Saturday, April 11, 2015

Bi kịch của một vị tướng VNCH


Đời bi kịch của một vị tướng VNCH
Bùi Văn Phú
Gửi cho BBC từ California
Cập nhật: 15:35 GMT - thứ năm, 21 tháng 7, 2011
Ông Đặng Văn Quang được phong Trung tướng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa năm 1965

Trung tướng Đặng Văn Quang, nguyên cố vấn quân sự và an ninh quốc gia của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời tại Hoa Kỳ, khép lại cuộc đời một vị tướng miền Nam phản ánh của bi kịch chính trường Sài Gòn và quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam Cộng hòa
Ông rời Việt Nam trong những ngày cuối tháng 4-1975, đến trại tị nạn ở bang Arkansas. Sau đó tướng Quang vội vã rời đây vì e ngại nỗi uất hận của đồng hương bột phát sẽ không an toàn cho bản thân ông, vì có một số lời đồn đại không tốt từ thời chiến.
Ông sang Canada thăm con và khi trở lại Hoa Kỳ thì chính phủ Mỹ không cho nhập cảnh mà không nêu lý do. Canada cũng không muốn sự có mặt của tướng Quang trên đất nước họ vì những cáo buộc liên hệ đến ông và muốn trả ông về Việt Nam.
Sự việc đã làm xôn xao dư luận người Việt hải ngoại trong thời gian đầu định cư ở nước ngoài.
Ra đi vất vả
Theo cựu trưởng phân tích gia của CIA Frank Snepp viết trong tác phẩm Decent Interval xuất bản năm 1977, ngày 29-4 tướng Quang đến trước Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong lúc đông người đang chen lấn mong được di tản.
Từ trong sân toà đại sứ, giám đốc CIA tại Việt Nam Tom Polgar nhận ra tiếng tướng Quang gọi và ra lệnh cho lính thủy quân lục chiến mở cổng cho vào. Vào bên trong, tướng Quang tiếp tục tìm cách cầu cứu vì đã bỏ lại người con và cháu bên ngoài.
Theo Snepp, lúc này tướng Quang chẳng còn là người quan trọng đối với Hoa Kỳ vì ông đã “phản bội người Mỹ” khi không báo cho CIA biết về kế hoạch bỏ cao nguyên của Tổng thống Thiệu. Chiều hôm đó tướng Quang được di tản ra khỏi Việt Nam bằng trực thăng.
Trong Decent Interval còn ghi chi tiết là trước đó vài hôm tướng Nguyễn Cao Kỳ đã muốn bắt giam tướng Quang khi các tướng có mặt tại Bộ Tổng tham mưu, nhưng ông đã lẩn thoát được.
Những bất đồng giữa tướng Kỳ và Tổng thống Thiệu trong thời gian nắm quyền lãnh đạo miền Nam, trong khi tướng Quang lại được ông Thiệu tín cẩn, đã gây nhiều hiềm khích giữa tướng Kỳ và tướng Quang với nhiều đồn đoán. Có dư luận cho rằng do phe tướng Kỳ đưa ra, về tham nhũng, buôn bán bạch phiến dính tới tướng Quang mà người dân miền Nam có một thời gian được nghe biết.
Hai tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Johnson tại Honolulu năm 1968 trong thời kỳ rất khó khăn của VNCH

Tuy nhiên những ghi nhận trong các tác phẩm Decent Interval xuất bản năm 1977 và CIA and the Generals của Thomas L. Ahern, Jr. xuất bản năm 2009 đưa ra những tài liệu được giải mật cho thấy tướng Quang không liên hệ đến các cáo buộc buôn bạch phiến.
Vì tướng Quang được ông Thiệu tin cẩn và ông còn là người liên lạc giữa Dinh Độc lập với CIA nên cơ quan tình báo Mỹ đã có những điều tra riêng về nhân cách và biết rõ ông không liên quan đến bạch phiến như những tin đồn hay thông tin được nhà báo Mỹ Alfred W. McCoy viết trong tác phẩm The Politics of Heroin in Southeast Asia xuất bản vào đầu thập niên 1970.
Nhiều thông tin trong sách này đã được các nhóm chống đối chính quyền của ông Thiệu, điển hình như phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh, dịch và phát tán tại Việt Nam trong những năm sau khi Hiệp định Paris được kí kết vào tháng 1-1973.
Tổng thống Thiệu lúc đó cho rằng các phong trào chống chính phủ của các tôn giáo Phật giáo, Công giáo là có người Mỹ đứng sau giật dây.
Theo Frank Snepp, tướng Quang là người giao tiếp giữa Dinh Độc lập và Đại sứ quán Mỹ. Ông đã có rất nhiều cuộc gặp với giám đốc cũng như nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn để trao đổi tin tức, phân tích tình hình chính trị, quân sự và chính sách của lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà với người Mỹ. Snepp nhận xét tướng Quang có nếp sống với chuẩn mực đạo đức cao, sòng phẳng về tiền bạc.
Vì thế câu chuyện tướng Đặng Văn Quang sau khi rời Việt Nam không được chính phủ Mỹ cho định cư, còn Canada đòi trục xuất đã làm xôn xao dư luận một thời.
Sống tạm dung ở Canada tướng Quang đã làm đủ mọi việc để kiếm sống.
"Trong đời tôi mang ơn nhất Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu"
Trung tướng Đặng Văn Quang
Phục hồi danh tiếng
Năm 1988, một sĩ quan Lực lượng Đặc biệt của Mỹ, cựu Trung tá Dan Marvin từng phục vụ tại Quân đoàn IV khi tướng Quang là tư lệnh, biết được việc chính phủ Hoa Kỳ không cho phép ông vào Mỹ nên đã vận động để trả lại sự thực và đòi công đạo cho một vị tướng Việt Nam Cộng hoà bị quá nhiều tai tiếng.
Marvin coi tướng Quang là người đã cứu mạng ông trong một tranh chấp lúc chiến tranh khi ông làm cố vấn tại làng Hoà hảo An Phú trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sự kiện này được Dan Marvin ghi trong tác phẩm Expandable Elite xuất bản năm 2003.
Tác giả đưa ra giả thuyết chính phủ Mỹ không cho tướng Quang nhập cư vì ông đã không tán đồng kế hoạch của Hoa Kỳ nhằm ám sát Thái tử Norodom Sihanouk của Cam Bốt vào năm 1966.
Dan Marvin đã kiến nghị đến các dân cử, ban ngành liên hệ và cả với Tổng thống George H.W. Bush (Cha). Cựu giám đốc CIA tại Sài Gòn Tom Polgar, người đã có rất nhiều dịp gặp gỡ, tham khảo với tướng Quang khi còn làm việc trong một bản tường trình ủng hộ cho ông được vào Hoa Kỳ.
Tướng Đặng Văn Quang có cuộc sống khá vất vả kể cả sau khi được định cư tại Hoa Kỳ

