Friday, July 1, 2016

Bộ sưu tập sách bằng vàng ròng của nhà Nguyễn



Cận cảnh bộ sưu tập sách bằng vàng ròng của nhà Nguyễn
05-04-2016 19:00 - Theo: kienthuc.net.vn
Kim sách triều Nguyễn là một loại thư tịch cổ đặc biệt được làm bằng vàng, bạc hoặc bạc mạ vàng để ghi lại các sự việc diễn ra trong cung đình.

Từ nay tới tháng 8/2016, lần đầu tiên Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam mở cửa trưng bày chuyên đề giới thiệu một phần bộ sưu tập kim sách triều Nguyễn - một loại thư tịch cổ đặc biệt trong lịch sử Việt Nam.

 Đây là những cuốn sách được làm bằng vàng, bạc hoặc bạc mạ vàng để ghi lại sắc mệnh, chiếu dụ vua ban về các việc chính sự, lễ nghi triều đình.

 Đó là sự kiện các hoàng đế lên ngôi, lập hoàng thái tử, tấn phong hoàng hậu, vương phi hoặc ghi công, phong tước và dâng, ban tôn hiệu, thụy hiệu cho hoàng thân, quốc thích...

 Việc chế tạo kim sách giao cho Hữu ty thuộc bộ Lễ thực hiện. Lời sách do đích thân các hoàng đế tự biên soạn hoặc sai các danh nho, đại thần đương thời chấp bút.

 Quy cách kim sách được điển chế vương triều quy định rất nghiêm cẩn. Tùy theo tước hiệu được tôn phong cao thấp khác nhau mà chất liệu, kích thước, trọng lượng và số tờ kim sách khác nhau.

 Bố cục sách văn thường gồm 3 phần: mở đầu ghi niên hiệu và tên người dâng, ban kim sách; chính văn nêu lý do, ca ngợi phẩm hạnh, công đức người được dâng, ban kim sách và cuối cùng là tước hiệu được tôn, phong cùng những lời chúc tụng, những điều răn bảo cho được xứng với tước hiệu mới.

 Nội dung kim sách không những chứa đựng những thông tin giá trị về lịch sử, tư tưởng đạo đức, điển chế, điển lễ đương triều mà còn phản ảnh chân thực chân dung cuộc đời, sự nghiệp của các hoàng đế và các nhân vật ghi trong kim sách.

Hộp đựng kim sách thường được làm bằng bạc, được chế tác rất tinh xảo.

 Mặc dù quy định về kim sách rất nghiêm ngặt, nhưng tùy tình hình thực tế mà các hoàng đế đương triều cũng có những thay đổi linh động, mềm dẻo cho phù hợp.

 Năm 1862, sau khi ký hòa ước Nhâm Tuất với thực dân Pháp, hoàng đế Tự Đức đã phải thu hồi nhiều kim sách, kim ấn đã ban cho các hoàng thân, công chúa trước đây, nấu thành thỏi để bồi thường chiến phí. Nhưng theo mẫu cũ cải cấp lại bằng sách đồng để lưu giữ đời đời.

  Từ đời vua Đồng Khánh (1885 – 1889) về sau, do tình hình quốc khố nghèo nàn, những kim sách, kim bảo theo lệ cũ làm bằng vàng đều đổi thành bạc mạ vàng.

 Một số hình ảnh khác về các Kim sách nhà Nguyễn đang được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.




















