Sunday, November 30, 2014

Bí Ẩn 30 Tháng 4 (Phạm Trần Hoàng Việt)



Bí Ẩn 30.4.1975

1) Mở đầu

 Đối với đa số người Việt đã từng sống trải qua, ngày 30.04.1975 là
một biến cố đau thương nhứt của một đời người. Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc
Huy - một bình luận gia am tường mọi biến chuyển quốc tế, từng nổi
tiếng với những bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong
tháng vừa qua" đăng tải trên nhiều tờ báo tại Âu Mỹ - đã đề cập công
khai trực tiếp hoặc kín đáo gián tiếp trả lời những câu hỏi về biến cố
lịch sử đặc biệt nêu trên.

 Từ hồi còn là sinh viên, chúng tôi được tiếp xúc với Giáo sư Huy và
đã may mắn có nhiều dịp hàn huyên đối thoại ghi nhận được những chi
tiết rất đặc biệt. Sau khi Giáo sư Huy qua đời vào ngày 28.07.1990,
chúng tôi đã đảm trách nối tiếp Giáo sư Huy hàng tháng viết bài nhận
định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" kéo dài trên 5
năm trên nguyệt san Tự Do Dân Bản tại Hoa Kỳ. Nhân dịp đó, chúng tôi
đã phải nghiên cứu các sáng tác của cố Giáo sư để nắm vững thêm mọi
vấn đề. Nhờ vậy, chúng tôi mới cảm nhận và thấy được tầm kiến thức rất
uyên bác, rất đa diện của Giáo sư Huy mà hiếm ai cùng thời có được
(xin xem thêm phần phụ lục phía dưới về tiểu sử). Nổi bật nhứt là
những viễn kiến và phân tích độc đáo về các biến cố lịch sử trên thế
giới.

 2) Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?

 Câu hỏi lịch sử này cũng đã được bàn cãi sôi nổi từ 35 năm qua và
chưa đi đến một kết luận nào hữu lý để được mọi khuynh hướng chấp
thuận. Điển hình nhứt là ngay trong dịp Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm
Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại
Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 vừa qua quy tụ gần 200 nhân vật với
thành phần nổi tiếng như cựu Đại sứ Bùi Diễm, cựu Đại tá không quân
Hoa Kỳ Tiến sĩ Stephen Randolph, Trung tá biệt cách dù Nguyễn Văn Lân,
Thứ trưởng John Negroponte, Sử gia Dale Andrade, Tiến sĩ John Carland,
Cựu Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, Đại tá Trần Minh Công, Đại tá Hoàng Ngọc
Lung... cũng không đưa ra được câu trả lời thỏa mãn cho sự thắc mắc:
Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?

 Nhìn trở lại, người ta có thể thấy rõ ràng trong thời gian đầu ngay
sau 30.04.1975, phần lớn các khuynh hướng, từ chính trị đến tôn giáo,
đều tìm cách đổ trách nhiệm lẫn cho nhau về tội đã làm mất miền Nam.
Chỉ có Giáo sư Huy là sớm thấy rõ nguyên nhân chính nào đã khiến xảy
ra thảm họa 30.04.1975. Trong dịp tái ngộ cùng Giáo sư Huy vào năm
1982, chúng tôi có hỏi đến vấn đề nhức nhối này và được Giáo sư Huy
trả lời cho biết nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch giải kết
(bỏ mọi cam kết bảo vệ miền Nam!) để từng bước rời bỏ miền Nam VNCH.
Tuy nhiên thảm họa 30.04.1975 xảy ra bất ngờ hơn mọi người đã dự đoán
bởi vì vụ xì căng đan Watergate dẫn tới sự từ chức của Tổng Thống
Nixon vào ngày 9.8.1974 đã làm tê liệt mọi cố gắng để cứu vãng tình
thế.

 Về thế lực nào ở Hoa Kỳ đứng sau kế hoạch bỏ rơi miền Nam, Giáo sư
Huy cho biết trên chính trường Mỹ có hai sắc tộc nổi bật nhứt. Đó là
sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan (Ireland) và sắc tộc gốc Do Thái.

 - Trong dòng lịch sử, Cộng Đồng Người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã rất nhiều
lần thắng cử chức vụ Tổng Thống.

 - Bên cạnh đó Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái chủ trương nắm giữ các
cơ cấu quan trọng trong guồng máy điều khiển đất nước Hoa Kỳ. Họ gài
được nhiều nhân sự vào bên hành pháp cũng như lập pháp. Trong các bộ
quan trọng nhứt như ngoại giao, quốc phòng và tài chánh thường thấy đa
số có nhân viên gốc Do Thái và nhiều lần cấp bộ trưởng cũng do người
Mỹ gốc Do Thái nắm giữ. Trong Thượng Viện và Hạ Viện có khá nhiều nghị
sĩ và dân biểu gốc Do Thái trong cả hai chính đảng. Vì vậy, thế lực
của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái rất lớn và đã khiến cho chánh sách
đối ngoại của Hoa Kỳ luôn luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

 Tham dự Hòa đàm Paris, Giáo sư Huy nhận xét rằng Kissinger (một người
Mỹ gốc Do Thái lúc đó còn làm Cố Vấn An Ninh cho Tổng Thống Nixon) có
thái độ đáng ngờ là cương quyết muốn thỏa hiệp riêng ("đi đêm"!) với
CSVN bất cứ giá nào để quân đội Hoa Kỳ rời bỏ miền Nam, dù biết rằng
sau đó miền Nam sẽ lọt vào tay Hà Nội. Theo kinh nghiệm chính trị thì
các chính trị gia gốc Do Thái đều hành động có chủ đích với kế hoạch
rõ rệt. Như vậy đằng sau Kissinger ắt phải là chủ trương của thế lực
Do Thái.