Ông Polgar đưa ra nhận xét là tướng Quang và gia đình lúc ở Việt Nam đã không có một cuộc sống giầu sang, phú quý và những cáo buộc liên quan đến chuyện ông buôn bán bạch phiến là không có cơ sở vì theo những điều tra riêng của CIA thời đó, trước khi tổ chức này tin và liên lạc với ông, tướng Quang không có dính líu gì đến bạch phiến.
Sau đó chính quyền Canada hủy bỏ những cáo buộc liên quan đến tướng Quang và chính phủ Mỹ đồng ý cho ông định cư.
Đến Mỹ vào tháng 9-1989, hai ông bà có lúc sống ở Atlanta, khi ở nam California. Ông tiếp tục làm những việc lao động và vợ là bà Đỗ Thị Năm cũng làm bánh bán để kiếm sống.
Sau này vì tuổi già sức yếu, hai ông bà được sự giúp đỡ của cựu Thiếu tá Trần Văn Ngà, nguyên Trưởng ban Thông tin Báo chí Quân đoàn IV, đưa về sống trong một chung cư dành cho người già ở Sacramento, thủ phủ của bang California.
Mùa hè năm ngoái tôi có dịp đến thăm tướng Quang nhân cùng đi với đoàn quay phim của Hội Bảo tồn Lịch sử và Văn hoá Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) đang thực hiện phỏng vấn 500 người để lưu lại trong thư viện Đại học Texas ở Austin. Tướng Quang đã yếu và trí nhớ kém nhiều vì tuổi già.
Hỏi ông về những biến cố trong đời có điều ông nhớ, có điều không. Tôi có hỏi ông trong đời ông mang ơn ai nhất, tướng Quang nói đó là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Đối với những người đã gây phiền lụy, tướng Quang nói ông tha thứ hết.
Cựu Trung tướng Đặng Văn Quang sinh ngày 21-6-1929 tại Sóc Trăng.
Ông là một vị tướng trẻ nhất của quân đội Việt Nam Cộng hoà, từng giữ chức tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh, tư lệnh Quân đoàn IV Vùng IV Chiến thuật. Chức vụ sau cùng của ông là phụ tá đặc biệt về quân sự và an ninh quốc gia cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Ông qua đời hôm 15-7 tại Sacramento, California, hưởng thọ 82 tuổi, để lại vợ, 7 người con và 9 cháu nội ngoại.
Tang lễ cựu Bấm Trung tướng Đặng Văn Quang đã được cử hành theo nghi thức công giáo tại nhà thờ Các Thánh Tử đạo Việt Nam ở Sacramento, California vào chiều ngày 20-7-2011 và nghi thức hoả táng diễn ra vào trưa ngày hôm sau.
Tác giả Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng và sống tại vùng Vịnh San Francisco.
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/07/110721_general_dang_van_quang

Friday, April 10, 2015

Để Nhớ Lại Một Thời Sinh Viên



Để Nhớ Lại Một Thời Sinh Viên

Ngày Này Tháng Tư Năm 75, Nhìn Lại: Sinh Viên Sài Gòn Ban A-17 Đối Đầu Với Thành Đoàn CS
Lê Bình
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, thường gọi là 30 tháng Tư, ngày nước Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ. Từ đó 30/4 được gọi là Ngày Quốc Hận và Tháng Tư Đen trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại. Ngày này là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam cận đại. Ngày dẫn đến tang thương và hoạ mất nước về tay Tàu cộng phương Bắc. Hàng năm cứ đến ngày này, đại đa số người Việt Nam đều tưởng niệm, và mong một ngày trở về đất tổ xây dựng lại quê hương.

Trong niềm tưởng nhớ những người đã vị quốc vong thân, những anh hùng tử sĩ, trong đó có dân quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta ta cũng không thể quên những người còn sống, những người đóng góp công sức, chiến đấu âm thầm trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc. Trong số những người tham dự cuộc chiến vệ quốc đó còn có những sinh viên, học sinh âm thầm trong một mặt trận khác. Chúng tôi muốn nhắc đến sinh viên của các trường Đại Học.

Năm 2015, sau 40 năm mất nước, những người chiến đấu âm thầm đó có người đã ra đi, có người vẫn còn sống, đang sống âm thầm trong cộng đồng của chúng ta. Đề nhắc nhớ lại một thời tranh đấu. Chúng tôi xin đơn cử một số việc làm của những sinh nầy qua bài viết dưới đây của Bạch Diện Thư Sinh Trần Vinh. Cách riêng, xin cảm ơn các anh những người (tôi biết) đã ra đi khi mộng ước chưa thành như: Cao Sơn Nguyễn Văn Tấn (San Jose), Ngô Vương Toại (Virginia), Lê Khắc Sinh Nhật Chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Luật Khoa Đại Học Sài Gòn niên khóa 1970 -71, phó chủ tịch Tổng Hội SVSG 1970-71…v.v

Và những người còn sống tại Bắc Cali: Trần Lam Giang (Sacramento), Phạm Tài Tấn (San Jose) Phạm Bằng Tường (San Jose), Bửu Uy Chủ tịch Tổng Hội SVSG niên khoá 1972-73 (Oregan) chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Văn Khoa Đại Học Sài Gòn niên khóa 1972-73, Nguyễn Hữu Tâm (San Jose) Chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Văn Khoa Đại Học Sài Gòn niên khoá 1973-74, Phan Nhật Tân (San Jose) Chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Văn Khoa Đại Học Sài Gòn niên khóa 1974-75…và còn nhiều nữa.

Chúng tôi muốn giới thiệu đến cộng đồng người Việt tại San Jose về một tổ chức trong sinh viên trước năm 1975. Ban A 17.

Ban A 17 là một ban công tác mới mẻ thuộc Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa, thành lập vào cuối năm 1971, với nhiệm vụ chính là đánh bại Thành Đoàn Cộng Sản, giải tỏa áp lực của tổ chức Cộng Sản này tại các trường học, nhất là tại Đại Học Sài Gòn.


                                      Buổi hội ngộ 2014 của sinh viên Ban A-17 ở San Jose.

I. Nguyên do thành lập Ban A 17:

Từ năm 1966, Thành Đoàn Cộng Sản tăng cường cài thêm nhiều cán bộ vào Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn và một số phân khoa lớn thuộc Đại Học Sài Gòn. Sau khi nắm được Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn và ban đại diện sinh viên các phân khoa lớn, họ ngang nhiên và liên tục phát động tranh đấu dưới nhiều hình thức, quậy phá trong trường học, bạo loạn ngoài đường phố.

Tình hình rối loạn đến nỗi ông giáo sư “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản” Lý Chánh Trung đã “hồ hởi phấn khởi” mô tả một cách mỉa mai trong cuốn “Những Ngày Buồn Nôn” của ông như sau: “Suốt tuần qua, trung tâm thành phố Saigon đã biến thành một bãi chiến trường để cho mấy ông Triệu tử Long nho nhỏ mặc sức tung hoành…Kết quả thực là ngoạn mục: Khói lựu đạn cay mịt mù trước Dinh Độc Lập, hàng rào kẽm gai chằng chịt trên các nẻo đường như những tràng hoa tang tóc nền dân chủ” (Lý Chánh Trung. Những Ngày Buồn Nôn. Bài 6. Khóc Đi Con. Trang 40)”.

