Friday, February 19, 2016

Dịch vụ giải trí khi trên chuyến bay có wifi

Dịch vụ giải trí khi trên chuyến bay có wifi
Katia Moskvitch
·         16 tháng 2 2016
vận tải hành khách hàng không đường dài bắt đầu hoạt động, khinh khí cầu Zeppelin Hindenburg đã được trang bị một chiếc đàn dương cầm lớn cùng với phòng khách, phòng ăn, phòng hút thuốc và một quầy rượu.
Trước đó, các khinh khí cầu cũng thường có nhạc công chơi các nhạc cụ nhỏ như đàn phong cầm để giúp hành khách tiêu khiển.
Những chuyến bay dài dường như luôn cần sự giải trí để hành khách khỏi bị buồn chán.
Sau Đệ nhị Thế chiến và mãi cho đến tận thập niên 1990, mức độ giải trí cao nhất mà hành khách đi máy bay có thể có được chỉ là xem phim: thời gian đầu là dùng máy chiếu, sau đó mới có một số màn hình ti vi hạ xuống từ trần máy bay.
Một số hãng hàng không có phục vụ âm nhạc cho hành khách: ban đầu là bằng những ống hơi nhỏ truyền âm thanh đến tai hành khách, rồi sau đó là có bộ tai nghe điện tử đàng hoàng được cắm vào phần tựa tay bên ghế ngồi.
Giờ đây đương nhiên việc giải trí trên các chuyến bay là một việc hết sức quan trọng. Và việc này không hề rẻ chút nào – các hãng phải bỏ ra gần 15.000 Mỹ kim cho mỗi ghế ngồi để trang bị màn hình cho phép xem TV theo nhu cầu, xem phim hay chơi games khi đang bay.
Tuy nhiên, hình thức giải trí trên máy bay sắp bước qua một sự thay đổi nữa: các máy bay giờ đây đã được nối mạng Internet nên hành khách có thể xem các nội dung trực tiếp trên các thiết bị điện tử cá nhân.
Vậy việc này sẽ thay đổi trải nghiệm của hành khách như thế nào?
Chọn xem nội dung giải trí theo nhu cầu
Một trong những yếu tố lớn nhất dẫn đến sự thay đổi các hình thức giải trí trên máy bay là việc các máy bay giờ đây đã được kết nối mạng nhanh hơn nhiều qua vệ tinh.
Wifi giờ đây đã trở thành điều bình thường trên nhiều chuyến bay ở Mỹ và những nơi khác trên thế giới cũng đang làm theo.
Không phải wifi trên máy bay lúc nào cũng được cung cấp miễn phí: hành khách phải trả khoảng 5 đô la một giờ hay 16 đô la để được nối mạng trọn ngày.
Trong vòng năm năm qua, hơn 60 hãng hàng không đã sử dụng máy bay Airbus có trang bị wifi, theo Gregor Dirks của Airbus.
Bất chấp chi phí đắt đỏ, việc có wifi trên chuyến bay thật sự có ảnh hưởng đến hãng hàng không và loại máy bay mà hành khách lựa chọn, theo nội dung phúc trình năm 2014 của Honeywell Aerospace.
“Hai phần ba những người được khảo sát chọn các máy bay có trang bị wifi để họ vẫn có thể làm việc, giải trí hay kết nối được với người khác khi đang bay."
"Chúng tôi cũng thấy là hành khách sẵn sàng hy sinh thứ khác để đảm bảo chuyến bay của họ có wifi. Điều này đồng nghĩa với việc họ phải chịu thời gian kiểm tra an ninh sân bay dài gấp đôi và phải làm thủ tục check-in sớm,” Steven Brecken từ Honeywell Aerospace nói.
Hành khách sẵn sàng hy sinh thứ khác để đảm bảo chuyến bay của họ có wifi. Điều này đồng nghĩa với việc họ phải chịu gấp đôi kiểm tra an ninh sân bay và phải làm thủ tục check-in sớmSteven Brecken, Honeywell Aerospace
Mặc dù vậy, đa phần hành khách chỉ có thể lướt web, kiểm tra hộp thư và làm các việc đòi hỏi mức băng thông hẹp; việc xem phim qua các dịch vụ như Netflix và Amazon bị chặn trên nhiều chuyến bay với lo ngại về đường truyền và dung lượng.
Chi phí đắt đỏ
Việc cho phép kết nối mạng wifi trên chuyến bay là không chỉ để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Wifi nhanh, ổn định trên máy bay là một điểm cộng cho các hãng hàng không. “Có lẽ đa số mọi người đều không biết rằng lý do khiến các máy bay nhỏ, thân hẹp như B737 hay A320 không có wifi là bởi vấn đề trọng lượng và chi phí,” Anahita Poonegar thuộc InterTrust Technologies Corporation vốn thiết kế các hệ thống giải trí trên máy bay, cho biết.
Chi phí thì rất tốn kém. Việc bảo trì hệ thống giải trí trên máy bay là khoản chi lớn thứ ba của hãng Air France trong năm 2011 – sau chi phí bảo trì động cơ và bộ phận hạ cánh của máy bay.
Khoản này có thể “lên tới 7,8 triệu Mỹ kim cho mỗi máy bay tùy thuộc vào loại phi cơ và cấu hình máy bay,” Koen Spaanderman, kỹ sư tại Đại học Khoa học Ứng dụng Amsterdam, nói. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi ghế ngồi ngốn hết 15.000 đô la chi phí lắp đặt.
Việc cắt giảm các khoản chi phí lắp đặt giải trí tại ghế ngồi đã được tính đến và áp dụng.
Hồi 2012, hãng hãng không Pháp OpenSkies đã quyết định không lắp đặt hệ thống xem phim thông thường nơi ghế ngồi trên dàn máy bay Boeing 757 của mình.
Thay vào đó, họ phát cho mỗi hành khách một chiếc iPad có sẵn nhiều phim ảnh phong phú. Với cách làm này, họ chỉ tốn khoảng 250.000 đô la cho mỗi máy bay thay vì tốn đến 3 triệu Mỹ kim.
Kể từ đó, công nghệ đã phát triển và giờ đây các hãng hàng không muốn tiến xa hơn một bước nữa – họ hướng đến việc tải phim ảnh theo yêu cầu, với dịch vụ cho phép hành khách có thể xem trực tiếp trên thiết bị điện tử của họ thông qua wifi trên máy bay.
Ở Bắc Mỹ, Southwest Airlines, United, Delta và Jetstar nằm trong số các hãng hàng không cho phép hành khách làm việc này.
Các hãng hàng không khác cũng có dịch vụ tương tự, chẳng hạn như Qantas của Úc, Norwegian Air của Na Uy, hay Monarch và Lufthansa của Đức.
Tuy nhiên các nội dung giải trí không nhất thiết chỉ giới hạn ở những gì đã được hãng hàng không cài sẵn.
Hồi tháng Sáu 2015, hãng JetBlue Airways đã cung cấp dịch vụ Amazon Prime cho các thành viên khi đang bay.
Trở ngại phía trước
Tuy nhiên, có những thách thức mà ngành hàng không cần phải vượt qua bên cạnh việc lo cho đảm bảo đủ đường truyền, tốc độ nối mạng đủ nhanh để hành khách không bị gián đoạn khi xem phim.
Nhưng các công ty tin chắc rằng vấn đề này chỉ là tạm thời. Hệ thống vệ tinh Global Xpress của công ty Inmarsat, dự án không gian thương mại lớn nhất của nước Anh, theo dự kiến đi vào hoạt động vào cuối năm 2015; hai trong số ba vệ tinh của họ đã bay vào quỹ đạo.
dụng vệ tinh Ka-band tần số cao để tăng tốc độ mạng Internet trên các chuyến bay một cách đáng kể.
“GX là hệ thống vệ tinh sử dụng cho các máy bay,” Brecken cho biết, “với tốc độ wifi cho phép hành khách tải phim, chơi games và kết nối giống như khi họ ở trên mặt đất.”
Ngoài vấn đề đường truyền, còn có những thách thức khác như thời gian dùng pin, sắp xếp chương trình, chọn cài nội dung, vị trí đặt máy và góc xem (một số máy bay giờ đây đã có chỗ để máy tính bảng nơi ghế ngồi). Rồi còn nguy cơ an ninh về việc hệ thống wifi trên máy bay bị tấn công.
Một vấn đề quan trọng nữa là làm sao để chứng nhận và triển khai dịch vụ này trên tất cả các máy bay, Norbert Muller, phó chủ tịch cấp cao của Lufthansa Systems, nói.
“Trong nhiều trường hợp dịch vụ này không hề miễn phí và chi phí, nhất là chi phí nối mạng, thường là cao hơn rất nhiều so với khi bạn kết nối khi ở trên mặt đất.”
Vậy thì các hành khách đi máy bay có thể trông đợi có được những gì? Màn hình HD có thể uốn cong, công nghệ 3D hay môi trường thực tế ảo? Tất cả đều đang được xem xét.