 Thế lực Do Thái này phải hiểu là không phải chỉ thuần túy Cộng Đồng
Người Mỹ gốc Do Thái, mà là sắc dân Do Thái trải dài trên thế giới từ
Tel Aviv đến Washington D.C., Paris, London, Berlin, Moscow... với
tổng số 13,1 triệu người, trong đó 5,4 triệu tại quốc gia Do Thái, 5,3
triệu tại Hoa Kỳ và 2,4 triệu rải rác tại 30 quốc gia khác. Thế lực
này được điều khiển hữu hiệu từ Tel Aviv với 2 bộ phận đắc lực gồm cơ
quan tình báo Mossad và Nghị Viện Do Thái Thế Giới ( - World Jewish
Congress - từ năm 2007 đứng đầu là nhà tỷ phú nổi tiếng Ronald Stephen
Lauder người Mỹ gốc Do Thái ) . Ngoài ra, Giáo sư Huy còn chỉ dẩn cho
chúng tôi nhận biết được dân gốc Do Thái đặc biệt thường với mũi to
loại diều hâu, điển hình như Ngoại trưởng Kissinger hoặc Nữ Ngoại
trưởng Albright.

 Những tiết lộ tế nhị của Giáo Sư Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định
của Linh Mục Cao văn Luận (1908 - 1986) nhân dịp tái bản tác phẩm Bên
Giòng Lịch Sử cũng cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa
Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam.Riêng dư luận báo chí quốc tế đã sớm
nhìn thấy rõ Hoa Kỳ muốn rút lui bỏ rơi miền Nam từ khi bắt đầu chánh
sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 (mà họ
phân tích là nhằm thay đổi màu da tử sĩ!), nhứt là hòa đàm Paris (mà
họ nhận định là nhằm bảo đảm Mỹ rút quân được an toàn!).

 Như vậy thảm họa 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có
chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách
đó được thực hiện qua Kissinger.

 3) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam?

 a) Thế lực Do Thái tại Hoa Kỳ

Đối với chúng tôi quả thực hoàn toàn mới mẻ và đầy ngạc nhiên khi được
Giáo sư Huy vào năm 1982 cho biết đến vai trò thực sự của người Mỹ gốc
Ái Nhĩ Lan và gốc Do Thái trên chính trường Hoa Kỳ. Sau này sinh hoạt
lâu năm tại Hoa Kỳ và qua nghiên cứu, chúng tôi công nhận thấy Giáo sư
Huy hoàn toàn đúng.

Điển hình là cho đến nay có ít nhứt 23 Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Ái Nhĩ
Lan (xem website:
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Irish_Americans) mà trong đó có
Tổng Thống Washington và những Tổng Thống gần đây như Clinton, Reagan,
Kennedy và kể cả Tổng Thống Obama (bên ngoại gốc Ái Nhĩ Lan)

Cũng như hiện nay tại quốc hội có 15 Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ gốc Do Thái
và 33 Dân Biểu Liên Bang gốc Do Thái (xem website
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Jewish_American_politicians#List).
Thực sự nếu nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy thế lực Do Thái tại Mỹ còn
lớn hơn nhiều. Họ thành công trong việc gài được những nhân sự cấp
lãnh đạo ở các bộ phận yết hầu của Hoa Kỳ. Thí dụ điển hình gần đây
như:

 - trong Thượng Viện và Hạ Viện hiện nay với tổng số 48 nghị sĩ và dân
biểu gốc Do Thái (so sánh chỉ có 1 dân biểu gốc Việt Nam là ông Cao
Quang Ánh!).

- trong Bộ Ngoại Giao có Bộ trưởng Henry Kissinger dưới thời TT Nixon
và Bộ trưởng Madeleine Albright dưới thời TT Clinton...

- trong Bộ Quốc Phòng có Bộ trưởng James Schlesinger dưới thời TT
Nixon và thời TT Ford.

- trong Bộ Tài Chánh có Bộ trưởng Larry Summer và Bộ trưởng Robert
Rubin dưới thời TT Clinton.

- trong CIA có Tổng giám đốc John M. Deutch dưới thời TT Reagan.

- trong Ngân Hàng Trung Ương (Fed) cầm đầu bởi Tiến sĩ Alan Greenspan
từ 1987 đến 2006 và Giáo sư Ben Bernanke từ 2006 đến nay.

 Họ còn chủ động nắm những lãnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán,
báo chí, truyền thanh, truyền hình, và điện ảnh...

 Đặc biệt, ngành truyền thông, quan trong nhứt là điện ảnh Hollywood,
nằm trong tay thế lực Do Thái. Tại Hollywood đa số nhân sự từ đạo diễn
đến diễn viên đều có gốc Do Thái, nổi tiếng nhứt như Steven Spielberg,
Liz Taylor, Kirk Douglas, Michael Douglas, Harrison Ford... (xem
website: 
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Jewish_American_entertainers).
Họ biết rõ rằng nắm được truyền thông trong tay là hướng dẫn được dư
luận quần chúng trong mục tiêu phục vụ quyền lợi cho nguời Do Thái. Họ
còn điều khiển một phần lớn các viện nghiên cứu chiến lược nhằm đưa ra
những đề nghị cho chính sách tương lai cho chánh phủ Mỹ và dĩ nhiên
phải phù hợp với quyền lợi của người Do Thái.

 Ngoài ra tại các cường quốc Âu Châu, thế lực Do Thái có ảnh hưởng tuy
âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ lắm . Điển hình nhứt là Tổng Thống Sarkozy
( Pháp ) & Thủ Tướng Đức Schmidt ( Đức ) đều gốc Do Thái nên không bao
giờ lên tiếng thực sự chống lại những vi phạm cam kết của Do Thái tại
Trung Đông . Chính vì vậy đa số thành viên Liên Hiệp Quốc đã cho rằng
thế lực Do Thái có ảnh hưởng quá lớn đến chính sách và biểu quyết về
Trung Đông của các cường quốc Âu Mỹ .

 b) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam?