Hỏi đáp Y học: Virus zika



Hỏi đáp Y học: Virút zika
24.06.2016
Thính giả Hoa Tran ở bang Oregon, hỏi:
“Thưa Bác sĩ
Tôi muốn hỏi về virút zika.
Gần đây các cháu nhà tôi rủ nhau đi Brazil xem Olympic, trong khi tôi lại nghe nhiều tin tức nói về dịch virút zika.
Xin hỏi virút Zika có “tiềm ẩn” không? Giả dụ một cô gái trong thời gian đi xem Olympic ở Brazil mùa hè này bị muỗi truyền nhiễm cho virút Zika, mà như tin tức nói là người bị nhiễm Zika như cô gái đó không thấy có triệu chứng gì đáng kể. Đến hai, ba năm sau chẳng hạn, cô gái đó mới có thai. Lúc đó virút Zika trong người cô ấy còn không, có hoạt động không để gây ảnh hưởng đến thai nhi hay không?
Tương tự, một anh thanh niên cũng bị muỗi truyền Zika như vậy, vài năm sau anh đó có con, thì Zika từ anh đó có ảnh hưởng gì đến thai bên người vợ không?
Xin cảm ơn Bác sĩ."
Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:
Zika và quyết định dự thế vận hội
Trước hết chúng ta nên nhớ là kiến thức của chúng ta về siêu vi Zika chỉ mới sơ sài thôi, và những khuyến cáo căn cứ trên các kiến thức này chưa có gì gọi là vĩnh viễn. Ví dụ siêu vi viêm gan B được nghiên cứu cả nửa thế kỷ nay mà còn có nhiều điều còn tranh luận, huống chi siêu vi Zika chỉ mới được chú ý gần đây thôi, qua dịch các em bé bị đầu nhỏ (microcephaly) sinh ra tại Brazil năm 2015, và làm cho tổ chức Y Tế Quốc Tế (WHO) tuyên bố “tình trạng khẩn cấp về y tế quốc tế” vào tháng 2 năm 2016. Người ta đã biết đến siêu vi Zika từ năm 1947 (Zika Forest, Uganda, Africa), Sau đó virus lan dần qua Đông Nam Á, qua các đảo Thái Bình Dương và đến Brazil, Nam Mỹ Châu.
Siêu vi Zika được truyền qua đường muỗi (loài Aedes aegypti) cắn/chích, hoặc hiếm hơn, do tiêp xúc tính dục (sex), do từ mẹ đang có bầu truyền qua thai nhi, và có lẽ lúc truyền máu nếu máu bị nhiễm virus. Muỗi Aedes aegypti ở những nơi có người ở, thích chích người hơn là chích các động vật khác, và chích ban ngày cũng như ban đêm; điểm này quan trọng vì ở những vùng người ta ngủ có giăng mùng ban đêm, Zika vẫn lan truyền như thường vì bị muỗi cắn ban ngày.
Đa số người mắc bịnh không có triệu chứng (asymptomatic). Nếu có: nóng sốt, nhức đầu, đau nhức khớp xương, mắt đỏ (kết mạc đỏ do mạch máu cương lên), da lên "ban" (mẩn) lấm tấm đỏ và có thể cộm lên (maculopapular rash). Nói chung, triệu chứng tương tự như siêu vi gây ra bịnh dengue và bịnh sốt xuất huyết do dengue (dengue hemorrhagic fever) ở những xứ như Việt Nam, Thái Lan, Philippines mấy chục năm nay. Virus Zika , cũng giống như virus dengue, thuộc gia đình flavivirus, và cũng có thể được muỗi Aedes aegypti truyền qua người.
Hiện nay, giới y tế thế giới xác định là virus Zika gây ra 2 bệnh quan trọng:
1) Microcephaly ở trẻ sơ sinh: bệnh đầu quá nhỏ, có thể, nhưng không phải luôn luôn, kèm theo các khuyết tật khác do não bộ ngừng phát triển trước hoặc sau khi ra đời, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau ngoài virus Zika: như mẹ nghiện rượu, bị nhiễm độc, mẹ bị virus rubella (ban người Đức, German measles), hoặc do các xương đầu kết dính với nhau sớm quá làm thể tích sọ không tăng kịp với sự tăng trưởng của bộ óc.