Trước tình hình ấy, nhà trường thì lúng túng, tập thể sinh viên hoang mang, đang khi lực lượng Cảnh Sát phải hết sức vất vả hành quân giải tỏa những cuộc biểu tình gây rối loạn và truy lùng những tên cán bộ cốt cán thuộc Thành Đoàn Cộng Sản.

Với nỗ lực vượt bực, Cảnh lực cũng đã tóm được một số những tên cán bộ cầm đầu và chuẩn bị truy tố bọn họ ra trước pháp luật.

Trớ trêu thay, ngay lập tức có một số ông to bà lớn, cả đạo lẫn đời, hùa theo những thành phần phản chiến, thiên tả, trong và ngoài nước, lên tiếng phản kháng chính quyền và bênh vực cho bọn cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản. Việc làm này, vô hình trung, như choàng thêm vòng hoa chiến thắng lên cổ bọn cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản đội lốt sinh viên, đồng thời cổ võ họ tiếp tục hoạt động chống phá chính quyền VNCH.

Sang năm 1971, Cộng Sản ra lệnh cho Biệt Động Thành thi hành 2 vụ ám sát nhằm vào 2 đối tượng thuộc đại học, khiến cho tình hình an ninh Đại Học Sài Gòn càng ngột ngạt, căng thẳng hơn: Vụ thứ nhất xẩy ra ngày 28-6-1971, 2 tên Việt Cộng thuộc Biệt Động Thành T4 (Ban An Ninh Đặc Khu Sài Gòn – Gia Định) bắn chết sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật, chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Luật Khoa, ngay tại hành lang trước cửa phòng ban đại diện sinh viên. Vụ thứ hai xẩy ra ngày 10-11-1971, 2 cán bộ Biệt Động Thành Cộng Sản liệng bom vào gầm xe và giết chết GS. Nguyễn Văn Bông, viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, khi xe chở Giáo Sư đang chờ đèn đỏ ngay tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản.

Vụ ám sát Giáo Sư Nguyễn Văn Bông và sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật xẩy ra giữa thanh thiên bạch nhật ngay trung tâm Thủ Đô Sài Gòn, đã giáng những đòn choáng váng vào các cơ quan an ninh và các viên chức có trách nhiệm.

Để đối phó với tình hình này, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia kiêm đặc ủy trưởng Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, đã gọi Ông Nguyễn Thành Long, biệt cục trưởng Campuchia, đang công tác tại Nam Vang về và giao cho ông chức vụ phụ tá đặc ủy trưởng đặc trách công tác Ban A 17, đối đầu trực diện với Thành Đoàn Cộng Sản.


                                      Buổi hội ngộ 2014 của sinh viên Ban A-17 ở San Jose.

II. Đối thủ của Ban A 17:

Đối thủ của Ban A 17 là Thành Đoàn Cộng Sản. Thành Đoàn thuộc Đoàn Thanh Niên Lao Động Hồ Chí Minh, nay là Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ vận động thanh niên nội thành Sài Gòn – Gia Định; trong bài này, gọi tắt là Thành Đoàn Cộng Sản.

1. Tổ chức:

Chỉ huy

Cấp chỉ huy cao nhất của Thành Đoàn Cộng Sản vào thời điểm thành lập Ban A 17 là Trần Bạch Đằng. Lúc đó, Trần Bạch Đằng nắm chức Bí Thư Đặc Khu Ủy Sài Gòn Gia Định. Từ năm 1965, ông ta đã được giao cho nhiều chức vụ quan trọng, như: Tuyên huấn, trí vận, Hoa vận và thanh vận (tức thanh niên, sinh viên, học sinh vận), đồng thời phụ trách Ban Cán Sự Nội Thành là tiền thân của Thành Ủy Sài Gòn – Gia Định. Thành Đoàn Cộng Sản là mũi nhọn của công tác thanh vận phối hợp với trí vận.

Hệ thống chìm

Hệ thống chìm nằm trong vòng bí mật, chia thành các chi bộ, mỗi chi bộ có bí thư chi bộ phụ trách một hay vài ba phân khoa đại học. Hệ thống chìm chỉ huy hệ thống nổi.

Vào khoảng năm 1971, hệ thống chìm bao gồm:

Ban Chấp Hành Thành Đoàn: Bí thư: Phan Chánh Tâm (Năm Pha, Ba Vạn). Phó bí thư: Phạm Chánh Trực và Lê Mỹ Lệ (Năm Trang).

Thường vụ: Trương Mỹ Lệ (Tư Liêm, Mười Trương), Nguyễn Văn Chí (Bảy Điền, Sáu Chí), Nguyễn Ngọc Phương (Ba Triết), Trang Văn Học (Năm Tranh).

Đoàn ủy sinh viên: Nguyễn Ngọc Phương, Trầm Khiêm (Hai Lâm), Dương Văn Đầy (Bảy Không, Ba Niên), Nguyễn Văn Sự, Lê Công Giàu và Trần Thị Ngọc Hảo (Tư Tín).

Hệ thống nổi

Hệ thống nổi gồm các cán bộ đội lốt sinh viên thuần túy, hoạt động công khai, hợp pháp. Họ là các Đảng viên, Đoàn viên, Hội viên (Đảng viên Đảng Cộng Sản VN, Đoàn viên Đoàn Thanh Niên Nhân Dân Cách Mạng, Hội viên Hội Liên Hiệp Thanh Niên VN, bao gồm Hội Liên Hiệp Sinh Viên Giải Phóng và Hội Liên Hiệp Học Sinh Giải Phóng Miền Nam VN). Các sinh viên Việt Cộng này được lệnh tìm mọi cách để nắm lấy Ban Chấp Hành Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, Đại Học Xá Minh Mạng, Đại Học Vạn Hạnh, Đoàn Sinh Viên Phật Tử và ban đại diện sinh viên các Phân Khoa Đại Học Sài Gòn, nhất là các phân khoa lớn như Văn Khoa, Luật Khoa, Khoa Học, Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (Nông Lâm Súc), Y Khoa, Dược Khoa…

Phải nhìn nhận số cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản hoạt động trong đại học không đáng kể, song họ được tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ, được học tập kĩ lưỡng và hoạt động với nhiệt tình cách mạnh khá cao cho nên họ đã lần lượt khống chế được một số tổ chức sinh viên công khai, hợp pháp, trong khoảng 5 năm liên tục.

Họ đã nắm được Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn 4 nhiệm kì liên tiếp: 1966-67: Hồ Hữu Nhựt, 1967-68: Nguyễn Đăng Trừng, 1968-69: Nguyễn Văn Qùy, 1969-70: Huỳnh Tấn Mẫm.

