gòn, miền Nam Vietnam. Trong tất cả bốn sự kiện lịch sử bi thảm này, đều có liên quan đến một mẫu số chung: đó là Joseph Robinette Biden Jr.

Vào ngay ngày ông ta trở thành “chủ tịch nước Mỹ”, ông ta đã tự hào ký ngay sắc lệnh hủy bỏ đường ống Keystone XL, xoá đi nhiều chục ngàn việc làm và tước đi sự độc lập về năng lượng của nước Mỹ vĩ đại chỉ bằng một nét bút quèn. Điều này đánh dấu cho sự tấn công đầu tiên của ông ta vào tuyến đầu sản xuất dầu khí của Hoa Kỳ trong cuộc “thập tự chinh của chính mình” như đền đáp lại sự ưu ái mà Đảng ông ta đã “nâng đỡ”.

 

 

Tuy nhiên, thực tế là sự tiêu thụ xăng dầu nội địa vẫn không vì thế mà giảm đi theo cách thần kỳ dù ngài chủ tịch tuyên hứa với cộng đồng quốc tế rằng ông ta sẽ kiềm hãm việc tạo ra “dấu chân carbon” của dân Mỹ. Giống như hầu hết các lãnh đạo cứng rắn đều hiểu rằng mong muốn là một chuyện nhưng thực hiện nó lại là một việc khác. Muốn chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch sang phụ thuộc vào năng lượng tái tạo – nếu đó thực sự là những gì tất cả người dân Mỹ mong muốn – sẽ cần thêm thời gian.

Lúc tên lửa của Tổng thống Nga Vladimir Putin dập vũ bão xuống các thành phố ở Ukraine thì Hoa Kỳ đang chi ra 1 tỷ đô la mỗi ngày để nhập mua dầu khí từ Nga. Chính quyền Biden đang tài trợ tiền tài cho cuộc chiến tranh của một gã điên khùng hay sao?!

 

 

Lịch sử có thể không quy cho ông Biden phải gánh trách nhiệm về cuộc chiến Ukraine nhưng ông ta sẽ khó trốn tránh khỏi việc sụp đổ của Kabul tại Afganistan. Khi tôi rời khỏi Kabul vào tháng 1 năm 2021, trong quá trình triển khai quân sự tại cuộc chiến cuối cùng của tôi thì tình trạng của đất nước này trở nên bất ổn định và căng thẳng ngoài sức tưởng tượng. Sự phân loại và kiểm soát hỗn loạn nhất.

Vào buổi tối, các nhóm lực lượng Taliban đi lang thang tự do qua lại các trạm gác vắng người gọi là "Checkpoint" mà không hề có sự kháng cự chiếu lệ nào. Cho nên chúng tôi nghi ngờ các lực lượng an ninh quốc phòng quốc gia Afghanistan bị ép buộc rời đi tay không giản tiện, bỏ lại hết vũ khí và thiết bị chiến đấu của họ.

 

 

Vào buổi sáng, những lực lượng quân đội Afganistan lục tục trở lại các trạm kiểm soát bỏ trống ban đêm để hoạt động như thường, và cảnh này diễn đi diễn lại mỗi ngày. Tướng Scott Miller, vị chỉ huy cuối cùng của Lực lượng US tại Afghanistan có nhiệm vụ hỗ trợ các nghị trình của NATO, đã nghĩ ra một kế hoạch thay vì rút hết quân, sẽ để lại một lực lượng khoảng 2.500 lính tinh nhuệ, không thêm không bớt. Đây là một lực lượng phản ứng nhanh mục đích dập tắt sự tiến quân cuốn chiếu của Taliban. Căn cứ Bagram kiên cố sẽ là trung tâm của lực lượng tinh nghệ này cùng nỗ lực gửi đăng các bài viễn thông giao liên để duy trì sự nhận thức tình hình.

 

 

Đội ngũ của ông Biden không chấp thuận cũng không từ chối kế hoạch này. Bạch Cung im lặng, họ không làm gì cả. Kết cuộc, chính quyền của Biden, đã không hề biết xấu hổ, quay sang đổ lỗi cho Tổng thống Donald Trump hấp tấp ký hiệp ước Dona thỏa thuận việc rút quân. Câu chuyện bịa rằng ông Biden đã bị ràng buộc bởi thỏa thuận này là rõ ràng sai trái. Ông Trump thậm chí cũng không bị ràng buộc bởi thỏa thuận do chính ông ấy ký vì sự thất thế lúc bấy giờ của Taliban buộc chúng phải bám víu ngay vào các điều khoản của thỏa thuận.

 

 

Chúng tôi chờ và tin rằng ông Biden có thể lật ngược hết mọi chính sách của chính phủ trước đó, nhưng đột nhiên cớ sao ông ta lại đổ thừa bị ràng buộc và mắc kẹt với thỏa thuận này? Nhưng chúng ta đã biết câu chuyện này kết thúc ra sao rồi. Mười ba chiến binh đã bị sát hại, nhiều người Mỹ đã bị bỏ lại đó, cả một đất nước Afganistan bị bỏ rơi tan hoang trong cơn chém giết thịnh nộ và cuộc khủng hoảng nhân đạo xuất hiện phía cuối chân trời.