 Muốn biết rõ, chúng ta phải tìm hiểu lịch sử mất nước và dựng lại
nước của người Do Thái. Vào năm 135 dân tộc Do Thái chính thức bị mất
nước và phải lưu vong khắp nơi vì đế quốc La Mã. Thảm họa mất nước đó
thường được dư luận Thiên Chúa Giáo cho là sự trừng phạt dân Do Thái
đã đóng đinh giết Chúa Jesus và kẻ phản bội Judas chính là một người
Do Thái. Chính vì chuyện này đã làm cho dân Do Thái bị kỳ thị trên
bước đường lưu vong. Nhưng cũng chính vì có niềm tin mãnh liệt vào Do
Thái Giáo, họ đã đoàn kết nhau lại dưới sự lãnh đạo của học giả
Theodor Herzl trong đại hội thế giới đầu tiên tại Basel (Thụy sĩ) vào
năm 1897. Từ đó, từng đợt một họ lén lút trở về quê hương Palestine.
Thế Chiến thứ 2 và với sự yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ đã tạo cơ hội
ngàn năm một thuở để họ dựng lại đất nước vào ngày 14.5.1948 sau gần
2,000 năm lưu vong. Chỉ 11 phút sau đó Tổng Thống Hoa Kỳ đã lên tiếng
công nhân quốc gia mới này, bất chấp mọi chống đối của thế giới Ả Rập
và đã yểm trợ hữu hiệu cho Do Thái chống lại cuộc tấn công ngay sau đó
của các quốc gia Ả Rập láng giềng và trong các cuộc chiến xảy ra sau
này.

 Như vậy, Do Thái còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Hoa Kỳ làm "lá bùa
hộ mạng". Nhiều nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Do Thái vi phạm
cam kết tại Trung Đông chỉ vì duy nhứt Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết
(veto) nên đành phải bỏ đi. Trong quá khứ, Hoa Kỳ từng giải kết (phản
bội!) bỏ rơi đồng minh như Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Đài Loan... , nhưng
luôn luôn "sống chết" hết lòng với Do Thái, mặc dù quốc gia nhỏ bé này
không mang lại lợi ích gì về tài nguyên hoặc vị trí chiến lược cho Hoa
Kỳ, mà trái lại chính vì Do Thái, Hoa Kỳ còn gây rất nhiều hiềm khích
(mang họa vào thân!) với thế giới Hồi Giáo dân số rất đông đảo (1,3
tỷ) và rất quan trọng về năng lượng dầu hỏa . Tất cả cho thấy rõ ràng
vì thế lực Do Thái nắm giữ được các bộ phận huyết mạch tại Mỹ nên
chính sách của Hoa Kỳ phải luôn luôn không được đi trái ngược lại với
quyền lợi của quốc gia Do Thái.

 Từ đó, chúng ta mới hiểu rõ tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi
tay bỏ miền Nam Việt Nam. Đó là vì họ sợ Hoa Kỳ sa lầy và sự tốn kém
khổng lồ tại chiến trường Việt Nam có thể đưa tới hậu quả Hoa Kỳ không
còn khả năng giúp đỡ một cách hiệu lực nước Do Thái tồn tại như trong
quá khứ Hoa Kỳ đã từng làm. Cho nên họ chủ trương Hoa Kỳ phải giải kết
bỏ rơi miền Nam để trở về chuyên tâm lo cho Do Thái. Để thực hiện mục
tiêu này họ đã có kế hoạch rõ ràng từng bước một.

 c) Kế hoạch Do Thái thúc đẩy Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam.

 Khởi đầu giải quyết cuộc chiến Quốc Cộng tại Lào vào đầu thập niên
1960, ông Ngô Đình Nhu đã ngạc nhiên và bất mãn thấy thái độ nhượng bộ
quá mức của ông Averell Harriman (đặc trách bộ phận Viễn Đông của Bộ
Ngoại Giao Mỹ) trong lúc đàm phán. Nên biết ông Averell Harriman (1891
- 1986) là một nhà tư bản lớn nổi tiếng gốc Do Thái và cũng là một
đảng viên cấp lãnh đạo của đảng Dân Chủ ở Mỹ. Rõ ràng phía thế lực Do
Thái muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ can thiệp với nhiều tốn kém ở
Viễn Đông. Sự nhượng bộ rút lui này đã khiến lực lượng CSVN kiểm soát
được phần lớn các địa điểm chiến lược tại Lào và thiết lập đường mòn
Hồ Chí Minh vận chuyển nhân lực và võ khí vào để đánh chiếm miền Nam
vào 30.4.1975.

 Từ khi nhậm chức, Tổng Thống Johnson (dân Texas!) cùng ban tham mưu
luôn cứng rắn chủ chiến và không muốn Hoa Kỳ bị thua trận đầu tiên
trong nhiệm kỳ của mình. Thế lực Do Thái lúc đó không có ảnh hưởng
nhiều trong chánh phủ Tổng Thống Johnson để xoay đổi từ bên trong
chính sách can thiệp quân sự của Tổng Thống Johnson, cho nên họ phải
chờ đợi cơ hội thuận tiện để tấn công từ bên ngoài dư luận quần chúng.

Đó là lúc cuộc chiến Việt Nam bùng nổ lớn bắt đầu từ cuối năm 1964 trở
đi với các trận đánh dữ dội tại Bình Giã, Đồng Xoài, Đức Cơ... bắt đầu
gây tử thương nhiều quân nhân Mỹ. Những hình ảnh quan tài phủ quốc kỳ
kèm theo sau hình ảnh dã man và bất lợi ( thổi phồng vụ Mỹ Lai & vụ
Tướng Nguyễn Ngọc Loan! ) của chiến tranh được hệ thống truyền thông
Hoa Kỳ -đa số gốc Do Thái quản trị- khai thác triệt để ngày đêm tạo
một phong trào phản chiến lớn mạnh chưa từng thấy trên thế giới, không
những tại Hoa Kỳ mà còn lan rộng khắp nơi trên nhiều quốc gia khác .