HHH ọ cũng nắm được Đại Học Xá Minh Mạng với chủ tịch ban đại diện là Huỳnh Tấn Mẫm (1969-70), Nguyễn Xuân Thượng (1970-71), Lê Thống (1971-72). Với vị thế này, bọn họ dùng đại học xá để chứa chấp đồng chí, đồng bọn, rồi biến nơi đây làm bộ chỉ huy và điểm xuất phát nhiều cuộc đấu tranh, xuống đường.

Cũng vào khoảng 1970, Thành Đoàn Cộng Sản nắm được ban đại diện sinh viên tại Đại Học Vạn Hạnh và các phân khoa lớn như Khoa Học, Văn Khoa, Luật Khoa, Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp, Đoàn Sinh Viên Phật Tử.

2. Hoạt động của Thành Đoàn Cộng sản

Vì nắm được ban đại diện sinh viên, họ có thể gây áp lực lên cả khoa trưởng và các giáo sư, nhất là sau mấy vụ đặc công Cộng Sản ám sát Giáo Sư Y Khoa Lê Minh Trí, bộ trưởng Bộ Giáo Dục, Giáo Sư Trần Anh, khoa trưởng Y Khoa và Giáo Sư Nguyễn Văn Bông, viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

Cũng vì nắm được những tổ chức công khai, hợp pháp kể trên, Thành Đoàn Cộng Sản đã phát động nhiều cuộc đấu tranh, chống đủ thứ, đòi đủ thứ…bằng nhiều hình thức từ ôn hòa, hợp pháp tới bạo động: bãi thi, bãi khóa, diễn thuyết, hội thảo, tuyên cáo, kiến nghị, triển lãm tội ác chiến tranh, văn nghệ, dựng tượng Nhất Chi Mai rất lớn ngay tại hành lang Giảng Đường 4 Văn Khoa. Chúng liên tục tổ chức các cuộc xuống đường, đốt phá, phá, cản trở giao thông, gây rối trị an ngay trên các đường phố Sài Gòn; thậm chí còn tổ chức những vụ giết sinh viên, ám sát giáo sư.

                                      Buổi hội ngộ 2014 của sinh viên Ban A-17 ở San Jose.

III. Ban A 17

1. Vài lời trần tình

Tất cả quân nhân các cấp cũng như tất cả viên chức chính quyền lớn nhỏ của nước Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đều có quyền hãnh diện vì đã phục vụ chính nghĩa chiến đấu tự vệ, bảo vệ Miền Nam tự do, chống lại Cộng Sản Bắc Việt muốn nhuộm đỏ Miền Nam. Cho tới nay, hầu như tất cả mọi ban ngành, mọi binh chủng, mọi hoạt động, mọi thành tích của các thành phần quân, cán, chính, đều đã được phổ biến công khai trước dư luận, trước lịch sử.

Riêng ngành an ninh, tình báo mang tính bí mật đặc thù tự bản chất, phải tuân thủ những nguyên tắc bảo mật nghiêm ngặt. Khốn thay, “ngày sập Trời” 30-4-1975 đã xẩy ra, CSBV vi phạm Hiệp Định Paris 1973 bằng cách dùng bạo lực quân sự để cưỡng chiếm VNCH, cuốn theo chiều gió hệ thống tổ chức của một quốc gia trong chớp mắt, nhưng tất cả cơ sở, nhân sự hầu như còn nguyên vẹn, nhiều tài liệu mật chưa kịp tiêu hủy! Kẻ thắng trận xử dụng cơ sở, khai thác tài liệu và đầy ải nhân sự VNCH trong các trại tập trung cải tạo khổ sai hàng chục năm. Trong chốn lao tù nghiệt ngã đằng đẵng ấy, làm sao có thể bảo tồn được tất cả mọi nguyên tắc, giữ mãi được tất cả mọi bí mật?

Tuy không có thể giữ được tất cả mọi nguyên tắc, bảo toàn được mọi bí mật, nhưng chúng tôi biết chắc chắn Ban A 17 vẫn còn giữ được một số bí mật nhân sự và bí mật chiến thuật công tác. Những bí mật ấy sẽ mãi mãi “sống để bụng, chết mang theo”.

Vì lẽ đó, về Ban A 17, chúng tôi tự chế sẽ chỉ nói những gì xét thấy bất cứ ai quan tâm cũng đều có thể biết được mà thôi.

2. Mục tiêu công tác

Như đã trình bày, mục tiêu của Ban A 17 là đánh bại Thành Đoàn Cộng Sản, giải tỏa áp lực của tổ chức Cộng Sản này tại các trường học, nhất là tại Đại Học Sài Gòn. Thắng lợi của Ban A 17 sẽ giúp tái lập kỉ cương trường ốc, mang lại yên bình thuận lợi cho việc học hành và các sinh hoạt học đường lành mạnh của sinh viên học sinh.

3. Nhân sự

Vì là công tác thuộc môi trường đại học cho nên tất cả nhân viên Ban A 17, cán bộ cũng như nhân viên khế ước, đều là những sinh viên đã tốt nghiệp hoặc sắp tốt nghiệp đại học, thuộc đủ mọi phân khoa.

Đến nay, mái tóc của tất cả nhân sự Ban A 17 thuở xưa đều đã điểm sương, đã bạc màu. Tất cả đã rút chân ra khỏi giang hồ và muốn được sống những năm tháng còn lại thật bình yên. Hãy để cho “Những chiến mã một thời chinh chiến, một thời phiêu lãng”.

4. Tình hình

Ban A 17 “ra quân” chiến đấu trong Mặt Trận Đại Học trước một tình hình không mấy thuận lợi vì chẳng những phải đối phó với một đối thủ lợi hại là Thành Đoàn Cộng Sản mà còn phải vượt qua một số trở ngại nội tại.

Phải thượng tôn pháp luật

Chế độ tự do, nền tự trị đại học và tinh thần thượng tôn pháp luật vốn là ưu điểm của các xã hội Âu Mĩ có truyền thống dân chủ đã ăn sâu trong xương thịt. Thế nhưng, ở nước ta, giữa cuộc chiến ác liệt chống kẻ thù hung hiểm Cộng Sản, ông đồng minh thì “đồng sàng dị mộng”, coi như VNCH tứ bề thọ địch, thì những thứ tự do tốt đẹp, những nguyên tắc pháp luật nghiêm túc đó sẽ bó tay bó chân các cơ quan an ninh và trở thành tấm khiên che chở, thành chỗ núp an toàn cho bọn cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản và bọn sinh viên Việt Cộng.

Hàng ngũ các giáo sư

Một số giáo sư có tinh thần Quốc Gia rõ rệt, đã tích cực yểm trợ công tác Ban A 17. Một số ít không thiên Cộng, nhưng lại đối lập hoặc chống chính quyền VNCH. Một số rất ít khác thì thiên tả hoặc thiên Cộng. Còn một số khá đông lại chọn làm kẻ đứng bên lề, mong được yên thân!