Nghiên cứu gồm 42 phụ nữ có bầu, bị mẩn đỏ (rash) và thử nghiệm có siêu vi Zika, cho thấy 29% thai nhi bất bình thường lúc khám bằng siêu âm, kể cả 2 thai nhi chết trong bụng, microcephaly, chậm lớn, máu lưu thông trong động mạch rốn và động mạch não thai nhi bất bình thường.
2) Hội chứng Guillain Barré: bệnh tự miễn nhiễm (autoimmune), hệ phòng thủ của cơ thể tấn công các dây thần kinh của chính cơ thể người bệnh. Tuổi nào cũng có thể bị bịnh này, tuy nhiên những bịnh nhân nam người lớn bị nhiều hơn nữ. 20-25% bị ảnh hưởng đến các cơ hô hấp của lồng ngực và thở khó khăn. Đa số bịnh nhân sẽ phục hồi, nếu được chữa trị thích đáng. Trong các đảo Polynesie thuộc Pháp, trong dịch Zika (2013-2014), GBS tăng gấp 20 lần mức trung bình.
Thời gian tiềm ẩn virus Zika (incubation period) có lẽ từ vài ngày đến một tuần, tuy nhiên chưa có số liệu chắc chắn. Người ta ước tính sau khi vào máu bệnh nhân virus Zika ở chừng 7 ngày, mặc dù ở một số bộ phận khác như trong dịch hoàn (testis) đàn ông, có thể virus tồn tại lâu hơn. Có lẽ do dịch hoàn được che chở không bị các tế bào bạch cầu của hệ miễn nhiễm (immune system) tấn công. Người ta định bệnh trong thời cấp tính bằng các phát hiện RNA của siêu vi trong máu, nước tiểu và nước miếng của bệnh nhân. Nồng độ virus Zika trong tinh dich (semen) có thể cao gấp 100.000 lần trong máu hay nước tiểu 2 tuần sau khi nhiễm trùng. CDC khuyên nam bệnh nhân nên đợi 6 tháng sau khi bệnh mới được tìm cách có con (cho phụ nữ mang bầu). Chưa có trường hợp nào phụ nữ truyền Zika qua đàn ông bằng đường tính dục.
Sau thời cấp tính, có thể phát hiện các kháng thể (antibodies) chống Zika trong máu người từng bệnh Zika trước đó; đồng thời người bệnh được miễn nhiễm (immune) với virus Zika. Chưa thấy nói đến trường hợp Zika hiện diện dai dẳng trong máu người bệnh. (chronic latent infection, tình huống tương tự như những người mắc viêm gan B mãn tính [kinh niên] mà virus có mặt trong máu họ gần như suốt đời nếu không chữa trị).
Các biện pháp phòng ngừa:
- Phụ nữ có thai tránh đến những vùng bị dịch Zika. Những vùng dịch (epidemic) là những vùng có nhiều người bệnh như Brazil và một số nước lân cận, muỗi Aedes vùng này trong 1000 con bắt được thì có 3 con mang virus.
- Việt Nam, Thái Lan, Cambodia, Philippines, India hiện nay được xếp loại trong các vùng "endemic" thỉnh thoảng mới có một ca nhiễm Zika; không bị xếp vào danh sách có "travel notice" (cảnh báo về việc giới hạn đi lại đến các xứ epidemic có cơ nguy cao hơn nhiều). Tuy nhiên, vì nhiễm Zika có thật gây tật bẩm sinh, phụ nữ có thai được khuyên nên tham khảo với bác sĩ của mình trước khi quyết định đi đến các xứ này, và nếu đi chặt chẽ tuân theo các biện pháp tránh muỗi cắn. (Xem danh sách các nước "epidemic" [active transmission of Zika virus, travel notice] và "endemic" theo phân loại của CDC [4])
- Ở Mỹ , hiện có chừng 250 người bị nhiễm Zika, nhưng đem từ nước ngoài về, trong đó 6 người phụ nữ nhiễm qua tính dục và 18 người mang thai (3/16/2016). Chưa có trường hợp nào nhiễm Zika do muỗi cắn.