 

 

Mô hình “không chịu trách nhiệm cho các quyết định” của ông Biden đã được lặp đi lặp lại từ sự sụp đổ của Iraq cho đến Isis. Thời là “phó chủ tịch” Hoa Kỳ, ông Biden đã được gửi đi đàm phán về Thoả thuận tình trạng các lực lượng quân đội, cung cấp sự bảo vệ cho các thành viên phục vụ quân đội của chúng tôi ở Iraq. Chính trị gia lâu đời lão luyện này đã không đảm bảo đủ sự an toàn cho SOFA, đành phải thu hồi các lực lượng Hoa Kỳ về. Tôi đã chứng kiến từ Basra, Iraq, những đoàn xe tải quân sự Mỹ bị quân phiến loạn tấn công tơi bời trên đường rút lui vội vã. Điều này đã mở rộng lối đi cho bọn ISIS, hay còn gọi là "JV Squad” như cựu Tổng thống Obama đã gọi họ.

Bỏ lại người dân đằng sau là “thủ đoạn bất lương” (modus operandi) của ông Biden. Năm 1975, Thượng nghị sĩ Sinh Viên năm nhất Biden đã từ chối tài trợ cho đồng minh quân đội miền Nam Việtnam, dẫn đến sự sụp đổ tuyệt vọng của Saigon. Mẹ tôi kể rằng: “người Mỹ đã gửi cho chúng ta những khẩu súng không hề có đạn để chiến đấu”, lúc đó tôi đã không hiểu rằng bà ấy đang đề cập đến các chính trị gia lập pháp đồng minh nhẫn tâm kiểu như ông Biden.

 

 

“Hoa Kỳ không có bất cứ nghĩa vụ phải cung cấp sơ tán cho 1 hoặc 100.001 người dân hay lính Cộng Hoà Miền Nam". Những lời ác độc này từ miệng của người đàn ông được miễn trừ nghĩa vụ quân sự vì lý do bệnh suyễn (?) trong khi những đàn ông trẻ tuổi khác đã rời xa nhà và bỏ mình nơi chiến địa.

May thay, phiếu bầu NO của ông Biden đã không cản chân tôi đào thoát đến Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 1975. Giống như bao người di tản khác, mẹ tôi may giấu tiền mặt cuộn tròn và ghi chữ bên trong các lai quần của tôi, "Đây là con trai chúng tôi, xin hãy chăm sóc nó” phòng trường hợp gia đình bị thất lạc nhau trong quá trình trốn chạy khỏi cộng sản. Phụ huynh ở Iraq, ở Afghanistan và ở Ukraine đã phải cùng gánh chịu sự đau khổ vì chiến tranh hiện trạng y như vậy.

 

 

Bất chấp kỷ lục “bỏ rơi con người” của ông Biden, tôi đến Hoa Kỳ sinh sống và vẫn cố gắng phát huy năng lực vì nhận ra rằng đất nước này tốt hơn nhiều so với những chính trị gia như ông ta. Sau khi tôi tốt nghiệp trường trung học Thomas Jefferson về ngành khoa học và công nghệ, tôi đã đăng lính tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Tôi muốn đứng thẳng, vai kề vai với tầng lớp tốt nhất mà quốc gia này đã rộng lượng cho đi: bao gồm cả đàn ông và phụ nữ tiêu biểu cho danh dự, can đảm và lời thề cho tổ quốc thứ hai, nơi đã ban tặng cho gia đình tôi một tổ ấm dung thân. Đây là đặc ân cao quý nhất của tôi trong bộ quân phục này để phục vụ cho đất nước Hoa Kỳ hay phục vụ trên toàn thế giới.

Khi chúng ta nhìn về tương lai, nhiều người trong chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang hoang mang đứng ở một ngã tư. Một nước Mỹ hùng cường mạnh mẽ từng được coi là một nơi chốn an toàn để sinh sống. Nhưng thật không may, lãnh đạo hiện tại của chúng ta đã chứng tỏ sự yếu kém, thiếu hụt quyết tâm đến mức đáng kinh ngạc khi đối mặt để giải quyết các xung đột lẫn trong và ngoài nước.

 

 

Tuy nhiên, tất cả vẫn chưa mất trắng và vẫn còn lý do to lớn để hy vọng. Nhờ các lãnh đạo yếu kém như ông Biden, mà số đông người Mỹ im lặng sẽ không còn giữ im lặng nữa. Chúng tôi đi tìm kiếm tiếng nói chung của tất cả mọi người và nó sẽ được nghe thấy vào tháng 11 tới.

“Hãy giữ lấy trái tim nước Mỹ ”, một thế hệ lãnh đạo trẻ mới đang nổi lên từ đống tro tàn đổ nát. Những người đàn ông và phụ nữ không thấy tự do dễ chịu để cảm nhận sự an toàn và không thấy hối tiếc trong tình yêu của họ dành cho đất nước này sẽ cùng nhau tiến bước về Washington.



(Jenny chuyển ngữ)

 

 

Tác giả Cựu đại tá Hùng Cao là ứng cử viên Dân Biểu Quốc Hội thuộc đảng Cộng hòa tranh cử ở quận hạt thứ 10 của tiểu bang Virginia vào tháng 6/2022.

Đại tá Cao đã phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ hơn 25 năm tại một số vùng xung đột nóng bỏng của chiến trường Iraq và Afghanistan



Việt Lê Quốc

 

Tuesday, June 20, 2023

Cái Hay của Từ Ngữ Việt

 Từ ngữ

Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. 

Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.

Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?

‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.

Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’.

Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?

‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.

‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa. 

Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?

‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này []. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.

Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.

Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?

Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.

Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.

Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?

‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên,  ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.

‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tác’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.

Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,… 

Riêng từ ‘to tác’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.

Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘’ có nghĩa gì không?

‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.

Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ (
) chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao). 
Truyện Kiều có câu: ‘Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’. Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

Bếp núc

– Bếp là nơi nấu ăn;

– Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)

 

Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa

– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
– Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm. 

Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa

– Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
– Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.

Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.

Vũ Tuấn (sưu tầm)