Tình hình sinh viên

Khá nhiều sinh viên thuần túy có thái độ dửng dưng, không ưa Cộng Sản, nhưng cũng không làm gì để chống lại chúng. Thậm chí có một số ít sinh viên bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng cấp tiến, xu hướng cách mạng và có mặc cảm “gia nô” nếu tỏ thái độ hoặc hành động ủng hộ chính quyền. Những sinh viên này rất dễ có khuynh hướng bỏ phiếu bầu cho liên danh gồm các sinh viên là cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản. Tệ hơn cả, có một số nhỏ sinh viên nhẹ dạ, hoặc hiếu động đã a dua theo bọn sinh viên Việt Cộng.

5. Hoạt động của Ban A 17:

Phá vỡ hệ thống nhân sự chìm và nổi của đối phương

Công tác này cần thực hiện 2 bước: Một là phát hiện các đối tượng một cách chính xác và kịp thời. Các cán bộ Ban A 17 là sinh viên, trường ốc, thầy cô và bạn bè sinh viên không xa lạ gì đối với họ. Vì thế, qua học tập, tiếp xúc, quan sát trực tiếp, hằng ngày, họ dễ dàng phát hiện các đối tượng là cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản.

Việc phát hiện còn được thực hiện một cách chính xác bằng hoạt vụ xâm nhập vào hàng ngũ đối phương.

Khi đã thâu thập được tin tức cần thiết, các cơ quan có trách nhiệm phải thực hiện bước công tác kế tiếp là vô hiệu hóa các đối tượng.

Kết quả: Chỉ sau khoảng một năm hoạt động, các lực lượng an ninh đã bắt giữ được khá đông các cán bộ cốt cán của Thành Đoàn Cộng Sản, một số khác phải đào thoát ra các căn cứ Thành Đoàn ngoài bưng biền, số còn lại phải “lặn thật sâu”. Từ nay, không còn có cảnh những cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản ngang nhiên, tự tung tự tác trong học đường, hay là ngay giữa Thủ Đô Sài Gòn như trước nữa.

Giành quyền kiểm soát các tổ chức sinh viên công khai, hợp pháp

Sau khi phá vỡ hệ thống tổ chức của Thành Đoàn Cộng Sản, Lực Lượng Sinh Viên Quốc Gia cần giành lại các tổ chức sinh viên hợp pháp càng sớm càng tốt. Đây là điều kiện quan trọng thứ hai để có thể đạt được mục tiêu xóa bỏ tận gốc sự khống chế của Thành Đoàn Cộng Sản trong môi trường đại học.

Nhận thấy Thành Đoàn Cộng Sản dồn nỗ lực chính để giành quyền kiểm soát Đại Học Xá Minh Mạng, ban chấp hành Tổng Hội SVSG, ban đại diện sinh viên các phân khoa lớn: Luật Khoa (29716 sinh viên trong niên khóa 1973-74), Văn Khoa (20405 sinh viên trong niên khóa 1973-74) và Khoa Học (10738 sinh viên trong niên khóa 1973-74); do đó, để đối phó với Thành Đoàn Cộng Sản, Ban A 17 cũng thành lập các tổ công tác hoạt vụ bề thế hơn tại các trọng điểm kể trên.

Dù thế nào, nỗ lực chính yếu vẫn thuộc về Lực Lượng Sinh Viên Quốc Gia. Chính các sinh viên Quốc Gia bắt tay vào việc thành lập các liên danh ra tranh cử ban đại diện sinh viên tại các phân khoa và Tổng Hội SVSG.

Yêu cầu đặt ra là các liên danh của Lực Lượng Sinh Viên Quốc Gia phải thắng cử, cho nên Ban A 17 tìm phương cách san bằng mọi trở ngại để bảo đảm thắng lợi cho các liên danh mình ủng hộ.

Chẳng hạn như nếu gặp trường hợp một vị khoa trưởng, một giáo sư hoặc một viên tổng thư kí văn phòng nhà trường lừng khừng, không tích cực hợp tác, Ban A 17 phải làm cho họ hợp tác hay ít ra là không làm gì cản trở sự thành công của liên danh tranh cử thuộc Lực Lượng Sinh Viên Quốc Gia.

Một khi đã ủng hộ một liên danh, Ban A 17 sẽ không muốn ủng hộ bất cứ liên danh ứng cử nào khác, dù đó là liên danh do một đảng phái đỡ đầu, thậm chí đó là liên danh gồm những sinh viên “gà nhà” của vị lãnh đạo số hai hay số ba nào đó.

Để tăng cường cho công tác của Ban A 17, bên Cảnh Sát Đặc Biệt đã điều về cho mỗi phân khoa một số thiếu úy Cảnh Sát vừa mới tốt nghiệp Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia. Các thiếu úy này còn rất trẻ, đã tốt nghiệp trung học, cho nên họ đều ghi danh để trở thành sinh viên tại các phân khoa đại học. Đây là sự phối hợp cần thiết và hữu hiệu. Thực ra, nếu Tướng Nguyễn Khắc Bình không kiêm nhiệm cả hai cơ quan to lớn này thì việc phối hợp hoạt động nêu trên không dễ mà có thể thực hiện được.

Ngoài các trọng điểm nêu trên, Ban A 17 cũng điều cán bộ tới Đại Học Vạn Hạnh, Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (tên cũ là Nông, Lâm, Súc), Dược Khoa…Trước đó ít lâu, 3 trường này từng bị các cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản khống chế, chúng đã biến những trường này thành cứ điểm xuất phát nhiều cuộc tranh đấu, xuống đường và tổ chức các buổi văn nghệ phản chiến, các cuộc họp báo…

6. Kết quả

Sau một thời gian tương đối ngắn, các sinh viên khuynh hướng Quốc Gia đã giành lại được quyền kiểm soát những tổ chức sinh viên quan trọng, như:

Sinh viên Lý Bửu Lâm: Chủ tịch Tổng Hội SVSG niên khoá 1970-71, trưởng tràng Sinh Viên Kiến Trúc Đại Học Sài Gòn niên khoá 1969-1972,

Sinh viên Bửu Uy: Chủ tịch Tổng Hội SVSG niên khoá 1972-73, chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Văn Khoa Đại Học Sài Gòn niên khóa 1972-73,

Sinh viên Phạm Minh Cảnh: Chủ tịch Tổng Hội SVSG niên khoá 1973-4/1975, chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Khoa Học Đại Học Sài Gòn niên khoá 1973-74,

Sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật: Chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Luật Khoa Đại Học Sài Gòn niên khóa 1970 -71, phó chủ tịch Tổng Hội SVSG 1970-71,

Sinh viên Trương Văn Banh: Chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Luật Khoa Đại Học Sài Gòn niên khoá 1973-74,

Sinh viên Nguyễn Hữu Tâm: Chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Văn Khoa Đại Học Sài Gòn niên khoá 1973-74,

Sinh viên Phan Nhật Tân: Chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Văn Khoa Đại Học Sài Gòn niên khóa 1974-75,

Sinh viên Khiếu Hữu Đồng: Chủ tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Khoa Học Đại Học Sài Gòn niên khóa 1974-75…

Đại Học Xá Minh Mạng cũng có ban đại diện mới. Tất cả đều thuộc thành phần Quốc Gia.