- Những ranh giới địa lý virus Zika có thể thay đổi trong những tháng sắp tới lúc bắc bán cầu khí hậu mùa hè (thích hợp cho muỗi) và các nước Nam bán cầu như Brazil qua mùa đông, lạnh hơn, muỗi sẽ ít hoạt động hơn.
- Người đàn ông từng ở vùng có dịch Zika (epidemic Zika) được khuyên nên tránh sex (kể cả bằng miệng, hay qua ngã hậu môn/ oral and anal sex) với phụ nữ có thể có thai hoặc đang cố gắng để có thai. Nếu cần thì phải dùng condom (áo mưa) trong mọi trường hợp.
- Nếu trong lúc ở vùng dịch, không có triệu chứng gì của bịnh, đàn ông cũng như phụ nữ cần đợi 8 tuần mới nên tính chuyện có bầu; nếu có triệu chứng nhiễm Zika trong lúc ở vùng dịch cần đợi 6 tháng trước khi tính chuyện có con.
- Hiện nay, người ta cho rằng đối với phụ nữ không có thai, nhiễm Zika bây giờ không gây ra nguy cơ nào cho những thai nghén sau này.
- Đối với nam giới, trường hợp Zika phát hiện trong tinh dịch lâu nhất là 62 ngày, nhưng thực tế có thể lâu hơn, lâu bao nhiêu chúng ta không biết.
- Tổ chức Y tế Quốc (WHO) khuyến cáo người chồng hay bạn tình (“partners”) của phụ nữ có thai dùng condom (“safe sex”) hay kiêng không làm tình cho đến khi sanh.
- Ngoài ra cần tránh muỗi: mặc áo quần kín ít hở da, dùng thuốc thoa chống muỗi (insect repellents containing DEET, picaridin, and IR3535), ở phòng điều hoà không khí hay có lưới ở cửa. Treo mùng có tẩm thuốc giết muỗi lúc ngủ trưa (insecticide -treated mosquito net). Dùng một số áo quần, nón có tẩm thuốc chống muỗi (permethrin -treated clothing and gears). Dọn dẹp nhưng vùng chung quanh nhà và trong nhà những vũng nước, chai lọ, thùng , hồ bơi nhỏ ứ đọng nước có thể là nơi muỗi sinh sàn. 2/3 người Mỹ sống trong vùng có muỗi Aedes aegypti hay albopictus là giống có thể truyền bịnh . Biện pháp này cũng giúp ngừa các bịnh khác do muỗi truyền như West Nile virus,St Louis encephalitis virus, Dengue virus.
- Đối với người từ vùng có dịch Zika, FDA khuyên nên tránh hiến máu trong 4 tuần sau khi ra khỏi vùng đó.
- Những mốc thời gian giới hạn hoạt động tính dục nêu trên có thể thay đổi, nhờ kết quả của những hiểu biết mới và các khảo cứu sắp tới. Những vùng, những nước bị dịch virus Zika (epidemic Zika) cũng có thể thay đổi theo mùa nóng sắp tới và muỗi Aedes lan rộng ra những vùng trước đây chưa bị vì mùa đông trời lạnh.
- Cho nên cần tham khảo với bác sĩ của mình và cập nhật liên tục. Hiện nay có những khuyến cáo khác nhau về việc nên tiếp tục hay không tổ chức thế vận hội ở Brazil (The 2016 Summer Olympics, Rio de Janeiro, Brazil, from August 5 to August 21, 2016). Một nhóm chuyên gia y tế công cộng của hơn 20 quốc gia khuyên nên hoãn hoặc dời Thế Vận Hội Rio, tuy nhiên các tổ chức như CDC, WHO vẫn không đồng ý và cho rằng các yếu tố cơ nguy do dịch Zika trên 500.000 người đến tham dự thật sự có nhưng đã “bị thổi phồng” (Bs Tom Frieden, CDC) và vẫn ở mức chấp nhận được. Ngược lại, đây là một cuộc họp mặt thể thao quốc tế mà thay đổi sẽ gây ra nhiều tác dụng kinh tế và chính trị to lớn, cho nên chuyện từng cá nhân quyết định có nên tham gia hay không lại là một quyết định riêng của mỗi người tự tìm hiểu và kết luận cho mình.
Chúc quý vị thính giả may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Hỏi đáp Y học: Đông trùng hạ thảo