Chẳng bao lâu nữa chúng ta có thể có những màn hình trên máy bay để có thể nói chuyện trực tiếp với người thân cách đó hàng trăm dặm, và thậm chí có thể dùng loại găng tay đặc biệt để 'chạm' được vào người thân.
Nghe có vẻ xa vời quá chăng?
Những công nghệ này hiện nay ‘đã thực hiện được’, Martin Raymond, nhà đồng sáng lập Future Laboratory vốn kết hợp với công cụ tìm kiếm chuyến bay Skyscanner để cho ra phúc trình về tương lai của hàng không vào năm 2024, nói.
Các hệ thống nguyên mẫu đã được chế tạo, "cực kỳ đắt vào lúc này nhưng sẽ giảm giá khi được sản xuất phục vụ đại chúng,” Raymond phân tích.
“Giờ đây hành khách ở Mỹ cảm thấy bực bội nếu chuyến bay của họ không có wifi,” Al St Germain, phó chủ tịch cao cấp của công ty tiếp thị trên chuyến bay Spafax, nói.
“Thách thức lớn nhất đối với bất kỳ hãng hàng không nào cũng là việc phải đáp ứng được những mong đợi này của hành khách. Các hãng hàng không thường phải đưa ra trước nhiều năm những quyết định rất tốn kém về sản phẩm và dịch vụ – làm sao có thể biết được hành khách sẽ đòi hỏi gì vào năm tới hay trong năm 2017?”
Bản tiếng Anh bài này đã đăng trên BBC Future.


Monday, February 15, 2016

Gót chân Asin của Trung Quốc: Cơ hội để thoát Trung


Gót chân Asin của Trung Quốc: Cơ hội để thoát Trung
Nguyễn Quang Duy

“Trung Quốc là một gã khổng lồ đang ngủ. Hãy để cho nó ngủ, bởi vì khi nó tỉnh dậy, nó lẽ làm đảo lộn thế giới” (Napoleon Bonaparte)
Mỗi khi đề cập đến tình hình kinh tế hay chính trị của Việt Nam (như dịp Đại hội Đảng vừa qua), yếu tố Trung Quốc lại nổi cộm lên ám ảnh như một đám mây đen (hay nghiệp chướng của địa lý và lịch sử). Đã nhiều lần trong lich sử, người Việt dũng cảm đấu tranh để “thoát Trung”. Nhưng từ sau thỏa thuận Thành Đô (1990), Việt Nam lại bị đám mây đen Trung Quốc bao phủ như cái vòng kim cô (hay cái bẫy ý thức hệ). Vì vậy, muốn “thoát Trung”, chúng ta cần lý giải gót chân Asin của Trung Quốc, xem Trung Quốc thực sự mạnh hay yếu, để Việt Nam tìm cơ hội “thoát Trung”.  
Có những cách lý giải khác nhau, nhưng trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần 3 điều kiện cơ bản để “thoát Trung”. Thứ nhất, cần nội lực mạnh: Trên dưới một lòng, trong ngoài hợp tác, quyết tâm đổi mới thể chế và ý thức hệ, để cường thịnh kinh tế và độc lập chính trị (không lệ thuộc vào Trung Quốc). Thứ hai, cần ngoại lực mạnh: Việt Nam và Mỹ cùng xoay trục, trở thành đối tác chiến lược, trên cơ sở hợp tác TPP để tái cân bằng (chứ không phải để chống Trung Quốc). Thứ ba, mỗi khi Trung Quốc khủng hoảng nội bộ, họ thường gây ra khủng hoảng bên ngoài (như tại Biển Đông) để làm giảm sức ép trong nước. Có thể đây là cơ hội cho Việt Nam “thoát Trung” (như một hệ quả không định trước). 
Trung Quốc mạnh hay yếu?
Nhiều người cho rằng Trung Quốc đang ở đỉnh cao quyền lực. Đúng là Trung Quốc đã trỗi dậy với kỳ tích phát triển kinh tế, có tốc độ tăng trưởng hai con số trong gần ba thập kỷ. Trung Quốc đã trở thành công xưởng của thế giới, xuất khẩu hàng hóa khắp toàn cầu. Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (chỉ sau Mỹ), và đang cạnh tranh với Mỹ về kinh tế và quân sự, với tham vọng sẽ vượt Mỹ. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2015 là 144 tỷ USD (chỉ đứng sau Mỹ). Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, với 1.300 tỷ USD tài sản (chủ yếu là trái phiếu). Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đứng đầu thế giới, với 3.300 tỷ USD (năm 2015). Hai trăm triệu người Trung Quốc đã trở thành trung lưu. Đồng Nhân dân Tệ đã trở thành ngoại tệ mạnh (trong giỏ SDR).     
Nhưng đó là quyền lực cứng, còn quyền lực mềm thì sao? Trung Quốc đã ý thức được tầm quan trọng của quyền lực mềm và đã đầu tư gần 10 tỷ USD cho chương trình tuyên truyền “quyến rũ thế giới” (Charm Offensive). Nhưng Trung Quốc không thành công vì ngộ nhận quyền lực mềm giống như công tác tuyên huấn, hoặc “giống như làm đường sắt cao tốc” (David Shambaugh). Đây là một điểm yếu cơ bản của Trung Quốc không thể nào khắc phục được, chừng nào Trung Quốc không chịu cải cách chính trị và dân chủ hóa để phát triển xã hội dân sự (là tiền đề cho quyền lực mềm). Dù Trung Quốc có bỏ ra kinh phí khổng lồ cho “Charm Offensive” để tuyên truyền về “Giấc mộng Trung Hoa” (China Dream), hay tính ưu việt của CNXH “mang Màu sắc Trung Quốc”, thì cũng không thể nào thuyết phục được thế giới (hay người dân Trung Quốc) tin vào chế độ hiện nay, nếu họ tiếp tục chính sách cực đoan đầy tham vọng, nhằm duy trì nguyên trạng (trong nước), hay thay đổi nguyên trạng (ngoài nước). 
Trong quá trình phát triển nóng, Trung Quốc đã bộc lộ nhiều điểm yếu cơ bản mang tính quy luật và hệ thống, không thể khắc phục được. Đó là môi trường ô nhiễm và ngộ độc thực phẩm ngày càng tăng, mỗi năm làm 1,6 triệu người chết vì ô nhiễm không khí (trung bình mỗi ngày có hơn 4000 người chết). Vì vậy, khi 3 chiến hạm của Hải quân Trung quốc (PLAN) ghé thăm hữu nghị cảng Brisbane gần đây (2/1/2016), người dân Úc thấy hầu hết thủy thủ tàu 152 đã đổ xô đi mua gom loại sữa bột trẻ em “Aptamil 3”, là loại sữa bột được người dân Trung Quốc ưa chuộng. Đó là khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn (đứng đầu thế giới) với hệ số Gini là 0,61% (mức báo động có thể dẫn đến bất ổn xã hội). Ví dụ, 70 người giàu nhất Quốc Hội Trung Quốc có tài sản trung bình 1 tỷ USD (cao hơn cả Mỹ). Đó là quy mô đô thị hóa khổng lồ để gia tăng thị trường trong nước (đối phó với giảm xuất khẩu). Nhưng làn sóng di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị đã bắt đầu đảo ngược, giảm 5,68 triệu người (năm 2015).  Tết 2016 là bước ngoặt với hàng chục triệu người dân trở về quê mà không quay lại thành phố (nơi cuộc sống đắt đỏ, môi trường ô nhiễm, đe dọa thất nghiệp). Kế hoạch di dân khổng lồ ra thành phố để thực hiện chương trình cải cách 10 năm đầy tham vọng của thủ tướng Lý Khắc Cường có thể thất bại.
Trong khi người nghèo Trung Quốc đang bỏ thành phố trở về quê (di dân ngược), thì người giàu Trung Quốc bỏ đất nước di cư ồ ạt ra nước ngoài. Theo Hurun Report (August 2014), 64% người giàu (có trên 1,6 triệu USD) đã hoặc định di cư khỏi Trung Quốc. (Andrew Browne, The Great Chinese exodus, the Wall Street Journal, August 15, 2014). Việc di cư ồ ạt đồng nghĩa với chuyển tiền ổ ạt ra nước ngoài. Theo Bloomberg intelligence, 1.000 tỷ USD đã tháo chạy khỏi Trung Quốc năm 2015, tăng gấp 7 lần so với 2014. Đây là hệ quả của khủng hoảng lòng tin không thể kiểm soát được, dù có xây vạn lý trường thành xung quanh Trung Quốc cũng không ngăn cản được. Theo luật thì mỗi người dân Trung Quốc được phép chuyển ra nước ngoài 50.000 USD (mỗi năm). Chỉ cần 5% dân số Trung Quốc (1,3 tỷ người) chuyển tiền ra nước ngoài (hợp lệ) thì dự trữ ngoại hối của Trung Quốc hiện nay sẽ biến mất. 
Bức tranh kinh tế vĩ mô của Trung Quốc đáng lo ngại. Trong khi GDP tăng ở mức khoảng 7%, trong 7 tháng đầu năm 2015, tổng kim ngạch thương mại đã giảm 7,3% (xuất khẩu giảm 8,8% và nhập khẩu giảm 8,6%). Chỉ số PPI đã giảm 42 tháng liên tiếp, xuống mức thấp kỷ lục là -5,4% trong tháng 7/2015.  Đồng Nhân dân Tệ bị phá giá liên tiếp và thị trường chứng khoán tiếp tục lao dốc (thậm chí phải đóng cửa) gây hoang mang và hỗn loạn trên thị trường. Dự trữ ngoại hối giảm xuống mức 3.650 tỷ USD vào tháng 7/2015, từ mức đỉnh cao là 3.990 tỷ USD (cách đây một năm). Tính đến cuối năm 2015 dự trữ ngoại hối đã giảm 513 tỷ, còn 3.300 tỷ USD; Riêng trong 1/2016 dự trữ ngoại hối giảm 99,5 tỷ USD, còn 3.230 tỷ USD. Dự kiến 2016, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc có thể giảm 300 tỷ, chỉ còn 3.000 tỷ USD. 
Các chuyên gia nói gì?
Sau ba thập kỷ phát triển kinh tế với tốc độ hai con số, được cả thế giới ngưỡng mộ như một hiện tượng thần kỳ, “mô hình Trung Quốc” đã bộc lộ những điểm yếu cơ bản có tính hệ thống, trong đó cải cách kinh tế mà  không cải cách chính trị là một tử huyệt trong chương trình “Bốn Hiện đại Hóa” (nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng, khoa học công nghệ) để biến Trung Quốc thành một cường quốc hiện đại. “Bốn Hiện đại Hóa” mà không dân chủ hóa (đàn áp dã man “Pháp Luân công”), tôn vinh làm giàu và sức mạnh cứng mà không biết cách xây dựng “sức mạnh mềm” (vô cảm), phát triển nóng bất chấp cái giá phải trả về hủy hoại môi trường sống (gây ô nhiễm nặng nề), thì phát triển không thể bền vững. Trước khi nghỉ hưu, thủ tướng Ôn Gia Bảo và các nhà cải cách khác đã kêu gọi cải cách chính trị để cứu vãn thành quả cải cách kinh tế, nhưng lãnh đạo Đảng CSTQ vẫn duy trì chế độ độc tài, độc đảng.
Ngày càng nhiều chuyên gia về Trung Quốc (và các nhà đầu tư) mất lòng tin vào “Mô hình trung Quốc” và cảnh báo về những nguy cơ tiềm ẩn. Không phải họ ghét hay chống Trung Quốc nên “độc mồm độc miệng”, mà nhiều người trong số họ đã từng ủng hộ các chương trình cải cách của Trung Quốc. Hãy điểm lại một số ví dụ điển hình xem các chuyên gia đó nói gì.
Trước hết là luật sư Gordon Chang (một học giả về Trung Quốc) ngay từ năm 2001 đã cảnh báo Trung Quốc sẽ sụp đổ “trong vòng năm đến mười năm tới” (Gordon Chang, “the Coming Collapse of China”, Random House, 2001). Theo Gordon Chang, dưới cái vỏ hiện đại, Trung Quốc là “con hổ giấy” với nhiều dấu hiệu đồi bại vì cải cách nửa vời đã làm cho quốc gia này “mắc kẹt giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản”. Nhiều người chỉ trích quan điểm quá bi quan của Gordon Chang vì sau 10 năm Trung Quốc vẫn tồn tại và phát triển. Năm 2011 Gordon Chang thừa nhận mình đã dự báo “sai mất một năm”, nhưng vẫn giữ quan điểm cũ, và còn cược là Trung Quốc sẽ sụp đổ vào năm 2012. (Gordon Chang, “the Coming Collapse of China: 2012 Edition”, Foreign Policy, December 29, 2011). 
Tại sao Trung Quốc không sụp đổ (như các nước Đông Âu)? Andrew Nathan (một học giả về Trung Quốc tại Đại học Columbia) giải thích bằng thuyết “sức bật của chuyên quyền” (Andrew Nathan, “Authoritarian Resilience”, Journal of Democracy, January 2003).  Theo Nathan, sự trỗi dậy của nền độc tài (Trung Quốc) phản ánh sự suy yếu của nền dân chủ (Mỹ). Muốn đối phó với thách thức hiện nay (Trung Quốc nổi lên và lấn sân Mỹ), các nước dân chủ phải quản trị tốt hơn (Andrew Nathan, “China’s Challenge”, Journal of Democracy”, January 2015). Francis Fukuama (Đại học Johns Hopkins) cũng chia sẻ quan điểm tương tụ  trong cuốn sách phân tích thực trạng suy thoái của nền dân chủ Mỹ và Châu Âu (Francis Fukuama, “Political Order and Political Decay”, Farrar Straus Giroux, 2014). 
Giáo sư Minxin Pei (một học giả về Trung quốc, giám đốc Trung Tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Đại học Claremont McKenna) đã nghiên cứu về chiến lược cải cách của Trung Quốc trong bối cảnh đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo, và đi đến kết luận là thay vì tiến đến một nền kinh tế thị trường thực sự thì Trung Quốc “bị mắc kẹt trong quá trình chuyển đổi do những cải cách kinh tế và chính trị nửa vời”. (Minxin Pei, “China’s Trapped Transition: The Limits of Development Autocracy”, Harvard University Press, 2006). Theo Minxin Pei, quá trình chuyển đổi kinh tế tiệm tiến có thể thành công trong giai đoạn đầu, nhưng “Chủ nghĩa Tiệm tiến” (Gradualism) cuối cùng sẽ thất bại.  
Dưới thời Tập Cận Bình, xã hội Trung Quốc lại một lần nữa chìm trong nỗi lo sợ vì chiến dịch “Đả hổ Diệt ruồi” đang tiếp diễn, với 146 con hổ to đã bị sa bẫy chống tham nhũng. (Minxin Pei, “China’s Rule of fear”, Project Syndicate, February 8, 2016). Theo Minxin Pei, chính sách cai trị bằng sợ hãi (rule of fear) đang làm cho không những bộ máy chính quyền và xã hội Trung Quốc hầu như bị tê liệt vì lo sợ, mà cộng đồng kinh doanh, cộng đồng trí thức, giới truyền thông, và cả người nước ngoài, cũng đang “sống trong sợ hãi” như bị khủng bố tinh thần (giống như thời Cách mạng Văn hóa).
Hiện nay, Trung Quốc đang rơi vào cái bẫy do chính họ tạo ra, trong đó “bẫy thu nhập trung bình” là rất khó thoát. Theo World Bank, trong tổng số 35 nền kinh tế trên thế giới bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình, chỉ có 13 nền kinh tế đã vượt qua được. Mô hình Trung Quốc là một nền kinh tế bong bóng lớn nhất thế giới (và cũng cực đoan nhất thế giới), đặc biệt là bong bóng bất động sản, không thể nào chỉnh sửa được, và cũng không thể nào “hạ cánh nhẹ nhàng” (soft landing) được. Sớm muộn thì cái bong bóng khổng lồ đó sẽ phải nổ như một vụ nổ lớn trong vũ trụ, tạo ra khủng hoảng tài chính (như một cái “hố đen”) hay bị vỡ nợ (như một trận lở tuyết). Không phải ngẫu nhiên mà tỷ phú Lý Gia Thành (giàu nhất Trung Quốc với tài sản gần 40 tỷ USD) đã nhanh chân bán tài sản tại lục địa (trị giá 3 tỷ USD) để chạy khỏi thị trường Trung Quốc. Cũng không phải vô cớ mà 64% người giàu Trung Quốc đã và đang di cư ra nước ngoài, đồng thời tìm mọi cách chuyển tiền ra nước ngoài để tránh rủi ro trong nước.
Sau Gordon Chang và Minxin Pei (hai học giả người Mỹ gốc Hoa) là Paul Krugman (một nhà kinh tế học Mỹ tại Đại học Princeton) đã được giải thưởng Nobel về Kinh tế năm 2008. Năm 2013, trong một bài báo, Paul Krugman đã đưa ra những cảnh báo về Trung Quốc làm chấn động dư luận, “Trung Quốc đang gặp rắc rối to. Không phải là những thất bại nhỏ dọc đường, mà là những vấn đề cơ bản. Toàn bộ cách thức kinh doanh và hệ thống kinh tế đã từng thúc đẩy ba thập kỷ phát triển không thể tưởng tượng được, thì nay đã đến điểm dừng. Có thể nói Mô hình Trung Quốc sắp đụng phải Vạn lý Trường thành, và câu hỏi duy nhất lúc này là sự sụp đổ sẽ tồi tệ đến mức nào… Các biện pháp trì hoãn ngày phán quyết chỉ làm cho ngày đó càng thêm tồi tệ hơn khi cuối cùng nó phải xảy ra. Và ngày đó đang tới. Ngày hôm trước chúng ta còn sợ người Trung Quốc, thì bây giờ chúng ta lo ngại cho họ”… (Paul Krugman, “Hitting China’s Wall”, the New York Times, July 18, 2013). Chắc Paul Krugman không nói đùa!  
Chưa đầy hai năm sau, David Shambaugh (một chuyên gia về Trung Quốc có uy tín tại Đại học George Washington) có những nhận xét tương tự, nhưng còn mạnh hơn nữa (như một “quả bom tấn”). Năm 2008, David shambaugh xuất bản một cuốn sách về Trung Quốc, đánh giá cao năng lực của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc để thích ứng với các thách thức mới trong thập niên đầu của thế kỷ 21 (được Bắc Kinh đánh giá cao). Vì vậy, phát ngôn mới của Shambaugh về Trung Quốc đã gây sốc, “Màn chót của chế độ cộng sản ở Trung Quốc đã bắt đầu, và những biện pháp mạnh tay của Tập Cận Bình đang đưa đất nước đến gần hơn sự sụp đổ… Chúng ta không thể đoán được khi nào thì Trung Cộng sụp đổ, nhưng không thể không kết luận rằng chúng ta đang chứng kiến giai đoạn chót của nó”. (DavidShambaugh, “The Coming Chinese Crackup”, the Wall Street Journal, March 6, 2015).
Không biết động cơ thực sự của David Shambaugh là gì (qua bài báo nói trên), nhưng rõ ràng Shambaugh tỏ ra rất thất vọng trước thái độ bảo thủ và ngoan cố của lãnh đạo Trung Quốc không chịu triển khai những cải cách cơ bản để đối phó với những thách thức to lớn mà Trung Quốc đang đối mặt. Shambaugh lập luận rằng Tập Cận Bình càng cố gắng làm ngược lại với những gì Gorbachev đã làm, hòng duy trì chế độ cộng sản ở Trung Quốc, thì hệ quả của nó lại càng giống như Liên Xô. Nói cách khác, ngày càng nhiều người coi Trung Quốc như một gã khổng lồ tuy khỏe và giàu, nhưng đã mắc căn bệnh ung thư (di căn giai đoạn cuối), nên hóa xạ trị cũng không thể cứu được, nhưng lại từ chối giải phẫu.      
Gần đây, tỷ phú George Soros (nhà đầu cơ gây nhiều tranh cãi) đã dự đoán (tại Diễn đàn Kinh tế Davos tháng 1/2015) rằng, do biến động tỷ giá của đồng Nhân dân Tệ, kinh tế trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng” (hard landing) và có khả năng Trung Quốc sẽ rơi vào khủng hoảng tài chính (như Nga năm 2014). Trong khi cả thế giới vẫn còn bán tín bán nghi trước nhận định gây sốc này của George Soros thì Chính phủ Trung Quốc lại tự biến nó thành một câu chuyện đáng tin. Mặc dù Trung Quốc phản ứng rất gay gắt đối với George Soros (“đừng bao giờ quay lại Trung Quốc nữa!”), nhưng dự đoán bi quan của George Soros về tương lai kinh tế Trung Quốc đang ngày càng có vẻ chính xác.
Còn nhớ năm 2014, các nhà đầu tư nước ngoài đã ồ ạt rút vốn khỏi thị trường Nga để chuyển về nước. Trong một thời gian ngắn, họ đã đẩy nước Nga rơi vào cảnh lạm phát phi mã, nền kinh tế đình đốn do quan hệ kinh tế với Mỹ và EU bị đứt đoạn, tiêu dùng giảm sút và tăng trưởng đình trệ. Hiện nay, Trung Quốc cũng đang trải qua một tình trạng tương tự. Theo thống kê, hơn 1000 tỷ USD đã được các nhà đầu tư rút khỏi thị trường Trung Quốc trong năm 2015. Việc một lượng quá lớn USD biến khỏi thị trường Trung Quốc chỉ trong vòng một năm đang đẩy nền kinh tế số hai thế giới lâm vào tình cảnh tương tự như Nga hồi cuối năm 2014. Áp lực tỷ giá đối với đồng Nhân dân Tệ tại thời điểm hiện nay lớn hơn bao giờ hết, khi nó liên tục bị mất giá kể từ khi được IMF cho vào giỏ tiền tệ SDR (12/2015).
Một số chuyên gia về Trung Quốc cho rằng Tập Cận Bình đang theo đuổi một chính sách đối ngoại và an ninh đầy tham vọng (nhưng cũng đầy rủi ro), thách thức trật tự an ninh của Mỹ tại Châu Á-TBD, bất chấp lời khuyên của Đặng Tiểu Bình (và có thể chôn vùi di sản cải cách của Đặng Tiểu Bình). Tại Châu Á, Trung Quốc đã cam kết hơn 100 tỷ USD góp vốn cho Ngân hàng Hạ tầng Châu Á (AIIB). Tại Châu Mỹ La tinh, Trung Quốc đã cho vay gần 120 tỷ USD (từ năm 2005). Tại Châu Phi, Trung Quốc cũng đã đầu tư và cho vay hơn 100 tỷ USD. Trong khi đầu tư khổng lồ vào các dự án lớn đầy phiêu lưu về kinh tế và quân sự, lãnh đạo Trung quốc đã trở nên kiêu ngạo và quá tự tin vào quyền lực cứng, mà không biết cách xây dựng quyền lực mềm (một tiêu chí cơ bản của siêu cường), trong khi thể chế kinh tế và chính trị của Trung quốc đang tiềm ẩn và bộc lộ những tử huyệt đe dọa sự sống còn của chế độ.  
Biển Đông sẽ ra sao?
Mỗi khi trong nước khủng hoảng nội bộ (sức ép lên cao) thì lãnh đạo Trung Quốc lại gây ra khủng hoảng với bên ngoài để “tháo ngòi nổ bên trong” (như một quy luật). Nhưng lần này có khác là lãnh đạo Trung Quốc tin rằng thời cơ đã tới và quân đội Trung Quốc (PLA) đã đủ sức mạnh để thách thức Nhật và Mỹ. Vì vậy, Trung Quốc đã chủ động gây ra khủng hoảng với Nhật, tranh chấp đảo Điếu Ngư (Senkaku) và áp đặt khu nhận diện phòng không (ADIZ) tại Biển Hoa Đông, nhằm: (1) kích động tinh thần dân tộc (cực đoan) của người Trung Quốc, (2) phô diễn sức mạnh mới để đòi thay đổi nguyên trạng (với Nhật) tại Đông Bắc Á, (3) nhân đó “rửa vết nhục lịch sử” (muốn người Nhật phải xin lỗi). Làn sóng chống Nhật tại Trung Quốc chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc hầu như đã đạt được mục tiêu nói trên.
Nhưng cái giá phải trả (và hệ quả không định trước) cũng rất lớn. Không những nhiều nhà đầu tư Nhật rút vốn khỏi thị trường Trung Quốc, mà Chính phủ Nhật còn có “cơ hội vàng” thay đổi Hiến pháp (điều 9) để tái vũ trang, một điều mà chưa chính phủ Nhật nào dám làm (sau chiến tranh).
Trong khi chưa ai có thể lường hết được hệ quả của việc “Nhật tái vũ trang” sẽ làm thay đổi cán cân chiến lược tại Đông Á như thế nào, thì Trung Quốc gây ra khủng hoảng tại Biển Đông, nhằm: (1) kích động tinh thần dân tộc (cực đoan) của người Trung Quốc, (2) phô diễn sức mạnh mới để đòi thay đổi nguyên trạng (với Mỹ) tại Đông Nam Á, (3) áp đặt chủ quyền tiến tới độc chiếm Biển Đông nơi giàu tài nguyên biển (dầu hỏa và hải sản), có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng (hơn cả Biển Hoa Đông), trong khi ASEAN còn yếu, dễ phân hóa, và cam kết của Mỹ tại đây còn lỏng lẻo (so với Nhật Bản và Hàn Quốc). Nhưng cái giá phải trả (và hệ quả không định trước) của việc Trung Quốc đưa dàn khoan HD 981 vào Biển Đông (5/2014), ráo riết san lấp các đảo nửa chìm nửa nổi và xây dựng sân bay và hạ tầng quân sự trên 7 đảo tại khu vực Hoàng Sa và Trường Sa, cũng rất lớn, chưa thể lường hết được.
Sự kiện dàn khoan HD981 đã tạo ra một bước ngoặt lớn (và khủng hoảng) trong quan hệ Trung-Việt, làm thay đổi cán cân tam giác chiến lược Mỹ-Trung-Việt tại Đông Á. Muốn hay không, lãnh đạo Hà Nội (nhất là phái bảo thủ) đã bị sốc, buộc phải xem xét lại những cam kết với Trung Quốc (tại Thành Đô), phải “xoay trục” xích lại gần Mỹ hơn. Chuyến thăm Mỹ chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một dẫn chứng. Muốn hay không, Chính quyền Obama cũng buộc phải xem xét lại chính sách Trung Quốc, phải “xoay trục” mạnh hơn để “tái cân bằng” quyền lực với Trung Quốc tại Đông Á, thúc đẩy tiến trình ký kết thỏa thuận TPP, tăng cường cam kết an ninh và hợp tác quốc phòng với ASEAN (đặc biệt là với Philippines và Việt Nam) để “ngăn chặn” Trung Quốc. Washington đã quyết định điều tàu chiến tuần tra đảm bảo tự do hàng hải (FONOP) tại Biển Đông (2 lần với “innocent passage”) trong khu vực 12 hải lý quanh các đảo đang tranh chấp tại Trường Sa và Hoàng Sa, để thách thức Trung Quốc.     
Tuy nhiên, những tuyên bố và hành động để triển khai chính sách “tái cân bằng” của Chính quyền Obama (từ năm 2011) chưa phải là một chiến lược tổng thể rõ ràng, chặt chẽ và nhất quán cho khu vực Châu Á-TBD, đặc biệt là để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc đang hành xử một cách quyết đoán, cưỡng ép các nước khác tại Biển Đông. Điều này đòi hỏi Mỹ phải đánh giá lại chính sách đối với Trung Quốc, việc phối hợp với đồng minh và đối tác để duy trì trật tự và ổn định tại đây, nếu không Trung Quốc sẽ biến Biển Đông “thành cái ao nhà của họ vào năm 2030, giống như biển Caribbean hoặc vịnh Mexico đối với Mỹ”. (Asia-Pacific Rebalance 2025, CSIS Report, January 2016).
Việt Nam đang ở đâu?
Trong 124 nền kinh tế trên thế giới được World Bank đánh giá, có 52 nền kinh tế ở mức thu nhập trung bình, trong đó có 35 nước đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình, nhưng chỉ có 13 nước đã vượt qua được cái bẫy này để trở thành những nước có thu nhập cao. Ở khu vực Đông Á chỉ có 5 nền kinh tế là Nhật Bản, Hong Kong, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore nằm trong số đó.
Thường các nước bị sa vào bẫy thu nhập trung bình khi tốc độ tăng trưởng bị trì trệ kéo dài nhiều năm mà không vượt qua được mức thu nhập trung bình (khoảng từ 2000 đến 4000 USD/năm). Việt Nam thuộc nhóm nước thu nhập trung bình thấp, có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Trong khi tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2015 là 6,68%  thì thu nhập bình quân đầu người là 2.300 USD/năm. Theo con số của Tổng cục Thống kê (tại hội thảo “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoan 2015-2035”) bình quân đầu người của Việt Nam đã bị tụt hậu sau Hàn Quốc 35 năm, sau Malaysia 25 năm, sau Thailand 20 năm, sau Indonesia và Philippines 5-7 năm. Năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam rất thấp (so với các nước khu vực Châu Á).
Nhưng điều còn đáng lo ngại hơn là chính phủ Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào chính phủ Trung Quốc cả về kinh tế lẫn chính trị (trong khi phong trào nhân quyền và dân chủ hóa tại hai nước chẳng liên kết gì với nhau). Chưa biết TPP có giúp tháo gỡ được vấn nạn này hay không, nhưng hiện nay tỷ trọng nguyên liệu đầu vào phải nhập của Trung Quốc là 60%. Cơ cấu này đang gây khó khăn rất lớn cho Việt Nam khi tham gia TPP, vì một điều kiện tiên quyết để tham gia TPP là Việt Nam phải chuyển đổi vùng nguyên liệu nhập từ các nước ngoài TPP (như Trung Quốc) sang các nước thành viên TPP. Một vấn nạn khác là các nhà thầu Trung Quốc là tổng thầu EPC của 77/106 dự án lớn tại Việt Nam, trong các lĩnh vực quan trọng như hóa chất, khai thác chế biến bauxite, xi măng và nhiệt điện.
Về thương mại, Việt Nam tiếp tục nhập siêu khổng lồ từ Trung Quốc: năm 2015 là 32,3 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2014 và được coi là con số cao nhất từ trước đến nay. Nếu tính cả con số nhập lậu (theo “tiểu ngạch”) khoảng 20 tỷ USD thì tổng giá trị nhập siêu từ Trung Quốc năm 2015 là gần 52 tỷ USD. Về tài chính, Việt nam thâm hụt ngân sách quá lớn vì bội chi, dự trữ ngân sách chỉ đủ để trả nợ nước ngoài đến hạn. Trong khi nguồn vay ưu đãi ODA đang cạn dần, thì 33 tỷ USD đã chạy khỏi Việt Nam (năm 2015) bằng nhiều con đường bất hợp pháp (rất khó kiểm soát) như buôn lậu, hoán đổi, mua tài sản để rửa tiền, dùng đồng tiền ảo. (Theo chuyên gia kinh tế Vũ Quang Việt).
Nợ công của Việt Nam đã lên tới 93 tỷ USD (tính đến cuối 2015). Theo Bộ Tài chính, nợ công chiếm 61,3% GDP, riêng nợ nước ngoài là 65,46 tỷ USD (bằng 41,5% GDP). Các doanh ghiệp nhà nước vay đến 1,6 triệu tỷ VND, nhưng sử dụng vốn không hiệu quả, và mất khả năng thanh toán. Năm 2015, số doanh nghiệp phá sản tăng vọt, trong 7 tháng đầu năm cả nước có 32.373 doanh nghiệp ngừng hoạt động. Không thể hy vọng các nhà tài trợ xóa nợ cho Việt Nam (một đất nước “không chịu phát triển”). Việt Nam đang chịu sức ép rất lớn phải cải cách thể chế, nhưng vẫn tìm cách trì hoãn cải tổ, duy trì “định hướng XHCN”. Đã đến lúc Việt Nam không thể trì hoãn đổi mới thể chế, không thể coi thường sự hợp tác và sức ép của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nhà tài trợ. Giám đốc World Bank tại Việt Nam (Victoria Kwakwa) đã thẳng thắn hỏi thủ tướng, “Chính phủ Việt Nam lấy tiền đâu để phát triển nhanh và bền vững?”
Thay lời kết
Sau Đại hội Đảng, dàn lãnh đạo mới tại Hà Nội phải tiếp tục trả lời câu hỏi trớ trêu này, trong khi họ tiếp thu một di sản kinh tế và xã hội đầy bất ổn. Trong khi đó, vấn đề cải cách thể chế cấp bách mà Bộ trưởng KH & ĐT) Bùi Quang Vinh đặt ra tại Đại hội Đảng có thể bị bỏ qua. Nếu Việt Nam không chịu đổi mới thể chế chính trị thì khó thoát khỏi cái bóng đen của Trung Quốc đang đè nặng lên số phận của dân tộc này, và lối thoát tại cuối đường hầm ý thức hệ vẫn chưa tìm thấy.
Dù cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-ASEAN sắp tới tại Sunnylands (15-16/2/2016) có bàn về Biển Đông thì vai trò của Việt Nam có thể mờ nhạt, vì thủ tướng (lameduck) sẽ không tham dự mà chỉ có một phó thủ tướng đi thay, trong bối cảnh “hậu Đại hội Đảng”. Nếu Việt Nam không thay đổi thể chế, thì chuyến thăm cuối cùng của Tổng thống Obama (dự kiến vào 5/2016) có thể trở thành một chuyến thăm xã giao, và tầm nhìn chiến lược có thể trở thành nửa vời (vì hai nước vẫn chưa trở thành đối tác chiến lược). Việt Nam có thể nhỡ chuyến tàu một lần nữa, trong khi Trung Quốc mỉm cười đắc ý…
Tham khảo
1. Andrew Browne, “the Great Chinese exodus”, the Wall Street Journal, August 15, 2014
2. Gordon Chang, “the Coming Collapse of China”, Random House, 2001; Gordon Chang, “the Coming Collapse of China: 2012 Edition”, Foreign Policy, December 29, 2011
3. Andrew Nathan, “Authoritarian Resilience”, Journal of Democracy, January 2003; Andrew Nathan, “China’s Challenge”, Journal of Democracy”, January 2015
4. Francis Fukuama, “Political Order and Political Decay”, Farrar Straus Giroux, 2014
5. Minxin Pei, “China’s Trapped Transition: The Limits of Development Autocracy”, Harvard University Press, 2006; Minxin Pei, “China’s Rule of fear”, Project Syndicate, February 8, 2016
6. Paul Krugman, “Hitting China’s Wall”, the New York Times, July 18, 2013
7. David Shambaugh, “The Coming Chinese Crackup”, the Wall Street Journal, March 6, 2015).
8. “Asia-Pacific Rebalance 2025”, CSIS Report, January 2016.
NQD. 12/2/2016.       
 Tác giả gửi cho viet-studies ngày 12-2-16
Nguồn: http://vietstudies.info/kinhte/NQuangDy_CoHoiThoatTrung.htm


Hiệu ứng giá dầu

Hiệu ứng giá dầu
Nguyên Lam & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA
2016-02-10


Dầu thô là sản phẩm chiến lược trong ý nghĩa là loại nhiên liệu cần thiết cho nền công nghiệp của các nước trên thế giới và ai làm chủ nguồn năng lượng này thì có thể chi phối nhiều quốc gia khác. Nhưng từ hơn một năm qua, giá dầu sụt mạnh đã lại gây hậu quả ngược là làm các nước bán dầu và các doanh nghiệp sản xuất bị điêu đứng. Bước vào năm Bính Thân, tiết mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hiệu ứng của dầu thô khi giá dầu sụt mạnh và gây biến động cho các thị trường chứng khoán trên thế giới. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam nêu vấn đề với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của đài Á Châu Tự Do.
“Hiệu ứng thịnh vượng ngược”
Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Hôm nay là chương trình kinh tế đầu năm của chúng ta, Nguyên Lam mong là ông đã vừa cùng gia đình ăn một cái Tết Bính Thân vui vẻ. Khi chuẩn bị đề tài kỳ này là hiệu ứng của giá dầu, Nguyên Lam tìm lại các chương trình trước vẫn được đài lưu trữ và nhớ rằng cách nay đúng một năm, trong chương trình ngày Thứ Tư 11 Tháng Hai năm 2015, ông có phân tích nguyên nhân của việc dầu thô sụt giá và khi ấy giá dầu còn ở khỏang 65 đô la một thùng ông đưa ra dự báo rằng giá có thể sụt nữa và di động trong biên độ từ hai chục đến năm chục đô la một thùng mà thôi. Ngày nay, giá đầu đã chạm mức 30 đồng và mỗi lần sụt dưới ngưỡng đó thì các thị trường cổ phiếu đều tuột giá. Ông cũng có nêu ra rằng giá đầu chỉ là một dấu hiệu của tình hình sinh hoạt kinh tế và dầu thô mà sụt giá thì đấy là triệu chứng đáng ngại cho viễn ảnh kinh tế trước mắt. Quả là từ đầu năm dương lịch, tình hình kinh tế thế giới có dấu hiệu không mấy khả quan nhưng kỳ này chúng ta sẽ tìm hiểu riêng về hậu quả của nạn dầu thô sụt giá. Ông nghĩ sao về ý kiến này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng nói về bối cảnh thì chúng ta có thể đang chứng kiến một chuyển động lớn, trăm năm mới có một lần. Khi dầu thô là nguồn năng lượng chính cho công nghiệp cách nay trăm năm thì xứ nào hay doanh nghiệp nào có dầu thì tưởng như là làm chủ thế giới. Cách nay nửa thế kỷ thì có lúc thiên hạ hốt hỏang báo động rằng sinh hoạt kinh tế hủy hoại môi sinh, thế giới sẽ đói ăn và thiếu dầu. Ngày nay, tình hình xảy ra trái ngược với dầu thô dư thừa và gây hậu qủa chưa ai lường được nên ta sẽ khởi sự từ một giác độ khác.
Thứ nhất, cuộc cách mạng về kỹ thuật gạn đá phiến ra dầu, tạm gọi là fracking, đảo lộn thế cung cầu với Hoa Kỳ và cả Canada trở thành hai nhả sản xuất mới và tăng số cung cho thế giới. Thứ hai, từ biến động năm 2008, kinh tế thế giới vẫn chưa khả quan và lại có dấu hiệu suy trầm từ Trung Quốc nên số cầu về dầu khí không tăng mà giảm. Thứ ba, kinh tế của Trung Quốc đã hạ cánh rồi và sẽ sa sút trong nhiều năm tới, và khi số cung tăng vọt mà số cầu vẫn đình trệ thì giá dầu phải sụt. Thứ tư, cùng với cuộc cách mạng kỹ thuật về dầu khí, nhân loại cũng ra sức tìm các nguồn năng lượng “sạch” như quang năng là ánh mặt trời hay phong năng là sức gió, nên dầu thô, khí đốt và than đá hết còn vị trí nhu yếu như trước, và vì vậy giá dầu sẽ còn giảm nữa.
Nguyên Lam: Ông Nghĩa vừa tóm lược một bối cảnh rất rộng của hồ sơ dầu khí với kết luận hợp lý là giá dầu sẽ còn giảm. Khi ấy, ai mua dầu thì có lợi và ai bán dầu thì bị thiệt hại, nhưng thưa ông, nếu cân nhắc lợi và hại thì hậu quả sau cùng là gì? Giả dụ như Nguyên Lam có thể mua xăng với giá rẻ hơn, đấy là cái lợi, nhờ đó có thêm tiền mua thứ khác và kích thích sản xuất ở khu vực khác, nhưng giới sản xuất xăng dầu thì bị thiệt hại vì tài sản của họ mất giá và cũng có thể giảm đầu tư vào ngành khác. Trong cái chuỗi liên hệ rắc rối ấy thì người ta dựa vào những yếu tố nào để suy tính?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin khởi đi từ tổng thể với vài con số đơn giản để mình cùng tính.
Từ giữa năm 2014 thì giá dầu ở khoảng 100 đô la một thùng, nay chỉ còn 30 đô la, coi như mất 70%. Tổng số trữ lượng về dầu của thế giới đã được xác định thì ở khỏang một ngàn 700 tỷ thùng. Khi dầu mất giá 70% thì kho dầu toàn cầu coi như mất giá khoảng 120 ngàn tỷ đô la, tính cho tròn thì hơn gấp 10 sản lượng kinh tế của nước Mỹ, bằng 500 lần sản lượng của Việt Nam hay 200 lần tài sản của vài doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Con số ấy cho thấy kích thước của vấn đề. Dù biết rằng lượng dầu ấy vẫn còn nằm dưới đất và chỉ có giá khi đào lên khai thác và bán ra, nhưng trong sổ sách hay đầu óc của các quốc gia hay các doanh nghiệp làm chủ lượng tài sản này thì người ta phải thấy là mình bị nghèo đi mất 70%. Khi ấy, chúng ta nghĩ tới khái niệm gọi là “hiệu ứng thịnh vượng ngược” để dự đoán về hậu quả.
Nguyên LamÔng nói đến khái niệm hay phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng ngược”, thưa ông, đấy là cái gì vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu tôi thấy mình giàu hơn thì tự nhiên tôi nghĩ đến việc xài tiền này cho các nhu cầu trước đây mình muốn mà không thỏa mãn được. Thí dụ như mua một cái xe lớn hơn hay một ngôi nhà sang hơn. Từ đó, quyết định chi tiêu phụ trội của tôi có thể kích thích sản xuất cho doanh nghiệp và đấy là phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng”, cơ sở của các tính toán và dự đoán kinh tế của giới hữu trách. Ngược lại, khi thấy mình bị nghèo đi thì tất nhiên là phải thu vén chi tiêu, tạm đình chỉ những gì muốn làm. Doanh nghiệp dầu khí đang khai thác các giếng dầu bị mất giá thì phải tiết giảm đầu tư, có khi sa thải nhân viên và gây hậu quả bất lợi cho kinh tế. Một quốc gia bán dầu ra như Liên bang Nga hay Saudi Arabia cũng thế, bị thất thâu ngân sách vì dầu thô sụt giá và không thể duy trì các chương trình phúc lợi xã hội như trước và hậu quả bất lợi sẽ lan rộng ra khỏi lĩnh vực năng lượng qua kinh tế và xã hội. Đấy là hiện tượng “hiệu ứng thịnh vượng ngược” hay “hiệu ứng nghèo túng”. Với giá dầu bị mất 70% và sẽ còn mất nữa, hiệu ứng bất lợi cho các nước bán dầu sẽ lây lan và gây ra nguy cơ “giảm phát” là sản lượng kinh tế suy giảm, hàng họ bán rẻ mà vẫn ế và thất nghiệp sẽ tăng.
Biến cố trăm năm mới thấy một lần
Nguyên Lam: Ông vừa nhắc tới vai trò của Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong cuộc cách mạng về kỹ thuật khai thác dầu thô và khí đốt khiến số cung trên thế giới tăng mạnh, làm sụt giá dầu trong bối cảnh trì trệ của kinh tế thế giới. Khi dầu sụt giá như vậy thì vì sao các công ty không giảm mức sản xuất để hãm số cung?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nhờ cuộc cách mạng kỹ thuật mà Hoa Kỳ đã vọt lên thành quốc gia sản xuất nhiều dầu nhất thế giới và giảm hẳn số dầu nhập khẩu nên càng làm thế giới bị ứ dầu. Khi ấy, các tiểu bang có giếng dầu lớn nhất như Texas, Oklahoma hay North Dakota đã thành đầu máy kinh tế. Các doanh nghiệp loại nhỏ và vừa lao vào lĩnh vực sản xuất dầu với kỹ thuật mới cũng tuyển dụng nhiều nhân công nhất và khai thác cả ngàn giếng dầu loại bỏ túi ở mọi nơi và góp phần làm giảm nạn thất nghiệp tại Mỹ. Nhưng từ giữa năm 2014, tình hình hết còn khả quan như trước và ngày càng khó khăn hơn vì dầu thô sụt giá khiến nhiều giếng bị tạm đóng cửa và ngân sách nhiều tiểu bang như North Dakota bị hao hụt nặng chẳng khác gì tình hình Liên bang Nga hay Á Rập Saudi hoặc Venezuela.
Sang câu hỏi vì sao nhà sản xuất không giảm số cung để giá khỏi sụt thì ta gặp một vấn đề kế toán tài chính. Nhiều doanh nghiệp Mỹ đã đi vay thay vì chủ yếu bỏ vốn để khai thác dầu. Khi giá sụt thì họ vẫn có nhu cầu thanh toán các khoản nợ đáo hạn nên vẫn cứ phải bơm thêm dầu và bán lỗ để có tiền mặt hầu còn trả nợ trên thị trường trái phiếu hay cho các ngân hàng. Và động thái tuyệt vọng ấy lại càng làm dầu hạ giá trong một vòng luẩn quẩn đáng ngại! Mà không chỉ có doanh nghiệp, nhiều quốc gia cũng gặp cảnh ngặt nghèo ấy khi đi vay quá trớn.
Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì phải chăng các doanh nghiệp khai thác dầu lao vào một cuộc chơi nguy hiểm vì đi vay tiền để áp dụng một kỹ thuật tân kỳ làm tăng sản lượng và giảm phí tổn sản xuất cho tới khi dầu thô sụt giá quá mạnh thì họ phải tiếp tục bơm dầu trả nợ dù có bị lỗ. Nhìn ra ngoài Hoa Kỳ thì tình hình của các nước sản xuất coi bộ cũng ít quả quan mà còn có vẻ nguy ngập, thí dụ như xứ Á Rập Xaou-đi và các nước trong Hiệp hội OPEC của 14 quốc gia xuất khẩu dầu thô. Ông nghĩ sao về chuyện này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta đang chứng kiến một biến cố gọi là trăm năm mới thấy một lần. Cùng nhiều nước bán dầu trong Vịnh Á Rập, Saudi Arabia có chiến lược độc đáo là không giảm sản lượng để giữ giá mà cứ tiếp tục bán thêm để giá sụt mạnh làm các doanh nghiệp Mỹ lỗ vốn và đóng cửa, là điều có xảy ra. Khối Á Rập này, như Saudi, Kuweit và các tiểu vương quốc, có nhiều dầu và dự trữ ngoại tệ dồi dào nên mới theo đuổi việc ấy, chứ các thành viên khác của tổ chức OPEC, như Venezulea thì bị khốn đốn nặng. Cuối tuần qua thì rạn nứt bùng nổ trong nhóm OPEC và tổ chức này hết còn thế lực làm giá như hơn 40 năm trước mà còn bị nguy cơ tan rã.
Cũng về hiệu ứng của giá dầu, ta không quên là Iran đang nuôi hy vọng bán dầu từ một triệu rưỡi đến ba triệu một ngày sau khi hết bị quốc tế cấm vận để có thu nhập cải thiện kinh tế, nhưng sẽ lại tăng số cung. Là đối thủ chính trị của Iran, Saudi Arabia càng không muốn giảm sản lượng trong mục tiêu làm dầu thô sụt giá nữa hầu Iran không chiếm được lợi thế kinh tế. Ta không nên quên vai trò võ khí của dầu thô và Hoàng gia Saudi đang sử dụng võ khí ấy để gây khó cho Iran, cho Liên bang Nga và các doanh nghiệp Mỹ.
Nguyên Lam: Khi nói đến hoàn cảnh thuận lợi hơn cho các nước mua dầu thì chúng ta phải nhớ tới Trung Quốc là một nước cũng sản xuất dầu thô nhưng vẫn phải mua thêm cho đủ yêu cầu tiêu thụ quá lớn với hiệu suất rất kém. Thưa ông, nếu nói về hậu quả của việc dầu thô xuống giá thì kinh tế Trung Quốc được lợi những gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc có lợi nhờ hóa đơn mua dầu được rẻ hơn trước, nhưng tự thân thì đã có quá nhiều vấn đề nên kết cuộc thì chẳng có gì khả quan hơn. Tôi xin vắn tắt như thế này: Trung Quốc là nơi mà mỗi tuần lại có nhiều tin xấu về kinh tế và tình hình tiếp tục suy đồi hơn với nạn đồng bạc mất giá, thất nghiệp tăng, tư bản tẩu tán ra ngoài, dự trữ ngoại tệ sẽ hao hụt bình quân chừng hơn 100 triệu đô la một tháng - trong năm nay có thể mất thêm khoảng hơn một ngàn tỷ. Vì vậy, bước vào năm Thân này, vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị. Trong hoàn cảnh đó số cầu về dầu thô càng giảm và giá dầu sẽ càng hạ.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa.


Trung Cộng, Con Cờ Thứ Hai của Cộng Đồng Mỹ Gốc Do Thái

TRUNG CỌNG, CON CỜ THỨ 2 CỦA CỘNG ĐỒNG MỸ GỐC DO THÁI
1.- Cộng Đồng Giàu Nhất Thế giới
Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có khoảng từ 5,3 đến 8,4 triệu người gồm 3 nhóm, lớn nhất là nhóm Ashkenazi, chiếm đến 90% dân số cộng đồng, hai nhóm khác là Sephardic và Mizrahi.  
Người Do Thái xem quan trọng 3 thứ : Do Thái Giáo ( Judaism ), trí thức và tài sản. Do Thái Giáo đã giúp cho người Do Thái bị phiêu bạt mấy ngàn năm mà không mất gốc. Trí thức giúp cho người Do Thái vươn lên đứng đầu mọi lãnh vực của nền văn minh nhân loại (30% giải Nobel được trao cho người Do Thái). Tài sản đã làm cho người Do Thái giàu có mà đặc biệt là cộng đồng Do Thái tại Mỹ đang quản lý một số tài sản có thể ngang với từ 15 % đến 20% tài sản của nhân loại. Người Do Thái rất đoàn kết, có tổ chức và không giữ bí mật để làm lợi riêng nên khi họ quây quần thành tập thể thì họ có cơ chiếm hết mọi quyền lợi chung quanh và trở thành mối họa cho những cộng đồng bản xứ nơi họ định cư.
Thế chiến thứ II, người Đức đã thấy được mối họa Do Thái nên đã diệt chủng hơn 2 triệu người Do Thái. Thảm cảnh Holocaust đã làm động tâm cả nhân loại nên các cường quốc mới dành một mảnh đất nhỏ bên bán đảo Sinai của Ai Cập để cho người Do Thái có chổ đi về, nước Israel.
Cộng đồng Do Thái ở Mỹ thoát được sự tàn phá của hai trận thế chiến và không bị họa Holocaust nên họ vươn lên giàu có rất nhanh và chiếm lấy nước Mỹ và dùng nước Mỹ như một con cờ điều khiển cả thế giới. ( Helen Thomas, một phóng viên nổi tiếng và là một thành viên của cơ quan báo chí Tòa Bạch Ốc hơn 50 năm, đã bị sa thải. Về sau, bà đã đọc một diễn văn tại một hội nghị ở Detroit trong đó bà trình bày quan điểm cho rằng “Quốc Hội, Tòa Bạch Ốc, Hollywood, và Wall Street đều bị Do Thái làm chủ. Dứt khoát là thế.” (Congress, the White House, Hollywood, and Wall Street are owned by Zionists. No question in my opinion.)
2.- Mục tiêu tối hậu : Tiền
Nhóm Sephardic là nhóm người Do Thái đầu tiên từ Tây Ban nha và Bồ Đào Nha di cư sang Mỹ, Đến năm 1749 đế quốc Anh làm luật cho ưu tiên người Do Thái di cư sang thuộc địa cùa Anh tại Hoa Kỳ. Năm 1880 Châu Âu đi vào khủng hoảng kinh tế nên cộng đồng Do Thái nói tiếng Yiddish thuộc nhóm Arkenazi ở các nước nghèo đói Trung Âu và Đông Âu tuôn sang Hoa Kỳ khoảng 2 triệu người. Họ làm đủ nghề thấp kém nhất để kiếm sống và nhanh chóng biến thành ông chủ trong mọi ngành. Nay điều hơi khó khăn là tìm cho ra một người Mỹ gốc Do Thái không phải là triệu phú, họ tập trung đông nhất ở mạn dưới Manhattan của New York, từ đó bàn tay Do Thái vươn ra quậy khắp thế giới với một mục đích tối hậu là để kiếm …. TIỀN.
Khi phân tích tình hình thế giới đi về đâu, cái gì đang xảy ra, cái sẽ sẽ xảy ra mà muốn điều phân tìch ấy sâu sắc và chính xác thì chúng ta nên nhìn vào khối tài sản của cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái hướng vào đâu để đầu tư, như thế là nên nhìn cho ra địa điểm đầu tư, hướng giải quyết sản phẩm đầu tư hay nhìn vào hướng cung và hướng cầu có thề làm cho số tiền đầu tư ấy được sinh lợi thì mới biết được mục đích của các diễn biến trên trường quốc tế.
3.- Các địa điểm đầu tư trước đây.
Một số chuyên gia về đầu tư cho rằng có 3 yếu tố cần phải nghĩ đến khi bắt tay vào việc đầu tư :
Yếu tố thứ nhất : Địa điểm đầu tư (Location)
Yếu tố thứ hai : Cũng là địa điểm đầu tư
Yếu tố thứ ba : và cũng là địa điểm đầu tư
Địa điểm đầu tư của tập đoàn tư bản Do Thái tại Hoa Kỳ lẽ dĩ nhiên là nước Hoa Kỳ, là một vùng an toàn nằm ngoài nhiều xung đột của thế giới, khi đầu tư thành công thì lợi nhuận làm cho số tài chánh ngày càng tăng thì phải nghĩ đến một địa điểm đầu tư khác nằm ngoài Hoa Kỳ, để cho số tài chánh thặng dư sinh thêm lợi nhuận.
Sau thế chiến thứ II địa điểm đầu tư ngoài nước Hoa Kỳ mà tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái chọn là 2 nước Đức và Nhật, bởi hai nước này là hai nước hoang tàn đổ nát, các cơ sở sản xuất vẫn có mà công nhân thì đang chết đói đang cần những bị bạc của những nhà tư bản Do Thái vực dậy để sản xuất ra những sản phẩm rẽ mạt bán khắp năm châu.
Sau hơn 20 năm thâu lợi nhuận hã hê, một người Nhật hay người Đức làm ra một đồng thì phải chia cho người Do thái ở Mỹ một ít, tập đoàn tư bản Do Thái rút tiền đầu tư từ hai nước này về vì họ nhìn ra một địa điểm đầu tư khác hấp dẫn hơn, nước Trung Quốc.
Nước này đang bị đại loạn của Hồng Vệ Binh, anh Mao Xếng Xáng giết các đồng chí của anh ta nên gây ra thảm cảnh 36 triệu người chết… vì đói. Các cơ sở sản xuất tiêu điều mà công nhân hơn 1 tỷ người đang thất nghiệp. Tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ rót tiền vào đâu tư làm ra những sản phẩm rẽ mạt ” Made in China” bán ra toàn thế giới.
4.- Khủng hoảng địa điểm đầu tư :
Để giải quyết những sản phẩm quân sự làm ra tại địa điểm đầu tư ở Hoa Kỳ, tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái đã đem quân Mỹ gây bất ổn khắp Trung Đông khiến cho các ông vua dầu lửa phải chạy đua vũ trang hay nói cách khác đem tiền bán dầu đưa cho tập đoàn tư bản Do Thái để đổi lấy những đoàn tàu bay tàu bò giết nhau cho bỏ ghét.
Chính sách này gây cho nước Mỹ bị thù ghét khắp Trung Đông. Vụ đánh sập Tòa Tháp Đôi năm 2001 ở New York đã làm cho những tập đoàn tư bản Do Thái giật mình hoảng sợ và điều đầu tiên mà bất cứ anh nhà giàu nào khi lo sợ cũng phải làm là lo giữ của.
Sau một thời gian dài hơn 20 năm thâu lợi nhuận nhờ đầu tư vào đúng địa điểm, một nước Trung Cọng nghèo đói tan hoang. Tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái tính toán không thể kiếm thêm lợi nhuận hơn nửa vì chi phí đầu tư quá cao và sẳn dịp Tòa Tháp Đôi bị đánh sụp nên họ đồng loạt rút tiền về nước rồi đem cho vay dễ dàng, tắt trách mới sinh ra cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Hoa Kỳ vào năm 2008.
Hiện nay số tài sản kết sù này đang đưa nền kinh tế Hoa Kỳ qua cơn suy thoái, đang chê Châu Âu già cổi nên khó kiếm ra tirền, Châu Phi hoảng loạn không an toàn để đầu tư, Trung Đông nguy hiểm lắm kẻ thủ vừa mất tiền đầu tư vừa mất mạng.
Khối tài sản kết sù này đang nhắm nhé hướng về Châu Á Thái Bình Dương, một vùng năng động chưa khai phá hết, để đầu tư nên nước Mỹ mới lập nên có hiệp định TPP làm nòng cốt, và chính quyền Hoa Kỳ xoay trục sang Châu Á để bảo vệ vùng đầu tư. Nhưng các quỉ đầu tư của các tập đoàn tư bản Do Thái chưa chuyển động phải chăng họ đang mưu tạo ra một địa điểm đầu tư lý tưởng ở Châu Á như Đức và Nhật sau thế chiến thứ II.
5.      Mưu tạo địa điểm đầu tư mới
Nay chúng ta thấy tình hình Châu Á có những biến chuyển như sau : Trung Cọng gây bất ổn ở Biển Hoa Đông và Biển Đông. Siêu quyền lực Bilderberg club họp ngày 6/6/2014 tại Watford ở Anh Quốc lên kế hoạch chia Trung Cọng thành 5 nước nhỏ. Trung Cọng bồi đắp các đảo nhân tạo để núng ra ở Biển Đông. Các nước Đông Nam Á lo sợ chạy đua vũ trang. Hoa Kỳ đè dặt tuần tra Biển Đông v.v…
Mấy hôm nay người viết bài này đọc được bản tin như sau :
Ông Obama đã cảnh cáo quan chức Trung Quốc: Nếu quý quốc dám gây chiến tranh với Philippines, Việt Nam, Nhật Bản, tôi chỉ cần nói ra 6 điều là Trung Quốc tan vỡ, không phải sử dụng đến dù chỉ một người lính.
1.      Công bố tài khoản nước ngoài của quan chức Trung Quốc và cho đóng băng.
2.      Công bố danh sách quan chức Trung Quốc có hộ chiếu Mỹ.
3.      Công bố danh sách người nhà các quan chức cấp cao Trung Quốc định cư tại Mỹ.
4.      Ra lệnh thanh tra biệt thự và tình nhân của quan chức Trung Quốc ở Los Angeles.
5.      Đưa người nhà quan chức Trung Quốc đang sống tại Mỹ đến nhà tù nổi tiếng của Mỹ ở Guantanamo (Cuba).
6.      Tiếp tế vũ khí cho công nhân thất nghiệp ở Trung Quốc (có lẽ chỉ cần áp dụng điều thứ 6 này là đủ).
Người viết nghĩ :
Đây là lời đe dọa thứ hai nhắm vào Trung Cọng sau khi đe dọa lên kế hoạch chia Trung Cọng thành 5 nước nhỏ. Đe dọa có nghĩa là anh phải thực hiện những thỏa thuận đã đề ra nếu anh không thực hiện những thỏa thuận đã đề ra thì tôi sẽ thực hiện những thứ sau đây …. làm anh thiệt hại.
Vậy những thỏa thuận đã đề ra là những thỏa thuận gì ?
Những thỏa thuận đã đề ra thường thuộc loại TOP SECRET nên không ai biết được. Giống như thỏa thuận bán đứng MNVN giữa tên Do Thái Henry KIssinger và thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Cọng phải 30 năm sau mới lòi ra.
Người viết xin đoán mò :
Thỏa thuận 1 : Làm bất ổn để Châu Á chạy đua vũ trang cho tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ bán vũ khí kiếm tiền ( đã và đang thi hành)
Thỏa thuận 2 : Gây chiến tranh phá nát vùng Đông Nam Á để tạo một địa điểm đầu tư lý tưởng cho tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ bỏ tiền vào đầu tư ( chưa thực hiện ).
Người viết xin bình luận thỏa thuận 2 :
Tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái và chính quyền Hoa Kỳ tuy hai mà một tuy một mà hai. Trung Cọng muốn độc hiếm Biển Đông thì phải đánh chiếm trọn Đông Nam Á mới thành công. Đánh chiếm Đông Nam Á lại là cơ hội cho các cường quốc xâu xé nước Trung Hoa thêm một lần nửa. Tiến thoái lưỡng nan đang làm cho anh Đại Hán tham ăn ngồi trên đống lửa.
Nostradamus tiên tri thế chiến thứ III xảy ra do AntiChrist điều khiển. Các thầy bàn Phương Tây đang đi tìm AntiChrist là ai. Họ quên rằng Nostradamus không nói AntiChrist là cá nhân hay tập đoàn. Nếu là tập đoàn thì chuyệm tìm ra AntiChrist thì cũng dễ thôi.
                                                                             Nhất Hướng nguyễn Kim Anh
Đây là bài viết trước đây nói về thời gian thỏa thuận