Các cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản cũng không dễ dàng lèo lái được Ban Đại Diện Sinh Viên Đại Học Vạn Hạnh và Đoàn Sinh Viên Phật Tử như trước nữa.

Nhờ những thành quả trên mà an ninh, trật tự tại các phân khoa Đại Học Sài Gòn được vãn hồi. Từ nay, đại học không còn là một mặt trận mà là môi trường an bình, thuận lợi cho việc học tập. Và cũng từ nay, các ban đại diện sinh viên có điều kiện phát huy các sinh hoạt học đường: Văn nghệ, báo chí, thể thao, du ngoạn, công tác xã hội, thăm viếng các chiến sĩ tiền đồn, các chiến sĩ trấn giữ hải đảo biên cương, lên án nghiêm khắc việc Việt Cộng pháo kích bừa bãi vào Trường Tiểu Học Cai Lậy, Tỉnh Định Tường và Trường Tiểu Học Song Phú, Quận Bình Minh, Tỉnh Vĩnh Long, giết hại hàng chục học sinh thơ ngây, vô tội… Đặc biệt, khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa vào đầu năm 1974, Tổng Hội SVSG và ban đại diện sinh viên các phân khoa thuộc Đại Học Sài Gòn đã đồng loạt ra Tuyên Cáo phản kháng mạnh mẽ hành động xâm lược của Trung Cộng trước công luận trong và ngoài nước, đồng thời tố cáo sự im lặng hèn hạ của Cộng Sản Hà Nội.

Đại học yên ổn thì phố xá cũng được tấp nập, an vui.

Đây là thắng lợi chung, chẳng những của Lực Lượng Sinh Viên Quốc Gia mà còn là của Ban A 17 và của Cảnh Sát Đô Thành. Thắng lợi tại Mặt Trận Đại Học là thắng lợi lớn, dứt điểm. Tình hình đại học yên tĩnh cho tới “ngày sập trời” 30-4-1975. Chính những cán bộ Thành Đoàn Cộng Sản cũng phải công nhận họ đã thất bại trong Mặt Trận Đại Học. Hàng Chức Nguyên viết: “…từ năm 1972, địch đã ra tay khủng bố, càn quét, hòng đè bẹp các phong trào đấu tranh. Hầu hết những trụ sở tập họp công khai của thanh niên, sinh viên, học sinh đều bị chúng phá hủy hoặc chiếm đóng…Tình hình im ắng, căng thẳng, không một cuộc đấu tranh công khai lớn nhỏ nào nổ ra được” (Hàng Chức Nguyên. Trui Rèn Trong Lửa Đỏ. NXB. Trẻ, 2005. Trang 186).
                                      Buổi hội ngộ 2014 của sinh viên Ban A-17 ở San Jose.

IV. Vài nhận xét

Về đối thủ

Trước khi Ban A 17 nhập cuộc, bọn sinh viên Việt Cộng hung hăng trong nhà trường, tác oai tác quái ngoài đường phố, vì biết có nhiều viên chức “tai to mặt lớn” hưởng bổng lộc VNCH và nhiều thành phần khác nữa trong xã hội, sẽ nhân danh các quyền Hiến định, mau mắn đứng ra bênh vực, chống lưng cho chúng. Nhưng từ khi Ban A 17 lâm trận, nhiều tên sinh viên Việt Cộng bị “hốt” với đầy đủ bằng chứng có giá trị pháp lí xác minh chúng là cán bộ Cộng Sản, cho nên không “ô dù” nào có thể che chở cho chúng được nữa, chúng đành phải nhũn như con chi chi. Có một số sẵn sàng hợp tác. Những tay ngoan cố, chỉ đếm được vài ba.

Về công tác Ban A 17:

Từ cuối năm 1971, Ban A 17 xuất hiện với một lực lượng có trình độ đại học và trên đại học, rất thích hợp cho Mặt Trận Đại Học. Tất cả hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ông Nguyễn Thành Long, một cấp chỉ huy kiệt xuất. Phải nhìn nhận đây là quyết định sáng suốt và đúng đắn của Tướng Nguyễn Khắc Bình. Ban A 17 nhắm đánh tận gốc phong trào sinh viên tranh đấu do Thành Đoàn Cộng Sản lèo lái. Khi phá vỡ được hệ thống tổ chức của Thành Đoàn Cộng sản và giành lại được các ban đại diện sinh viên tức là đã nhổ được cái gốc của phong trào tranh đấu thì tự khắc tình hình đại học trở lại yên tĩnh.

Ban A 17 phải “ra quân” trong tình hình không thuận lợi: Phải đối phó với một đối phương sừng sỏ, lại gặp phải thái độ cam chịu của nhiều giáo sư và sinh viên. Song nhờ tất cả cán bộ Ban A 17 đều có trình độ học vấn thích hợp, cộng với sự hi sinh, tinh thần kỉ luật, Ban A 17 đã vượt qua được các trở ngại, khó khăn và đã gặt hái thành công khá tốt đẹp.

Thắng lợi trong Mặt Trận Đại Học đưa tới kết luận: Cộng Sản không quá ghê gớm. Người xưa nói “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”; ở đây, Ban A 17 chẳng những có khả năng biết rõ đối phương, lại còn biết cách đánh thắng đối phương, cho nên đã thắng nhanh và thắng triệt để.

Cảm tưởng khi nhìn lại:

Ban A 17 tự hào vì đã sát cánh cùng quân dân cán chánh VNCH chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do. VNCH có chính nghĩa vì đã buộc phải chiến đấu để tự vệ. VNCH chưa phải là toàn bích vì là một nước non trẻ, lại phải vừa xây dựng vừa phải chiến đấu sống còn với Cộng Sản Hà Nội, nhưng không có thể phủ nhận VNCH đã xây dựng được nền móng căn bản cho một quốc gia tự do, dân chủ, nhân bản, khai phóng.

Bọn sinh viên theo Việt Cộng khoe khoang làm “cách mạng đánh cho Mĩ cút, dánh cho Ngụy nhào”. Thực ra, người Mĩ tham chiến nhiều lần nhiều nơi trên thế giới, xong việc của họ rồi thì họ ra đi, không lấy một tấc đất. Trường hợp chiến tranh ở Việt Nam, người Mĩ vừa ra đi, Cộng Sản Hà Nội vội rước Tầu Cộng vào. Hậu quả nhãn tiền là Cộng Sản Hà Nội vừa phải cắt đất cắt biển dâng cho Tầu để “trả nợ” cho chúng và để được chúng bảo vệ lợi quyền, vừa phải làm ngơ cho chúng tràn vào làm ăn sinh sống và chắc chắn không bào giờ chúng ra đi nữa. Đang khi đó, “Ngụy nhào” rồi thì tất cả những cái gì tốt đẹp VNCH đã xây dựng được trong 20 năm đều bị xóa bỏ, tất cả những cái xấu xa về mọi mặt phát sinh ở mức độ khủng khiếp.

Nếu cách mạng là đánh đổ một chế độ, một chính quyền không tốt để xây dựng một chế độ, một chính quyền tốt hơn thì Việt Cộng không làm cách mạng bởi vì chúng đã đánh đổ một chế độ, một chính quyền tốt hơn để dựng lên một chế độ, một chính quyền cực kì tệ hại. Những gì xẩy ra trên đất nước từ 30-4-1975 cho tới nay chứng minh Việt Cộng là phản động, là phá hoại, là bán nước hại dân. Thế mà ngày xưa, bọn sinh viên Việt Cộng lại hoạt động chống phá VNCH để tiếp tay cho Cộng Sản Hà Nội độc tài, toàn trị chiếm đoạt miền Nam tự do. Tội đó không phải là nhỏ.

Giải thích như thế để chứng minh cuộc chiến đấu chống bọn sinh viên Việt Cộng là chính nghĩa, là bổn phận, là vinh dự của Ban A 17. Ban A 17 không hại thầy phản bạn, Ban A 17 chỉ hoạt động quét sạch bọn sinh viên Việt Cộng ra khỏi học đường.

Ban A 17 đã nhập trận, đã so găng bằng những đòn cân não gay go, nhưng không kém phần gian nan, nguy hiểm và đã chiến thắng. Tuy kết cục Miền Nam đã mất vào tay Cộng Sản Bắc Việt, bởi vì chúng ta thua ở những mặt trận quan trọng khác, nhưng Ban A 17 vẫn cảm thấy một chút an lòng vì đã tích cực góp phần đánh thắng Mặt Trận Đại Học, đã làm tròn nhiệm vụ mà Quốc Gia giao phó.

Tháng 6-2013
(Trích từ cuốn sách MẶT TRẬN ĐẠI HỌC THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA của Bạch Diện Thư Sinh. Tủ sách Hoàng Sa, 2014)

Nguồn:Email




Tự Chủ Trong Luân Hồi




TỰ CHỦ TRONG LUÂN HỒI
Ngọc Bảo
            Trong cuộc sống, có lẽ ít người trong chúng ta nghĩ về cái chết của chính mình, bởi vì tuy biết rằng không sớm thì muộn điều đó sẽ phải đến, nhưng hoàn toàn bất minh, không ai có thể đoán được những gì sẽ xẩy ra.  Tuy nhiên, có những câu chuyện khiến ta phải suy nghĩ, không chỉ về cái chết mà về cách sống như thế nào để có được sự an lành, trong đời sống hiện tại cũng như mai sau.
                      Một câu chuyện có thật về sự "chết đi sống lại" của một vị tăng Đại Hàn được đại sư Chongo Sunim kể lại như sau:
             Trong thời thiền sư Seong Chol Sunim còn tại thế, ở chùa HaeinSa nơi ngài trụ trì có một vị tăng quyết định rời chùa đi vào khu rừng núi Jiri San ẩn tu, sống cùng cây cỏ hoang dã nơi thiên nhiên.
            Chẳng may, ông ăn phải một loại nấm độc nên bị bệnh nặng, ngã xuống đất thần thức hôn mê.  Bỗng nhiên ông thấy mình đang ở trong chùa HaeinSa, cách nơi ông đang ở khoảng hơn 100km, và thấy hai vị tăng bạn của ông đang cử hành một nghi lễ giống như tang lễ. Họ dường như không để ý đến sự hiện diện của ông, và ông lấy làm lạ là thay vì đọc kinh cho đúng, vị tăng đang gõ mõ cứ lập đi lập lại "Chek, chek, chek..." (Sách, sách, sách....), còn vị tăng đang thỉnh chuông thì cứ nói "Yeom ju, yeom ju, yeom ju..." (chuỗi tràng, chuỗi tràng, chuỗi tràng....)