Hỏi đáp Y học: Đông trùng hạ thảo
22.06.2016



“Thưa Bác sĩ,
Tôi xin hỏi Bác sĩ về cây đông trùng hạ thảo. Rất nhiều loại họ quảng cáo trên TV, nhưng đông trùng hạ thảo thứ thiệt, loại tốt nhất, thì được nói là phải được lấy từ bên Tây Tạng, trên cái núi cao hơn mặt biển 5.000 mét.
Nhưng ở đây có những bà mẹ Việt Nam trồng được trong vườn nhà, và họ cũng gọi là đông trùng hạ thảo. Sau 6 tháng họ thu gặt được, thì nó cũng có những cái củ có hình dạng giống như củ nghệ, nhưng nó màu trắng và không có con sâu ở trong.
Các bà rửa sạch đi, cất, cứ để đó ăn dần, và nói rằng ‘ăn cái này rất bổ, bổ cho sức khỏe, và mình không có bệnh’.
Thưa, như vậy có đúng không, ăn như vậy có tốt không, hay có điều gì hại không?
Xin cảm ơn Bác sĩ."
Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:
Đông trùng hạ thảo
(Các tên khác: Ophiocordyceps sinensis–ghost moth caterpillar complex, Caterpillar Fungus, Caterpillar Mushroom, Cs-4, Champignon Chenille, Chinese Caterpillar Fungus, Cordyceps sinensis, Dong Chong Xia Cao, Dong Chong Zia Cao, Hsia Ts'Ao Tung Ch'Ung, Ophiocordyceps sinensis, Tochukaso, Vegetable Caterpillar.)
Đông trùng hạ thảo, nghĩa đen có nghĩa là lúc mùa đông thì là con sâu (caterpillar), lúc mùa hạ/mùa hè thì thành cây cỏ. Tên chữ Hán này do dịch từ tên Tây tạng có nghĩa con sâu mùa đông trở thành cây cỏ lúc hè sang. Gồm hai phần, stroma là phần cây nấm, đen, nâu; hay chỉ vàng lúc còn tươi, dài 5-10cm mọc ra từ đầu con sâu ; và phần con sâu đã bị khô "ướp xác' (mummified), không phân huỷ, gọi là endosclerotium.
Theo GS Đỗ Tất Lợi, trên thực tế, ở Việt Nam có hai loại thuốc này:
1. Đông trùng hạ thảo (ĐTHT) của Trung quốc, tên khoa học là Cordyceps sinensis là một giống nấm (fungus ) mọc ký sinh trên sâu non (larva) của một loại sâu thuộc họ sâu cánh bướm. Nấm và sâu hợp sinh với nhau. Mùa đông sâu nằm dưới đất, nấm tiêu thụ các chất dinh dưỡng từ con sâu. Đến mùa hạ, sâu chết, nấm mọc lên khỏi mặt đất, nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sâu. Người ta đào nguyên nấm và xác sâu còn dính nhau làm thuốc, vào tháng 6-7, rửa sạch, phơi khô, phun rượu rồi phơi khô hẳn, bó thành từng bó 10-15 con rồi buộc sợi chỉ đỏ ngang chỗ nấm. Phần sâu dài 2,5-3cm (chừng 1 inch), thân nấm chừng 3-6 cm, (lớn hơn que diêm một chút) (1-2 inch)(1).
Xuất xứ: rừng ẩm ướt các tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), Vân Nam, Tây Khang, Tây Tạng.
2. ĐTHT của Việt Nam là một loại sâu khác, tên Brihaspa atrostigmella, cũng thuộc họ sâu Cánh bướm (Lepidoptera), sống trong thân cây chít, là một loại lau mà lá dùng để gói bánh tro. Cây này tên khoa học là Thysanoloena maxima O. Kuntze, họ Lúa Poaceae, còn gọi là cây đót, cây le, cây cỏ. Cây chít cao như cây bông lau, được cắt để làm chổi vào tháng 3-4. Vào tháng 11-12, những cây bị cắt cụt thường có sâu ẩn ở trong, người ta cắt thân cây 50-60 cm, đem về xé ra và có con nhộng của sâu Brihaspa, do sâu đẻ trứng ở vỏ cây, nhộng nở ra chui vào thân cây để sống qua mùa đông. (Theo wikipedia, con bướm [moth] này còn có thể tìm thấy ở India, Nam Trung quốc, Bhutan, Bangladesh)
Nhộng trắng vàng, dài khoảng 35mm, được rửa sạch trong nước muối, rang hay sấy cho khô, tẩm mật ong, sấy khô, cuối cùng ngâm vào rượu, với các chất béo nổi lên như mỡ gà.
Nguồn gốc: Thất Khê (Lạng Sơn) hay Hoà Bình.
Cũng theo Đỗ Tất Lợi: ĐTHT được ghi vào tài liệu thuốc đông y váo giữa thế kỷ thứ 18 trong bộ Bản thảo cương mục thập di (1765), là một vị thuốc bổ, chữa thần kinh suy nhược, ho ho lao, bổ tinh khí, chữ đau lưng, bổ thận. ĐTHT của Việt Nam, mặc dù khác, cũng được dùng trong những mục đích tương tự.(1)