Tướng độc nhởn Moshe Dayan -Bộ trưởng Quốc phòng của Do Thái- đột ngột
tự qua Việt Nam 3 ngày (từ 25 tới 27 tháng 7 năm 1966) và cho báo chí
chụp bức hình biểu diễn đang đi hành quân với lực lượng Hải Quân Mỹ.
Sau chuyến "hành quân" chớp nhoáng đó, Tướng độc nhởn Moshe Dayan viết
ngay đề nghị Mỹ nên rút quân ra khỏi Việt Nam vì không thể thắng cuộc
chiến này được ( rất là vô lý vì thực sự hiện diện xem xét chiến
trường VN chỉ có 1 ngày , mà dám đưa ngay đề nghị khủng khiếp như vậy
! ) . Dĩ nhiên lời đề nghị chủ bại này càng được thổi phồng bởi phong
trào phản chiến và làm mất uy tín Tổng Thống Johnson. Tiếc thay sau
này và mới năm ngoái đây, vẫn còn có những ký giả và bình luận gia
Việt Nam ca ngợi những phân tích và đề nghị của ông tướng một mắt này,
mà không hiểu đó chính là một trong những thủ phạm đã góp phần "khai
tử" miền Nam!



Phong trào phản chiến càng lên cao và đã khiến Tổng Thống Johnson vào
tháng 3 năm 1968 phải quyết định không ra tái ứng cử. Sự xáo trộn
tranh chấp kịch liệt trong đảng Dân Chủ đã tạo cơ hội hiếm có để cho
ứng cử viên của đảng Cộng Hòa nắm chắc sự thắng cử. Vì vậy thế lực Do
Thái đã gài được Kissinger từ năm 1957 làm cố vấn cho Nelson A.
Rockefeller (Thống đốc New York) đang vận động ra tranh cử làm ứng cử
viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Nhưng không ngờ Nixon thành công
hơn và cuối cùng thăng cử làm Tổng Thống. Thấy vậy, Kissinger bèn trở
cờ đầu quân theo Nixon và được trọng dụng làm Cố vấn An ninh.

 Thế lực Do Thái còn đưa được thêm nhân sự gốc Do Thái vào trong guồng
máy cầm quyền Mỹ. Đáng kể nhứt là Bộ trưởng Quốc phòng James
Schlesinger, Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann (1925 - 1999)...
Với những chức vụ then chốt này, họ đã thành công bày mưu cho Nixon bỏ
rơi miền Nam. Bắt đầu với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau
biến cố Tết Mậu Thân 1968 để từng bước giảm con số lính Mỹ tử vong và
bớt dần sự hiện diện của Hoa Kỳ tại miền Nam.

 Đến năm 1971, Kissinger bí mật qua Trung Hoa tìm cách tái bang giao
với chính quyền Bắc Kinh và đưa đến thỏa hiệp Thượng Hải 1972 giữa Mao
Trạch Đông và Nixon. Trên bề mặt, thỏa hiệp này chỉ công nhận một nước
Trung Hoa cho thấy Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan trên chính trường thế giới,
nhưng bên trong thực tế Kissinger nhằm sửa soạn sự rút lui an toàn cho
quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam với sự bảo đảm của Trung Cộng.

Quả nhiên, chỉ sau đó chưa đầy một năm, Kissinger đã dùng đủ mọi mánh
khóe, kể cả đe dọa tánh mạng các cấp lãnh đạo VNCH, thành công trong
việc ép buộc VNCH ký kết Hiệp Định Paris vào ngày 27.1.1973 để quân
đội Hoa Kỳ được an toàn rời khỏi miền Nam. Phía dư luận báo chí quốc
tế đã sớm thấy rõ âm mưu của Kissinger và đã ví bản hiệp định này
giống như tờ khai tử cho miền Nam Việt Nam.

Chính ngay Kissinger cũng đã tiết lộ bề trái của bản hiệp định cho Cố
vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann của T.T Nixon như sau:

"Tôi nghĩ rằng nếu họ (chánh phủ VNCH) may mắn thì được 1 năm rưỡi mới
mất".Tương tự , Kissinger đã trấn an T.T Nixon là:

“ Hoa Kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện
trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì
lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng ”.

 Bởi vậy thảm họa 30.4.1975 xảy ra là điều tất nhiên đúng như tính
toán dự trù của Kissinger và thế lực Do Thái.

Chỉ sau Hiệp Định Paris khoảng 9 tháng, cuộc chiến Jom Kippur vào ngày
6.10.1973 giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập láng giềng xảy ra. Lần
đầu tiên trong lịch sử tái lập quốc, Do Thái bị thua trận và mất một
số lớn phần đất chiếm đóng trước đây. Đáng lẽ Do Thái còn có thể bị
thua nặng nề hơn nữa, nhưng giờ chót nhờ có Kissinger thuyết phục được
Nixon nỗ lực can thiệp giúp Do Thái nên tình thế không còn bi đát
nhiều. Tuy nhiên, sau đó Tướng độc nhỡn Moshe Dayan phải từ chức Bộ
trưởng Quốc phòng vì chịu trách nhiệm bị thua trận.