            Trong chớp mắt, ông lại thấy mình đang ở nhà bà mẹ. Ông đứng sát cạnh bà trong khi bà đang chất củi vào trong lửa. Bà không để ý đến ông, nên ông cúi xuống chạm vào vai bà. Bà kêu lên một tiếng thất thanh và đau đớn gập người lại.
            Thế rồi, thoáng một cái, nhanh như lúc ông về chùa và về nhà mẹ, ông lại thấy mình trở lại nơi núi rừng. Từ bờ sông phía dưới phảng phất bay lên mùi thịt bò ướp nướng thơm lừng. Một nhóm người trong bộ hanbok mầu trắng (y phục cổ truyền của Đại Hàn) đang xúm xít ở đó, vẫy tay gọi lớn: " Xuống đây chơi với tụi này đi! Có nhiều đồ ăn lắm, tha hồ mà ăn!"  Đúng lúc sắp nhập bọn với họ, ông chợt nhớ ra mình là vị tăng và không được ăn thịt.
            Trên đường đi lên núi trở lại, ông gặp một ông già đang mang một jigae cổ xưa (một cái cũi có khung hình chữ A) trên lưng. Nhưng thay vì chất củi ở trên, ông ta lại mang một người xuống núi. Ông già để người này xuống dưới đất ; thấy người này có vẻ quen thuộc, vị tăng tiến lại gần để nhìn cho kỹ hơn. Khi nhìn mặt người đó, ông chợt hoảng hốt, thấy đang nhìn vào chính mình! Ông sờ lên mặt, rồi bỗng nhiên giật mình tỉnh dạy, như vừa qua một giấc mộng. Chung quanh vẫn là núi rừng, và ông vẫn nằm dưới đất một mình một bóng, nhưng trong lòng đầy hoang mang với kinh nghiệm lạ kỳ vừa qua. 
            Trở về chùa, ông đi tìm những vị tăng bạn và kể cho họ nghe những gì đã thấy. Họ nói với ông rằng, sư phụ Seong Chol cho họ biết là ông đã chết trên núi JiriSan, và họ cần phải làm nghi thức cầu siêu cho ông ngay. Ông hỏi tiếp rằng, tại sao họ cứ nói "sách, sách..." và "chuỗi tràng, chuỗi tràng..." thay vì đọc những lời kinh cho đúng. Ngạc nhiên, người thứ nhất thú nhận rằng ông biết vị tăng có một sưu tập sách quý nên lúc đó đang suy nghĩ không biết có lấy được sưu tập đó không. Người thứ hai cũng xấu hổ nhìn nhận, ông đang nghĩ đến chuỗi tràng đẹp của người bạn quá cố và cũng tự hỏi không biết có lấy được chuỗi tràng đó không. Như thế, mặc dù họ đang đọc những lời kinh, nhưng ông không nghe được gì ngoài những tư tưởng của họ.
            Ông lại đến thăm mẹ và kể cho bà nghe những điều đã trải qua. Bà nhớ lại, lúc ấy bà bỗng có một cảm giác đau nhói nơi vai.
            Trở về núi rừng, bên giòng suối nơi ông đã thấy nhóm người tụ tập ăn thịt bò nướng, ông không tìm thấy dấu vết bữa tiệc thịt nướng đó ở đâu cả. Nhưng có điều làm ông cảm thấy rúng động, là bên bờ sông có xác một con quạ đang nằm, khắp mình mẩy đầy giòi bọ lúc nhúc. Ông chợt nhận ra rằng, những người ông đã thấy ở bờ sông thật ra là những con ấu trùng đang kêu gọi ông nhập bọn với chúng để ăn thịt xác con chim chết kia. Ông tự hỏi, nếu không tự nhắc nhở mình là người tu mà đi nhập bọn với chúng, có thể nào ông sẽ tái sinh làm một con ấu trùng không? Nếu thế thì muốn sinh ra làm người trở lại sẽ phải khó khăn đến thế nào? Khi ra khỏi thân xác, ông không còn có các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi, hay tay chân... Ông chỉ còn thần thức có thể cảm nhận những việc huyễn ảo xẩy ra chung quanh, và không thể nghe những lời nói, chỉ cảm được tư tưởng của người khác.
             Câu chuyện này nhắc nhở đến một câu chuyện khác tôi đã đọc ở đâu đó, về một người không tuy không tu hành, nhưng thường hay đọc kinh Kim Cang mỗi ngày. Một ngày nọ ông lâm bệnh trầm trọng, thần trí hôn mê tưởng như đã ở trong ngưỡng cửa của tử thần. Trong lúc tâm thức hoang mang, ông bỗng thấy có một cánh cửa trước mặt, ở đó có bốn cô gái trẻ xinh đẹp đang nô đùa. Họ kêu gọi ông cùng đi vào cánh cửa đó: "Vào đây chơi, vui lắm!" Ông đang dợm bước tính đi vào thì có một người khác đến ngăn cản: "Ông là người đọc kinh Kim Cang, đây không phải chỗ cho ông vào!"  Rồi đột nhiên ông tỉnh dạy, như người vừa ra khỏi giấc mộng, trong khi ở chung quanh gia đình đang than khóc, bàn tính chuyện ma chay. Sáng sau, ông được biết, cũng trong đêm ông đã "hồn lìa khỏi xác" đó, con heo nái ở nhà đã cho ra đời bốn con heo con cái và một con đực đã chết khi sanh. Nhìn bốn con heo mới đẻ, ông rùng mình chợt nhận ra rằng, nếu lúc đó bước qua cánh cửa, ông đã là con heo thứ năm.
            Qua hai câu chuyện này, ta thấy trong cõi luân hồi lục đạo, tăng và tục đều bình đẳng như nhau nếu lòng tham dục còn tiềm tàng trong tâm.  Khi thân đã mất, trong cõi giới của thần thức không có sự phân biệt rõ rệt giữa người và thú, chỉ còn những giao cảm của các tần số rung động. Chỉ một phút buông lung theo sự quyến rũ của ma cảnh là có thể rơi ngay vào cõi giới xấu, không thể quay trở lại được nữa. Trong Huyết Mạch Luận, Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng đã cảnh cáo điều này:
            ".. Không khác gì những hình ảnh hiện ra trong giấc ngủ về đêm, nào cung điện xe pháo, công viên núi rừng, nào những nhà mát bên hồ v.v.. Đừng bị hấp dẫn bởi những điều đó. Chúng chỉ là cái nôi cho sinh tử luân hồi. Hãy nhớ kỹ điều này để khi lâm chung, đừng mắc vào những hiện tướng thì sẽ được giải thoát. Chỉ cần một phút giây lưỡng lự cũng đủ để cho ma lôi cuốn đi. "


            Đó là một tiếng chuông cảnh tỉnh để ngay từ bây giờ, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta phải bắt đầu huân tập một tâm tỉnh giác qua những pháp tu căn bản của đạo Phật, không chỉ trong những lúc ngồi thiền hay niệm Phật, mà trong mọi lúc đi đứng nằm ngồi. "Hồi quan phản chiếu" hay dùng chánh niệm thấy biết tâm trong từng niệm khởi và không trụ trước vào chúng là cách để giúp ta tách rời khỏi những vọng động cảm xúc, đưa tâm xao động trở về tâm bình thường phẳng lặng như mặt nước hồ thu.  Sự kiên trì tu tập thành thói quen sẽ tạo một năng lực mới có thể hóa giải dần dần những tập khí xưa cũ, đem lại sự bình an cho tâm hồn.
            Dù theo pháp tu nào, căn bản vẫn phải là Giới, Định,Tuệ. Khi xưa, lúc Đức Phật sắp nhập diệt, ngài đã dặn dò tôn giả A Nan rằng: "Khi Như Lai nhập diệt rồi, Giáo Pháp và Giới Luật sẽ là đạo sư để các con nương tựa vào". Các giới căn bản như năm giới của Phật tử và mười giới của hàng xuất gia là bước đầu tiên trong con đường tu đạo. Giữ giới không phải là tuân theo một cách mù quáng những điều cấm kỵ có tính cách giáo điều, mà là sự áp dụng kỷ luật bản thân từ thân, khẩu, ý để tránh tạo những điều gây tác hại cho mình cũng như cho người. Đó cũng có nghĩa là sống thuận theo luật nhân quả. Giới kết hợp hài hòa với Định và Tuệ mới đem lại sự giải thoát đích thực. Người tinh thông đạo pháp đến đâu mà còn gieo nhân tạo nghiệp thì vẫn không ra khỏi phiền não, bị nghiệp lực chi phối nên không còn tự chủ và không được tự do tự tại trong sinh tử. 
             Những người sau khi có kinh nghiệm cận tử hay "chết đi sống lại" đều có sự biến chuyển lớn trong bản thân, biết trân trọng đời sống hiện tại, phát triển lòng từ bi và chú tâm vào việc bồi dưỡng tâm linh nhiều hơn. Khi đã nhận ra rằng, tất cả những gì trên thế gian này, dù quý giá đến đâu, đều chỉ là mộng ảo, người ta sẽ dễ dàng buông bỏ những ước muốn phù du, biết sống đủ, sống thiểu dục và muốn tận dụng đời sống trước mắt để làm những điều lợi lạc cho mình và cho người. Đó cũng là những bài học quý giá cho chúng ta hâm nóng thêm ý chí nỗ lực trên con đường chuyển hóa thân tâm, để có được năng lực tự chủ, "sống tự tại, chết bình an".
 Ngọc Bảo
Tháng 10, 2014
Nguồn: http://www.ngocbao.org/D_1-2_2-73_4-925_5-30_6-1_17-78_14-2/
Bottom of Form