Đông y cho rằng đông trùng hạ thảo cân bằng hai yếu tố âm và dương vì vừa có thực vật (thảo, cây nấm) và động vật (trùng). Nên chú ý những chỉ định kể trên là theo ngôn ngữ và y lý đông y, chúng ta không thể hiểu những từ này theo y lý khoa học của tây y hiện nay.
Ngoài miền Tây Trung Hoa, các nước vùng Himalaya, như Ấn Độ, Nepal, Bhutan, ở vùng núi, cao độ từ 3000-5000 mét đều khai thác đông trùng hạ thảo "thứ thiệt" được hái trong thiên nhiên. Rất đắt tiền do tính cách sang trọng cho người dùng (status symbol, tương tự như sắm xe Rolls Royce), cũng như hy vọng thuốc gia tăng hoặc cải thiện khả năng tình dục (aphrodisiac, sinh lực và do người ta nghĩ rằng thuốc có tác dụng chữa được ung thư. Giá ĐTHT đang tăng nhanh, và năm 2013, 1 kilo giá 125.000-500.000 nhân dân tệ. Các con trùng lớn hơn còn đắt hơn nữa (2).
Các sợi nấm (khuẩn ty thể, hay mycelia) của Cordyceps sinensis có thể được trồng trong phòng thí nghiệm, và từ đó trích ra những những chất có hoạt tính, nhưng chưa được sản xuất ở tầm mức công nghệ. Có rất nhiều loại Cordyceps ngoài C. sinensis, phân bố theo những vùng địa lý khác, nhưng dễ trồng hơn để khai thác các hoạt chất tương tự.
Giới Tây Y cũng nghiên cứu dược tính của cây nấm Cordyceps. Hiện nay, người ta có thể trồng và sản xuất Cordyceps tương tự như Cordyceps sinensis thiên nhiên trong phòng thí nghiệm (Cordyceps militaris, Cordyceps guangdongensis and Isaria cicadae).(3)
Theo trang WebMD (4), cơ chế chính là Cordyceps kích thích hệ miễn nhiễm của cơ thể, và có thể có khả năng làm teo các u ung thư nhất là ung thư phổi và da. Danh sách các bệnh dùng thuốc này khá dài: ho, yếu phổi, yếu thận, rối loạn sinh lý đàn ông (male sexual dysfunction), tiểu đêm, ù tai, thiếu máu, bệnh gan, mệt mỏi suy nhược; có vẻ như là một thuốc "bổ" , đáng chú ý là trong mục đích cường dương cho đàn ông, gia tăng ý muốn tình dục (aphrodisiac) làm cho thuốc rất được hâm mộ. Có những bằng chứng chưa đầy đủ cho thấy Cordyceps có thể làm giảm độc tính một số thuốc dùng trong hoá trị liệu và trong việc ghép bộ phận.
Về tương tác giữa Cordyceps, nên chú ý, vì nó tăng cường tính miễn nhiễm của cơ thể, tác dụng hạ miễn nhiễm của một số thuốc dùng trong tây y có thể bị ảnh hưởng.
Liều lượng chưa được định chuẩn, tuỳ bịnh, tuổi tác, tình trạng sức khoẻ từng người tuỳ trường hợp. Xin nhắc lại là không phải vì có nguồn gốc thiên nhiên mà không bao giờ gây biến chứng có hại . Những phản ứng phụ được ghi nhận: bón, sình bụng, tắt kinh. Đông trùng hạ thảo chỉ được bán như là một "health supplement" và FDA không phê chuẩn việc dùng chất này làm thuốc (drug) để chữa bệnh. Các sản phẩm đa dạng trích từ các nấm Cordyceps và liên hệ với Cordyceps (Cordyceps-related fungi) được khai thác kỹ nghệ ở Trung Quốc chưa được phân loại rõ rệt, kiểm soát phẩm chất (quality control) chưa được bảo đảm và ngay các chuyên gia dược học vẫn còn bối rối về vấn đề này.
Tóm lại, ĐTHT thứ thiệt (Cordyceps sinensis) lấy từ thiên nhiên ở vùng núi Himalaya rất hiếm và đắt tiền. Phần lớn thuốc viên bán trên thị trường do nấm Cordyceps mọc trong môi trường dinh dưỡng trong phòng thí nghiệm. “ĐTHT” của Việt Nam là một loại trùng trong thân cây chít. Theo kết quả tìm hiểu, tôi không thấy dạng “đông trùng hạ thảo” nào giống như các cây mà các bà nội trợ trồng ở nhà ( “những cái củ có hình dạng giống như củ nghệ, nhưng nó màu trắng và không có con sâu ở trong”) theo như vị thính giả mô tả trong câu hỏi.
Chúc quý vị thính giả may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền




“Thưa Bác sĩ,
Tôi xin hỏi Bác sĩ về cây đông trùng hạ thảo. Rất nhiều loại họ quảng cáo trên TV, nhưng đông trùng hạ thảo thứ thiệt, loại tốt nhất, thì được nói là phải được lấy từ bên Tây Tạng, trên cái núi cao hơn mặt biển 5.000 mét.
Nhưng ở đây có những bà mẹ Việt Nam trồng được trong vườn nhà, và họ cũng gọi là đông trùng hạ thảo. Sau 6 tháng họ thu gặt được, thì nó cũng có những cái củ có hình dạng giống như củ nghệ, nhưng nó màu trắng và không có con sâu ở trong.
Các bà rửa sạch đi, cất, cứ để đó ăn dần, và nói rằng ‘ăn cái này rất bổ, bổ cho sức khỏe, và mình không có bệnh’.
Thưa, như vậy có đúng không, ăn như vậy có tốt không, hay có điều gì hại không?
Xin cảm ơn Bác sĩ."
Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:
Đông trùng hạ thảo
(Các tên khác: Ophiocordyceps sinensis–ghost moth caterpillar complex, Caterpillar Fungus, Caterpillar Mushroom, Cs-4, Champignon Chenille, Chinese Caterpillar Fungus, Cordyceps sinensis, Dong Chong Xia Cao, Dong Chong Zia Cao, Hsia Ts'Ao Tung Ch'Ung, Ophiocordyceps sinensis, Tochukaso, Vegetable Caterpillar.)
Đông trùng hạ thảo, nghĩa đen có nghĩa là lúc mùa đông thì là con sâu (caterpillar), lúc mùa hạ/mùa hè thì thành cây cỏ. Tên chữ Hán này do dịch từ tên Tây tạng có nghĩa con sâu mùa đông trở thành cây cỏ lúc hè sang. Gồm hai phần, stroma là phần cây nấm, đen, nâu; hay chỉ vàng lúc còn tươi, dài 5-10cm mọc ra từ đầu con sâu ; và phần con sâu đã bị khô "ướp xác' (mummified), không phân huỷ, gọi là endosclerotium.
Theo GS Đỗ Tất Lợi, trên thực tế, ở Việt Nam có hai loại thuốc này:
1. Đông trùng hạ thảo (ĐTHT) của Trung quốc, tên khoa học là Cordyceps sinensis là một giống nấm (fungus ) mọc ký sinh trên sâu non (larva) của một loại sâu thuộc họ sâu cánh bướm. Nấm và sâu hợp sinh với nhau. Mùa đông sâu nằm dưới đất, nấm tiêu thụ các chất dinh dưỡng từ con sâu. Đến mùa hạ, sâu chết, nấm mọc lên khỏi mặt đất, nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sâu. Người ta đào nguyên nấm và xác sâu còn dính nhau làm thuốc, vào tháng 6-7, rửa sạch, phơi khô, phun rượu rồi phơi khô hẳn, bó thành từng bó 10-15 con rồi buộc sợi chỉ đỏ ngang chỗ nấm. Phần sâu dài 2,5-3cm (chừng 1 inch), thân nấm chừng 3-6 cm, (lớn hơn que diêm một chút) (1-2 inch)(1).
Xuất xứ: rừng ẩm ướt các tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), Vân Nam, Tây Khang, Tây Tạng.
2. ĐTHT của Việt Nam là một loại sâu khác, tên Brihaspa atrostigmella, cũng thuộc họ sâu Cánh bướm (Lepidoptera), sống trong thân cây chít, là một loại lau mà lá dùng để gói bánh tro. Cây này tên khoa học là Thysanoloena maxima O. Kuntze, họ Lúa Poaceae, còn gọi là cây đót, cây le, cây cỏ. Cây chít cao như cây bông lau, được cắt để làm chổi vào tháng 3-4. Vào tháng 11-12, những cây bị cắt cụt thường có sâu ẩn ở trong, người ta cắt thân cây 50-60 cm, đem về xé ra và có con nhộng của sâu Brihaspa, do sâu đẻ trứng ở vỏ cây, nhộng nở ra chui vào thân cây để sống qua mùa đông. (Theo wikipedia, con bướm [moth] này còn có thể tìm thấy ở India, Nam Trung quốc, Bhutan, Bangladesh)
Nhộng trắng vàng, dài khoảng 35mm, được rửa sạch trong nước muối, rang hay sấy cho khô, tẩm mật ong, sấy khô, cuối cùng ngâm vào rượu, với các chất béo nổi lên như mỡ gà.
Nguồn gốc: Thất Khê (Lạng Sơn) hay Hoà Bình.
Cũng theo Đỗ Tất Lợi: ĐTHT được ghi vào tài liệu thuốc đông y váo giữa thế kỷ thứ 18 trong bộ Bản thảo cương mục thập di (1765), là một vị thuốc bổ, chữa thần kinh suy nhược, ho ho lao, bổ tinh khí, chữ đau lưng, bổ thận. ĐTHT của Việt Nam, mặc dù khác, cũng được dùng trong những mục đích tương tự.(1)