4) Kết luận

Biến cố thua trận lần đầu tiên Jom Kippur năm 1973 cho thấy thế lực Do
Thái nhìn rất xa và rất có lý với nỗi lo sợ Hoa Kỳ vì bị sa lầy ở
chiến trường Việt Nam nên không còn có thể chuyên tâm giúp cho Do Thái
thắng trận như trước đây. Cho nên không gì ngạc nhiên khi thế lực Do
Thái phải vận dụng toàn diện từ trong lẫn ngoài để thúc đẩy và buộc
giới lãnh đạo Hoa Kỳ phải bỏ rơi miền Nam.

 Bí ẩn về lý do và động lực thúc đẩy Hoa Kỳ phải rút quân bỏ rơi miến
Nam được che dấu tinh vi không đưa ra dư luận nổi , bởi vì phần lớn hệ
thống truyền thống báo chí quan trọng nằm trong tay thế lực Do Thái
hoặc bị họ ảnh hưởng kiểm soát không cho phép làm hoặc sợ bị mang
tiếng bài Do Thái ( Anti-Semitism ) . Cho nên đến 35 năm sau dư luận
vẫn còn bị xí gạt.

 Điển hình , về phía dư luận ngoại quốc vẫn còn có những học giả ( thí
dụ : Tiến sĩ Stephen Randolph trong Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn
Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington
D.C. vào ngày 9.4.2010 ) lầm lẫn hoặc cố tình cho rằng Hoa Kỳ vào năm
1972 muốn tái lập bang giao với Trung Cộng nên phải rút quân ra khỏi
miền Nam ( chịu thua ! ) vì đang câu con cá to hơn ( “has bigger fish
to fry” ) . Thực tế Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ rơi miền Nam từ khi
Kssinger bước vào Tòa Bạch Ốc năm 1969 với gia tăng Việt Nam Hóa Chiến
Tranh .

Về phía Cộng Sản Bắc Việt , ngoại trừ lợi thế sẵn có của đường lối độc
tài cuồng tín trong chiến tranh dám vô nhân đạo dùng chiến thuật biển
người hy sinh " nướng quân" hàng loạt trên chiến trường ( theo nhận
xét của Tướng Westmoreland ! ) , họ không ngờ có được sự giúp đỡ hữu
hiệu của thế lực Do Thái tạo ra phong trào phản chiến đưa tới tình
trạng " Đồng Minh tháo chạy " ( từ ngữ theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đức !)
bỏ rơi VNCH . Thực tế , nếu không có sự phản bội của thế lực Do Thái
qua sự nắm quyền của ê kíp Kissinger thì chưa chắc gì Cộng Sản Bắc
Việt sớm thắng trận . Như vậy miền Nam chỉ cần cầm cự được vài năm cho
đến khi Tổng Thống Reagan nắm quyền và với tài lãnh đạo xuất sắc cương
quyết nổi tiếng của ông này chắc chắn miền Nam sẽ được yểm trợ đầy đủ
( đã xảy ra như vậy tại Nam Mỹ và A Phú Hản ! ) để không thể dể dàng
rơi vào tay cộng sản như đã xảy ra trong ngày 30.4.1975.

 Đa số người Việt chúng ta đều có tâm tình thiện cảm với dân tộc Do
Thái ( một phần bị ảnh hưởng qua tác phẩm lừng danh " Về miền đất hứa
/ Exodus " của tác giả Leon Uris ) vì ngưỡng mộ tinh thần đoàn kết và
chiến đấu dũng cảm của họ sau 2000 năm lưu vong đã thành công trở về
tái dựng lại quốc gia Do Thái nhỏ bé bất chấp trước mọi đe dọa của
Khối Ả Rập khổng lồ. Cũng trong cảm tình nồng nàn đó , Học giả Nguyễn
Hiến Lê vào năm 1968 mang sức ra viết tác phẩm " Bài học Israel ( Do
Thái ) " . Nhưng thực tế chính trị cho thấy tham vọng thủ đoạn của Do
Thái sau khi tái lập quốc , nên chính ông đã không ngần ngại lên tiếng
chỉ trích nặng nề. Đó cũng là tâm trạng của chúng tôi khi biết qua
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận khám phá ra mưu sâu
của thế lực Do Thái khiến xảy ra thảm họa 30.4.1975 cho quê hương Việt
Nam và dẩn tới hiểm họa mất nước vào tay Trung Cộng.

 Chúng tôi tin rằng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận
đã đi bước tiên phong đầu tiên tiết lộ những bí ẩn về thảm họa
30.4.1975 và trong tương lai sẽ được giới truyền thông báo chí chú tâm
nghiên cứu khai triển tích cực để lịch sử Việt Nam và thế giới mai sau
không còn bị sai lầm nữa. Mong thay !

Phạm Trần Hoàng Việt


 Nguồn:
http://tandaiviet.org/v1/2014/05/01/bi-an-30-4-1975-tai-sao-hoa-ky-bo-roi-viet-nam-pham-tran-hoang-viet/

Kissinger Xác Nhận Lý Do Thua Cuộc tại VN




Kissinger Xác Nhận “Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CSVN Chứ Không Do VNCH”

Sau hơn ba mươi bảy năm VNCH bị sụp đổ tính từ ngày 30-4-1975,nhưng tới nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc khi viết về cuộc chiến trên,vẫn cứ dựa vào các tài liệu tuyên truyền của cộng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi lúc thật hàm hồ bừa bãi. Chính những cuốn sách này, đã khiến cho ai khi đọc tới cũng đều có cái cảm tưởng là “ Những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó toàn ngu xuẩn hay điên rồ “, nên mới bị sa lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã . Riêng đối với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường Đông Dương để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời hứa “ bảo đảm quyền sống tự do của đồng bào Nam VN, Lào, Cambốt “. vẫn cứ phải loay hoay giữa “ tự ái và lương tâm “ khi muốn giải đáp trước công luận, lý do tại sao “ Một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và ngay cả ngày nay “, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cộng sản Bắc Việt? cho dù đối phương có được Nga, Tàu viện trợ và chống lưng.
Ngày nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận rõ phần nào giải đáp trên, khi đã biết rõ thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975). Tất cả từ đầu cho tới cuối, hoàn toàn“không ăn nhập gì tới lòng ái quốc, yêu nước thương dân “, mà báo chí Tây Phương thường gán ghép để có cớ ca tụng Hồ Chí Minh và đảng VC trong suốt cuộc chiến, vì họ bị tuyên truyền một chiều. Nay sự thật đã bị phanh phui, gây chiến tại Ðông Dương lần thứ 2 (1946-1975), thật sự “ là không cần thiết lúc đó “.
Vì đối với Liên Xô thời đó, gây chiến “lại là kế hoạch nô lệ hoá toàn cầu của cộng sản đệ tam quốc tế “. Ðiều này ngày nay cũng đã được nhiều cán bộ cao cấp của VC như Trần Bạch Ðằng, Võ Văn Kiệt.. xác nhận. Còn hậu cứ lớn không phải tại Hà Nội, mà ở tận Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, được Hồ Chí Minh cùng đồng đảng mang về bành trướng khắp nước. Sứ mạng của Hồ đã hoàn thành một phần, ít ra là đã nhuộm đỏ được ba nước Việt-Lào-Cao Mên trên bán đảo Ðông Dương. Nhưng chiến thắng không phải do quân sự mang tới, mà nhờ vào “ sự hèn nhát thụ động, của tập thể quần chúng trong vùng “, vì sợ sự khủng bố tàn độc của chủ nghĩa cộng sản nên cúi đầu tùng phục, để được yên ổn sống, dù là kiếp sống nô lệ hèn thừa bên lề đường như hiện tại trong thiên đường xã nghĩa VN.
Do đó, hầu hết đã phó mặc vận mệnh của đất nước, của chính bản thân và gia đình mình cho ai muốn làm lãnh tụ cũng được, coi đó như là chuyện không có liên can gì tới họ. Tóm lại “Chiến tranh VN vừa qua “ là một cuộc chiến vô cùng phức tạp, giống như Pháp năm 1954, người Mỹ đã thua cộng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và tàn nhẫn bất công ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường Ðông Dương. Cũng từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ ‘ No more Việt Nam ‘ như một thứ mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cộng sản quốc tế.
Từ đó người Mỹ mới thôi cúi mặt và bắt đầu phục hồi danh dự cho những chiến binh Hoa Kỳ, đã tham chiến tại VN từ 1955-1975 và gọi đây là một trong những cuộc chiến chính nghĩa vĩ đại nhất, mà nhân dân Hoa Kỳ đã thực hiện được kể từ ngày lập quốc tới nay. Ðối với VNCH dù người lính miền Nam đã hy sinh tột đỉnh nhưng cũng chỉ giữ được nửa mảnh đất quê hương từ Bến Hải vào tới Cà Mâu, vỏn vẹn chỉ có hai mươi năm trường kỳ máu lệ.Tất cả “ không phải vì QLVNCH không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ VNCH không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain từng tuyên bố trên báo chí..” mà là NƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU VN.
Nói đúng hơn, chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cộng sản, đã sắp xếp sẵn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Nhiều nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẵn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gỡ được gông cùm nô lệ cộng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần lớn khối cộng sản đệ tam quốc tế tan rã.
Tháng 7-1954, Pháp thua trận Ðiện Biên Phủ đưa tới thỏa hiệp Genève chia hai đất nước VN, giống như tình trạng của Ðức và Cao Ly năm 1945. Theo nhận xét của GS người Mỹ Hans Morgenthau, thì đây là trò che đậy sự bất đồng, cũng là sự phân chia sẵn ranh giới chính trị, quân sự giữa khối cộng sản và Tây Phương, sau khi kết thúc đệ nhị thế chiến. Tại Châu Âu, từ năm 1947 Liên Xô xé bỏ cam kết , mặc sức tung hoành, dùng quân sự lần hồi cưỡng chiếm các nước quanh vùng, dựng khối Ðông Âu, cô lập trong bức màn sắt .
Tây Bá Linh và hai nước đồng minh của Mỹ lúc đó là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cũng bị nguy khốn, sắp rơi vào tay cộng sản. Ðể đối phó với tình trạng trên, Tổng Thống Mỹ Truman buộc lòng phải ban hành chiến lược ‘ Ngăn Chặn’, đồng thời khai sinh chương trình ‘ Marshall’ , viện trợ giúp cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế, quân sự đã bị thế chiến tàn phá. Song song Mỹ và các nước trên thành lập Tổ chức Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, nhằm liên kết quân sự, để bảo vệ lẫn nhau và chống lại sự xâm lăng của Liên Xô và khối cộng sản quốc tế.
Nói chung những nước nào được Mỹ khoanh vùng, thì được gọi là Ðồng Minh và tận tình bảo vệ như Cao Ly và Ðài Loan ở Viễn Ðông. Nhưng dù chiến tranh có xảy ra dưới một hình thức nào chăng nửa, kể cả cuộc chiến thế giới tại bán đảo Triều Tiên năm 1950, thì chủ trương của nước Mỹ qua tuyên bố của Tổng Thống Truman, chỉ để‘ tái lập hòa bình và biên giới sẵn có đã được qui định từ trước’. Ðây cũng là chiến lược của Mỹ khi tham chiến tại VN từ 1960-1975, qua nhiều đời tổng thống của lưỡng đảng, chỉ nhằm mục đích “ ngăn chận làn sóng đỏ đừng lấn qua ranh giới đã phân chia sẵn “, chứ không phải tới để giúp cho VN “ giải phóng khỏi ách nô lệ cộng sản “.Vì vậy cuối cùng để hoàn thành chiến lược, cần phải thương thuyết hòa bình, chứ không phải đánh nhau để kết thúc chiến tranh tại đó, khi người Mỹ đã đạt được chiến lược toàn cầu, có lợi cho quyền lợi của nước Mỹ.
Ðiều bất hạnh nhất của dân tộc VN mà bất cứ ai cũng nhận thấy, là đã có chung biên giới với nước Tàu. Ðã vậy còn bị lọt vào quỷ đạo của người Mỹ, khi Hoa Lục và Bắc Việt bị nhuộm đỏ . Nên vừa nhậm chức Tổng Thống Mỹ, Eisenhower đã tuyên bố không để mất Ðông Dương vì đây là một trong những quân bài Domino toàn vùng Ðông Nam Á, mà VN là tiền đồn quan trọng nhất. Còn John Kennedy, từ lúc còn là thượng nghị sĩ vào năm 1956 cũng đã coi VN rất quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ, qua các yếu tố địa dư chính trị. Vì vậy khi đắc cử Tổng Thống, Ông đã chọn Miền Nam VN làm một thí điểm tại Châu Á, để thực thi nền dân chủ tự do chống lại chủ nghĩa độc tài khủng bố cộng sản.
Ðây cũng là một cuộc trắc nghiệm đầu tiên sau hai cuộc thế chiến vừa qua, để đo lường về ý thức trách nhiệm cùng bổn phận của siêu cường Mỹ đứng đầu khối tự do.. chống lại chủ nghĩa cộng sản. Nhờ vậy ngày nay người ta mới có được những kết luận rất mẫu mực, về cái gọi là “chính nghĩa mập mờ của người Mỹ tại chiến trường VN “, nói là để giúp dân tộc này chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt. Tất cả chỉ là “ một chiến lược què quặt bất nhất “, do một mặt “ thì sợ dư luận của quần chúng Mỹ phản đối bị mất phiếu..”, mặt khác” cứ ham muốn đạt nhanh chiến thắng tại chiến trường “ nhưng lại không cho phép phe mình tấn công tiêu diệt địch quân, với lý do “ sợ đụng độ với Trung Cộng“. Ngoài ra các vị Tổng Thống có liên quan tới chiến tranh VN như J.Kennedy, Johnson, Nixon và Ford đều chỉ xử dụng những phương tiện nhỏ để đòi đạt chiến thắng lớn, nên cuối cùng phải bị sa lầy về mặt đạo đức, làm cho nước Mỹ bị thế giới cười chê về thủ đoạn con buôn chính trị, từ sau tháng 5-1975 tới nay vẫn chưa lấy lại được uy tín cũ đã đánh mất tại VN.
Nhưng dù tại chiến trường VN trước năm 1975, Hoa Kỳ không hề bị sa lầy vẫn phải đóng kịch tháo chạy vì mục đích nối kết với Trung Cộng, phá vỡ thế liên hoàn Nga-Hoa đã hoàn thành từ 1972..
1. Hoa Kỳ Không Bao Giờ Sa Lầy Tại Nam VN
Sau khi rời khỏi chính trường năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng VNCH cho khối cộng sản đệ tam quốc tế, đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như : Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) và Bí Lục Kissinger.. đã hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng, Chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị-Bình Long và Kon Tum, Bình Ðịnh của VNCH.
Cũng nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình đã bán đứng đồng minh bạn bè cho kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược, kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô. Theo Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí mật của Kissinger tại Bắc Kinh , khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo để tặng Trung Cộng.
Sau đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Hoàng Hoa nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô để chuyển về Tàu. Tuy vậy để che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình chống nhau tại bàn hội nghị. Như trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lần để gặp cả Mao-Chu và Trung Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo quân sự, dọc theo biên giới Nga-Hoa để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô.
Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cử giữ chức trưởng trạm tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ. Tháng 4-1975 theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G.Ford đã viện trợ cho Trung Cộng rất nhiều quân trang dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ khả tín của người Mỹ trong lúc cùng hợp tác đồng minh, để từ đó chúng ta mới nhận diện rõ ràng “ về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN “, mà các sử gia trong và ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.
Ðọc lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, tổng thống hèn kém như Carter hoặc cứng rắn cỡ Reagan, thì ưu tiên số 1 của chính phủ cũng vẫn là làm sao cho dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước, để đảng nọ đảng kia mới còn cơ hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nữa, mới cảm thấy bớt uất nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 của các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí. Rồi đang lúc VNCH sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.. thì Tổng Thống Mỹ là Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973 “ tháo chạy khỏi VN “, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cộng sản đệ tam quốc tế” cưỡng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975”.
Ngày nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật ‘ Quyền tự do tư liệu và thông tin’, nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên quan tới cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ, từ Truman cho tới Carter.. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mạng của VN , phần lớn là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong quân ngũ hay trốn quân dịch như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này.
Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép xử dụng hết khả năng chiến đấu, nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến trường nào, rất được thế giới nể sợ. Còn một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trạng dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhãn đổi hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho Bộ đội Cộng Sản có phương tiện dồi dào , bắn giết chẳng những QLVNCH mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường.
Nói chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa bành trướng sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi. Ðó là chân lý của nền chính trị con buôn kiểu tư bản Mỹ, vừa la làng xúi giục cũng như viện trợ để đồng minh chống cộng. Rồi cũng Mỹ lại rất tích cực buôn bán đủ thứ kể cả quân dụng vũ khí tối mật quốc phòng với các nước cộng sản trên.. như hiện tại cuộc giao dịch giữa Mỹ và hai nước Trung Cộng-Ðài Loan, ai cũng thấy. Ðây cũng là một chứng minh thực tế, để cho bất cứ ai còn đang mang ảo tưởng vọng ngoại, trong công cuộc quang phục đất nước khỏi gông cùm cộng sản, xin chớ có hoài công đợi chờ . Vì con đường giải thể chế độ VC hiện nay chỉ có toàn dân VN phải chịu lăn xả hy sinh đổ máu như người Miến, người Tạng..thì mới hy vọng tháo gỡ được cùm gông, vì chính họ trong quá khứ đã tự mình mang vào cổ ách nô lệ cộng sản.
2. Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CS Bắc Việt, Chứ Không Phải Tại VNCH
Riêng về câu hỏi tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm , lại để cho 55.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương ? cuối cùng tháo chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích‘ cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẻo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng. Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ ’.
Ðây cũng là kết quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng Thống J.Kennedy từ năm 1961 ‘ Nếu Hoa Kỳ tới VN với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm lăng của cộng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng‘.Nhưng tiếc thay đất Bắc nơi phái sinh ra cuộc chiến VN, lại là vùng đất bảo đảm an toàn nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho VC.. Ðã vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt, tại lãnh thổ Lào và Kampuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích trữ lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ VNCH.. Chính cựu Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu nảo của quân Bắc Việt tại Hà Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẫn nộ, vì nhận được lệnh đánh nhau với VC phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi các luật lệ .
Có thể dùng thời điểm Tổng Thống Mỹ Eisenhower gởi thư thông báo cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm vào tháng 10-1954 với lời hứa giúp VNCH trở thành một quốc gia mạnh, trường tồn, có khả năng chống lại mưu toan xâm lăng của Bắc Việt.. như là một cột mốc quan trong về sự nhập cuộc của Hoa Kỳ tại VN. Năm 1961 lúc Tổng Thống J.Kennedy nhậm chức, quan điểm của nước Mỹ vẫn không thay đổi về việc Bắc Việt đang xâm lăng VNCH, qua hình thức lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.. Tuy nhiên trong thành phần chính phủ Mỹ lúc đó đã có nhiều khuynh hướng, như thay thế Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay tăng cường viện trợ, quân sự kể cả gởi quân tới giúp VNCH chiến đấu chống lại sự xâm lăng của Hà Nội. Sự tự tin hiểu biết về tình hình VN của các tổng thống Mỹ, sau này được các nhà báo Norman Podhoretz, Theodore H.White.. mai mỉa là không nhũn nhặn mà cũng chẳng khôn ngoan chút nào, khi thật sự Hoa Thịnh Ðốn lúc đó không hiểu biết cho mấy về cái chiến trường VN nhỏ bé xa xôi tận miền Viễn Ðông, thế mà dám đề ra phương thức, chiến lược tràng giang, để giải quyết tình hình chính trị, xã hội, quân sự, kinh tế của đất nước ấy.
Ðiều này mãi tới năm 1981 mới thấy một sĩ quan cao cấp Mỹ nêu lên trong tác phẩm của mình ‘ chiến tranh tại VN là chiến tranh du kích, đáng lẽ ngay khi nhập cuộc, quân đội Mỹ phải hiểu rõ thực chất của cuộc chiến, để có chiến thuật chống khuynh đảo, diệt du kích, mà quân đội của các nước khác đều được huấn luyện học hỏi, trước khi nhập trận’.Tóm lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cộng sản dùng chiêu bài ‘ chiến tranh giải phóng‘, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờ ơ không ngó tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN.
Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự kiện cộng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá chính phủ dữ dội, còn hơn VC thứ thiệt ở VN cũng chưa thấy hoạt động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ. Ðây là một nghịch lý nổi bật và mai mỉa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN. Ðó là sự kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), đã công khai đứng hẳn về phía Hà Nội, cổ võ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, lên đài phát thanh truyền hình chửi bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô Hồ Chí Minh.
Khi than rằng ‘ Chúng ta đã đánh bại chính ta ‘, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch, nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng VC bằng chính trị, một chiến lược giá rẻ,mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặt này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cộng sản quốc tế. Năm 1967 Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghĩ tới nước Mỹ sẽ leo thang chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài . Ông ta cũng giống như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không muốn VNCH phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng.
Nhưng cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ bắc vào nam và sự khuynh đảo chính trị tại VNCH. Khi Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissinger, đang đi đêm để nhun nhén sự nối kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vừa phản lại lời hứa ‘ rút quân’ khi ứng cử, vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ VC cưỡng chiếm miền Nam. Ðó là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam VN, cho VNCH tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ’
.
Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao cấp của Chính PhủVNCH như Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã.. ta mới biết được gánh nặng của các nhà lãnh đạo VNCH suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương.. tất cả đều bị Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực VN phải thi hành theo đường hướng của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973. Ngoài ra những bức thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT .Nguyễn Văn Thiệu, với sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là ‘ thực chất của sự mưu tìm hòa bình trong danh dự ’ và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật ‘ Nixon-Kissinger’,trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.
Không được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ sát TT hợp pháp của VNCH là Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam thiếu lãnh đạo. TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam. Nói là ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ‘ nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang dụng như lời hứa, khiến cho QLVNCH lâm vào tình trạng kiệt quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ vì không có phương tiện để phòng thủ.
Rồi trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưỡng chiếm VNCH, thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng, qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của QLVNCH lúc đó .
Cuối cùng từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho QLVNCH là không chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ.
Nhưng giấy làm sao gọí được lửa và chắc là bị lương tâm cắn rứt dầy vò chịu không nổi, nên cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã tự thú “Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải VNCH“.
Lời phát biểu trên của Kissinger, tuy quá muộn màng vì thời gian dài hơn 1/3 thế kỷ nhưng có còn hơn không, vì ít ra ông cũng còn đủ can đảm đứng ra gián tiếp thay mặt cho nước Mỹ để trả lại sự công bằng và danh dự cho QLVNCH.
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Tư Đen Quốc Hận 2012