Đông y cho rằng đông trùng hạ thảo cân bằng hai yếu tố âm và dương vì vừa có thực vật (thảo, cây nấm) và động vật (trùng). Nên chú ý những chỉ định kể trên là theo ngôn ngữ và y lý đông y, chúng ta không thể hiểu những từ này theo y lý khoa học của tây y hiện nay.
Ngoài miền Tây Trung Hoa, các nước vùng Himalaya, như Ấn Độ, Nepal, Bhutan, ở vùng núi, cao độ từ 3000-5000 mét đều khai thác đông trùng hạ thảo "thứ thiệt" được hái trong thiên nhiên. Rất đắt tiền do tính cách sang trọng cho người dùng (status symbol, tương tự như sắm xe Rolls Royce), cũng như hy vọng thuốc gia tăng hoặc cải thiện khả năng tình dục (aphrodisiac, sinh lực và do người ta nghĩ rằng thuốc có tác dụng chữa được ung thư. Giá ĐTHT đang tăng nhanh, và năm 2013, 1 kilo giá 125.000-500.000 nhân dân tệ. Các con trùng lớn hơn còn đắt hơn nữa (2).
Các sợi nấm (khuẩn ty thể, hay mycelia) của Cordyceps sinensis có thể được trồng trong phòng thí nghiệm, và từ đó trích ra những những chất có hoạt tính, nhưng chưa được sản xuất ở tầm mức công nghệ. Có rất nhiều loại Cordyceps ngoài C. sinensis, phân bố theo những vùng địa lý khác, nhưng dễ trồng hơn để khai thác các hoạt chất tương tự.
Giới Tây Y cũng nghiên cứu dược tính của cây nấm Cordyceps. Hiện nay, người ta có thể trồng và sản xuất Cordyceps tương tự như Cordyceps sinensis thiên nhiên trong phòng thí nghiệm (Cordyceps militaris, Cordyceps guangdongensis and Isaria cicadae).(3)
Theo trang WebMD (4), cơ chế chính là Cordyceps kích thích hệ miễn nhiễm của cơ thể, và có thể có khả năng làm teo các u ung thư nhất là ung thư phổi và da. Danh sách các bệnh dùng thuốc này khá dài: ho, yếu phổi, yếu thận, rối loạn sinh lý đàn ông (male sexual dysfunction), tiểu đêm, ù tai, thiếu máu, bệnh gan, mệt mỏi suy nhược; có vẻ như là một thuốc "bổ" , đáng chú ý là trong mục đích cường dương cho đàn ông, gia tăng ý muốn tình dục (aphrodisiac) làm cho thuốc rất được hâm mộ. Có những bằng chứng chưa đầy đủ cho thấy Cordyceps có thể làm giảm độc tính một số thuốc dùng trong hoá trị liệu và trong việc ghép bộ phận.
Về tương tác giữa Cordyceps, nên chú ý, vì nó tăng cường tính miễn nhiễm của cơ thể, tác dụng hạ miễn nhiễm của một số thuốc dùng trong tây y có thể bị ảnh hưởng.
Liều lượng chưa được định chuẩn, tuỳ bịnh, tuổi tác, tình trạng sức khoẻ từng người tuỳ trường hợp. Xin nhắc lại là không phải vì có nguồn gốc thiên nhiên mà không bao giờ gây biến chứng có hại . Những phản ứng phụ được ghi nhận: bón, sình bụng, tắt kinh. Đông trùng hạ thảo chỉ được bán như là một "health supplement" và FDA không phê chuẩn việc dùng chất này làm thuốc (drug) để chữa bệnh. Các sản phẩm đa dạng trích từ các nấm Cordyceps và liên hệ với Cordyceps (Cordyceps-related fungi) được khai thác kỹ nghệ ở Trung Quốc chưa được phân loại rõ rệt, kiểm soát phẩm chất (quality control) chưa được bảo đảm và ngay các chuyên gia dược học vẫn còn bối rối về vấn đề này.
Tóm lại, ĐTHT thứ thiệt (Cordyceps sinensis) lấy từ thiên nhiên ở vùng núi Himalaya rất hiếm và đắt tiền. Phần lớn thuốc viên bán trên thị trường do nấm Cordyceps mọc trong môi trường dinh dưỡng trong phòng thí nghiệm. “ĐTHT” của Việt Nam là một loại trùng trong thân cây chít. Theo kết quả tìm hiểu, tôi không thấy dạng “đông trùng hạ thảo” nào giống như các cây mà các bà nội trợ trồng ở nhà ( “những cái củ có hình dạng giống như củ nghệ, nhưng nó màu trắng và không có con sâu ở trong”) theo như vị thính giả mô tả trong câu hỏi.
Chúc quý vị thính giả may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền